Các bài suy niệm
Chúa Nhật 4 PHỤC SINH (Năm A)
CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH
Cầu cho ơn thiên triệu Linh Mục và Tu sĩ
Lời Chúa: Cv 2,14a.36-41; 1Pr 20b-25; Ga 10,1-10
MỤC LỤC
1. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt
2. Đức Giêsu: Mục tử nhân lành và cửa chuồng chiên
7. Cửa chuồng chiên – ĐTGM. Ngô quang Kiệt
8. Nhân loại chỉ có một Đức Kitô
15. Tôi đến để chiên được sống
16. Suy niệm của nhóm Đồng Hành
CỬA CHUỒNG CHIÊN
"Kẻ nào ngang qua cửa mà vào, kẻ đó mới là người chăn chiên". Câu này phải dịch vậy v́ bản văn Hy lạp không có mạo từ trước chữ. "Người chăn chiên”, nhưng đúng hơn nên dịch: "là một người chăn chiên": v́ như thế mới thích hợp với hoàn cảnh thực tế của xứ Palestine, bởi có nhiều người chăn cùng nhốt chiên của ḿnh trong cùng một chuồng.
"Kẻ ấy gọi tên từng con". Bản văn Hy lạp viết: katonoma, mà có lẽ đôi khi người ta dịch quá sát chữ là "từng con bằng tên của nó". Thực ra, ngay cả thời bây giờ, mục tử xứ Palestine chỉ đặt tên cho những con chiên chính của đàn. Cha Jaussen có kể ra nhiều thí dụ điển h́nh trong cuốn Naplouse, tr. 305. Thành thử ở đây nói rằng mỗi con chiên có một tên riêng th́ hơi quá đáng. Một vài tác giả ưa dịch "Kat onomat” là từng con một" (BJ) hoặc là "riêng từng con" (Jouon). Dù chọn cách giải thích nào đi nữa, th́ ư tưởng chính vẫn là Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến chiều kích cá vị trong mối tương quan giữa Người với các môn đồ, ngược lại với kẻ mị dân chỉ đối xứ với người ta như những đám đông không tên tuổi.
"Bao nhiêu kẻ đă đến, thảy đều là trộm là cướp": Đây không có ư nói về các ngôn sứ của Cựu Ước, nhưng là về những người, trong xă hội Do thái cũng như trong thế giới lương dân, thường tự hào là kẻ mang lại cho con người sự hiểu biết về các thực tại thần linh và ơn cứu độ bằng các phương thế riêng của họ.
KẾT LUẬN
Giữa ḷng Israel cũng như giữa ḷng Giáo Hội, có hai hạng người: những kẻ thực sự thuộc về đấng chăn chiên, biết đáp lại tiếng gọi của một ḿnh Người, và những kẻ không hề lại v́ họ chẳng bao giờ thuộc về Đấng ấy.
Ư HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Thánh Gioan kể lại cho ta một ám dụ, một kiểu so sánh, điều họa hiếm trong Tin Mừng của ngài. Do đó có thể nghĩ rằng ngài muốn gán cho ẩn dụ này một tầm quan trọng đặc biệt. Dụ ngôn được nói cho người Biệt phái và muốn gởi đến họ một sứ điệp thiết yếu.
Biệt phái tự phụ ḿnh là người hướng dẫn kẻ khác nhân danh Thiên Chúa; họ rất ghen với Chúa Giêsu v́ Người được ḷng dân và làm họ mất uy tín. Thành thử giữa Chúa Giêsu và họ, có một sự tranh chấp ảnh hưởng. Chúa Giêsu sắp nói rơ cho họ biết họ đă ảnh hưởng ra sao và chính Người đă ảnh hưởng thế nào trên đàn chiên Israel.
2) Chúa Giêsu là cửa vào, Người không loại bỏ một ai khỏi ơn cứu rỗi. "Người đến để tất cả nhân loại có sự sống dồi dào", ngay cả những kẻ Biệt phái vốn từ khước Người. Khi xưng ḿnh là cửa vào, Chúa Giêsu không c̣n cách nào rơ hơn để xác quyết độc quyền của Người trong việc thông ban ơn cứu rỗi. Người khẳng định rằng người ta không thể tranh chấp với Người được, v́ Người là cửa cứu rỗi duy nhất mà tất cả phải chấp nhận đi qua, và không ai có đặc ân được miễn, ngay cả những kẻ xem ra được trao phó một chức quyền thiêng liêng trong cộng đoàn tín hữu.
3) Giáo huấn này rất quan trọng và khẩn yếu. Chúng ta có thật sự tin rằng không có một người hướng dẫn nào khác, một vị Thầy nào khác, một lối đi nào khác cho con người ngoài Chúa Kitô không? Có nhiều Kitô hữu, khi phải nói lên điều này hôm nay, đều cảm thấy hầu như lúng túng; họ có cảm tưởng rằng ḿnh tự gán cho ḿnh nhiều đặc ân và đặc quyền trên những người khác. V́ ước mong hiệp nhất thiếu sáng suốt, v́ khoan dung thiếu quân b́nh hoặc v́ lẫn lộn các giá trị nên họ cảm thấy hầu như hổ thẹn về ḷng tin của họ vào Chúa Giêsu Kitô. Thật vậy, người ta chẳng bảo rằng mọi tôn giáo đều có giá trị như nhau, mọi học thuyết và mọi Giáo Hội đều chính đáng miễn là ta thành thật đó sao? Nhưng khi xưng ḿnh là cửa duy nhất, Chúa Giêsu đă dẹp tan mọi lối biện luận hồ đồ này. Chẳng phải là tất cả mọi người không mang danh hiệu Kitô hữu cách chính thức đều bị ở ngoài chuồng chiên cả đâu nhưng, Chúa Giêsu muốn nói rằng ngay cả người ngoại giáo nào có thiện chí, người vô thần nào cố gắng sống ngay thẳng theo lương tâm, đều đă chỉ nhờ một ḿnh Chúa Kitô mà được như vậy. Thành ra những ai, thuộc về chuồng chiên của Chúa Kitô mà không ư thức rơ ràng, đều phải qua cửa vào là chính Người vậy.
4) "Chiên Người, Người gọi từng con một". Có nghĩa là Chúa biết mỗi một người cách đặc biệt. Người có thể biết như vậy v́ Người là Thiên Chúa. Đó chẳng phải là một sự kiện đánh động chúng ta cách mănh liệt đó sao?
I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1) Đức Giêsu, mục tử nhân lành.
Bài Phúc âm hôm nay nằm trong văn mạch của một cuộc luận chiến tiếp sau việc chữa lành người mù bẩm sinh vẫn ngồi ăn xin bên cửa đền thờ, (Phúc âm Chúa nhật thứ bốn mùa chay, năm A) những người biệt phái tự xưng là sáng mắt và tự nhận là những bậc linh sư trong dân, thực ra, ngày càng ch́m sâu trong sự mù quáng của ḿnh, trong khi đó, người mù được chữa lành, không ngừng được khai sáng đến độ dám tuyên xưng mầu nhiệm Đức Giêsu, nh́n nhận Ngài là "Con Người" và là "Đấng Thiên sai bị người do thái trục xuất khỏi hội đồng và được Đức Giêsu đón nhân, ông trở thành mẫu mực của người có niềm tin, điển h́nh của con chiên nhận ra Người mục tử để được dẫn về cùng Chúa Cha (X. Dufour, "Đọc Tin Mừng Gioan " Tập 2, Seuil, 1990, tr. 348)." Đức Giêsu kết luận” ta đến trần gian chỉ là để cho những kẻ không thấy được thấy là những kẻ thấy trở nên đui mù" Thế rồi, tác giả Tin Mừng chuyển thẳng sang dụ ngôn vị mục tử nhân lành, một h́nh ảnh quen thân trong Kinh Thánh. Thật vậy, trong suốt lịch sử Do thái, Thiên Chúa luôn tự giới thiệu như là vị Mục Tử của dân người, Đấng đă chọn lấy cho ḿnh những tôi tớ, cũng được gọi là “mục tử ", để trao cho họ trách nhiệm dẫn dắt dân Chúa theo người. Tiếc thay họ thường bất xứng với sứ vụ này và vậy các tiên tri đă loan báo một thời đại mà chính Thiên-Chúa, qua Đấng Thiên Sai, sẽ nắm quyền lănh đạo dân người.
Ở đây Đức Giêsu tự giới thiệu ḿnh là vị Mục Tử nhân lành, vị Mục Tử thiên sai, người gọi "tên từng con chiên một và "dẫn chúng đi ăn”! khác hẳn những tên trộm đạo đến trấn lột đoàn chiên hay những kẻ chăn thuê không bao giờ dám mạo hiểm v́ đoàn Chiên. Nên đặc biệt chú ư đến kiểu nói này v́ trong Thánh kinh, nó gợi lên: cuộc xuất hành đầu tiên, khi Chúa “dẫn đưa” Israel ra khỏi nhà nô lệ. (Ex 3.10 ; 6, 27; Lev. 19,36)
Lời cầu nguyện của Môsê, xin Chúa chọn người kế vị ḿnh "một người sẽ lănh đạo cộng đoàn,..sẽ đưa chúng ra đi và dẫn chúng trở về để chúng không trở thành những con chiên không người chăn giữ" (Nom. 27, 17)
Cuộc xuất hành mới là quyết định được các tiên loan báo “ta sẽ đưa đoàn chiên ta ra khỏi muôn dân, sẽ qui tụ chúng lại từ muôn nước và đưa chúng về cố hương" (Ez.34,l3)
Thành toàn những lời tiên tri trong Cựu Ước, Đức Giêsu là Mô-sê mới đến qui tụ đoàn dân mới của Thiên- Chúa và "dẫn đầu ","đưa họ ra đi" trong cuộc xuất hành mới, trên đường về miền đất hứa.
Đức Giêsu dùng dụ ngôn này để nói vớí người “biệt phái" là những người, theo tác giả Tin Mừng, không hiểu được điều Ngài muốn nói với họ” khiến Ngài phải đề cập đến một chủ đề mới, đó là cửa chuồng chiên.
2) Đức Giêsu là cửa chuồng chiên
"Cửa chuồng chiên" khi nói thế, Đức Giêsu muốn minh định ḿnh là lối vào duy nhất để gặp được đoàn chiên. “để đến với đoàn chiên, h́nh ảnh của dân Thiên-Chúa, phải đi qua Đức Giêsu. Ngoài ngài ra, không c̣n cách nào để đến với dân Chúa và với sự sống. " A. Marchadour, "Tin Mừng theo thánh Gioan", Centturion, 1992,p.143).
“Cửa chuồng chiên" khi nói thế, Đức Giêsu minh ảnh ḿnh là cửa mà mọi con chiên phải đi qua nếu muốn được tự do và đạt được sự sống viên măn. A. Machadour viết tiếp ngoài Ngài ra, không ai có thế tự xưng là người mang ơn cứu độ cho nhân loại được. Đức Giêsu là cửa v́ qua Ngài, con người đạt được ơn cứu độ và được sống, khung cảnh đền thờ cho phép ta lấy đơn vị (cửa) để cắt nghĩa tổng thể (đền thờ) Đức Giêsu tự giới thiệu ḿnh như đền thờ mới trong đó con người t́m được tự do và sự sống".
II. BÀI ĐỌC THÊM
1) Chúa là mục tử của tôi. (H. Denis, trong "100 từ ngữ để nói lên niềm tin". Desclée de Brouwer,1993, p.149-l50)
Chúa Mục tử, Chúa là Đấng mà với Ngài, trong cảnh nghèo khó cùng cực, người ta có thể cảm nghiệm và hiểu biết được sự phong phú của Thiên Chúa, đây chính là niềm ủi an mới của mùa phục sinh này, các bạn đă là những con chiên lạc, nhưng giữa các bạn, Con Chiên không t́ vết đă hiến ḿnh, và hóa thân thành mục tử, thành người chăn giữ mạng sống quí giá của các bạn.
Mục tử, một từ dân dă, một nghề gần như đă mai một c̣n chăng chỉ có những du khách lâu lâu gặp thấy những người chăn cừu vùng sơn cước. Tuy nhiên chúng ta c̣n nhạy cảm với h́nh ảnh của người mục tử với chiếc tù và đang tập họp đoàn chiên, hơn thế nữa, người ta c̣n xúc động khám phá ra tấm ḷng của Thiên Chúa, khi nh́n thấy người mục tử mệt lả vác con chiên lạc trên khi đưa trở về bầy.
Đức Giêsu chính là người muốn qui tụ về đàn chiên duy nhất của Ngài toàn cá nhân loại được thánh tẩy trong máu con Chiên, điều đó khiến ta khiêm tốn. Tôi muốn nói rằng Đức Giêsu không bao giờ quả quyết Ngài, chỉ là mục tử của các tín hữu, và chuồng chiên của Ngài chỉ gồm các Hội thánh công giáo. Trong Tin Mừng của Thánh Gioan. Ngài tự giới thiệu ḿnh như là Đấng đưa dẫn mọi người thiện chí về đồng cỏ xanh, là đấng mà mọi người đều có thể nhận ra tiếng Ngài.
Các linh mục hay các mục tử không thể trở thành sở hữu chủ của những người mà họ phục vụ được. V́ thế, từ mọi đồng cỏ, mọi tôn giáo, mọi nền văn hóa đều có thể hướng về trời cất tiếng ca: "Chúa là mục tử tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi”.
2) Loan báo những kỳ công Chúa đă thực hiện nơi ta và nhờ ta (Tài liệu của Uỷ ban khuyến khích ơn gọi toàn quốc) Cầu nguyện cho ơn kêu gọi, ngày thế giới cầu nguyện cho ơn kêu gọi ... những bản văn được đề nghị cho ngày này mời gọi ta vừa tiến bước, vừa đi theo con đường ḥa nhập vào một cộng đoàn thuộc về Đức Giêsu và mời gọi ta làm theo thánh ư Thiên Chúa, nghĩa là làm lành, sống trong t́nh yêu nồng nàn và thực sự của Đức Giêsu đối với thế giới bằng cách sống chiến đấu cho công bằng và qua đó biểu tỏ tất cả! niềm hi vọng trong chúng ta. Đức Kitô đă ban lời Ngài để nó thấm nhập, tăng trưởng, đâm rễ và triển nở trong đời sống chúng ta. Lời Chúa mở cửa, mời gọi đón nhận và nhận biết sự tùy thuộc vào Thiên Chúa t́nh yêu, Thiên Chúa của Đức Kitô Đấng biết rơ từng tên, từng người chúng ta. Ngài kêu gọi chúng ta, không phải để nhốt ta trong ṿng rào mênh mông, hầu ǵn giữ hay che chở chúng ta, nhưng như những con chiên mà Ngài kêu gọi, “Ngài đưa chúng ra ngoài" để nghe rơ tiếng Ngài hơn, và nhận ra con đường mà chính Ngài đă mượn, trên đó, Ngài dấn bước, ra đi và khơi dậy niềm tự do để người ta được sống và sống dồi dào.
Tất cả những điều này đều có thể thành toàn nhờ cầu nguyện, tiếp xúc thân mật với Đức Kitô, nhờ mối dây t́nh yêu thương hằng và liên tục giữa ḷng với ḷng, v́ thế cầu nguyện cho ơn gọi có nghĩa là cầu nguyện cho con người, chia sẻ cuộc sống của Thiên Chúa, trở nên những cộng đoàn, xây dựng những cộng đoàn Kitô hầu sống động và tích cực. C̣n về ơn gọi linh mục, tu sĩ, đừng mong những phép lạ, không phải chỉ cầu nguyện là có nhiều ơn gọi đâu… điều đó chỉ có được nếu chúng ta cầu nguyện trong chân lư, bằng cách xây dựng những cộng đoàn Kitô hữu thực sự, lúc bấy giờ, tự nhiên sẽ có những lời đáp trả. Nếu hôm nay, 5 triệu tín hữu Pháp tuyên xưng niềm tin vào Đức Kitô đă chết và phục sinh, th́ sẽ có 5 triệu "ơn gọi” v́ thế ngày nay, cần phải nói lên điều ḿnh sống, điều ḿnh tin, loan báo những kỳ công Thiên Chúa đă thực hiện nơi ta và qua ta.
I. Ư CHÍNH:
Qua dụ ngôn về "Cửa chuồng chiên" trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đă giới thiệu vai tṛ độc đáo của Người và phải qua Người mới được ơn cứu độ, v́ Người là Đấng ban sự sống và nuôi dưỡng nhân loại.
II. SUY NIỆM:
Để giúp hiểu ư nghĩa dụ ngôn này, chúng ta nên biết rằng:
- Cựu Ước đă báo trước Đấng Thiên sai sẽ đến như một mục tử Người sẽ chăn dắt (Mk 5, 3) " Ta sẽ cho chỗi dậy một mục tử duy nhất, Người sẽ chăn dắt chúng" (Ed 34, 23) .
- Trong Tân Ước, Chúa Giêsu đă áp dụng h́nh ảnh mục tử cho ḿnh . Ngài tự xưng là chủ chăn được sai đến với các chiên lạc của Israel (Mt 15,24 ; Lc 19,10). Riêng trong Tin Mừng thánh Gioan, bài giảng về người chủ chăn nhân lành đă mở đầu Giáo Hội để rồi sau này thánh Phêrô tiếp tục sứ mệnh chăn dắt đó (Ga 21,16).
1) “Thật, Ta bảo thật cùng các ngươi":
Đây là một kiểu nói mà thánh Gioan thường dùng, để nhấn mạnh tính xác thực của một điều ǵ đă có trước, thực vậy, dụ ngôn “cửa chuồng chiên" là nối tiếp câu chuyện người mù từ bẩm sinh được Chúa Giêsu chữa lành, là để minh chứng Chúa Giêsu là ánh sáng thế gian, v́ vậy phải qua Người mới được ơn cứu độ.
“Ai không qua cửa mà vào chuồng chiên ...":
+ Chuồng chiên là h́nh ảnh quen thuộc của đời sống dân Do thái du mục. Ở đây Chúa Giêsu nói đến Giáo Hội ở trần gian và nước Chúa ở trên trời, tức là nước siêu nhiên.
+ Cửa chuồng chiên: mỗi chuồng chiên chỉ có một cửa chính để chiên ra vào, ai muốn được vào Giáo Hội để hưởng Nước Trời là ơn cứu độ th́ phải qua duy một cửa chính mà thôi, cửa này chính là Chúa Kitô như Người đă tự nhận: “Ta là cửa chuồng chiên". Ở đây khi nói đến các mục tử giả hiệu, và theo toàn thể mạch văn, Chúa Giêsu có ư nhắm tới các người Biệt phái và Kư lục là những kẻ từ lâu đă tự đặt ḿnh làm thủ lănh và linh hướng của dân chúng mà không qua vị canh giữ tối cao, không lănh nhận từ Thiên Chúa một uỷ nhiệm nào để thi hành sứ mệnh mục tử, như bọn trộm cướp, họ đă chiếm đoạt đám tín hữu v́ háo danh và óc thống trị hơn là quan tâm đến thiện ích thiêng liêng của tín hữu .
2) "C̣n ai qua cửa mà vào là kẻ chăn chiên":
Ở đây có ư nói đến những mục tử chân chính vào cửa đàng hoàng v́ đă lănh sứ mệnh.
+ "Kẻ ấy sẽ được người giữ cửa mở cho ...":
Người mục tử chân chính là người đă được uỷ nhiệm chính thức. Ở đây Chúa Giêsu muốn nói đến chính sứ mệnh của Người, v́ Người chỉ đến theo lệnh và uỷ nhiệm thần linh mà Người đă nhận từ Chúa Cha khi chịu phép rửa (Ga 1, 31 -34).
+ "Và chiên nghe theo tiếng kẻ ấy ...":
Chỉ có chiên là những tín hữu đích thực, mới biết ngoan ngoăn nghe theo tiếng vị mục tử của ḿnh là Đức Giêsu, v́ "Phàm ai nghe và học nơi Cha th́ đến với Đức Giêsu bằng đức tin" (Ga 6, 45; 8,47).
+ "Kẻ ấy sẽ gọi đích danh từng con chiên"
Ở đây muốn nói đến những kẻ thực sự thuộc về chủ chăn và đáp theo tiếng Người gọi và chỉ theo một ḿnh Người, điều này được biểu lộ qua ơn gọi của các vị tông đồ ( Ga 1,35-49) như khi Chúa gọi Philippê "Hăy theo Ta" (1,43). Qua tiếng gọi đặc biệt này Người "dẫn ra" tức là kéo họ ra khỏi thế gian (Ga 15,19)
+ " Khi đă lùa chiên ḿnh ra ngoài ..."
Khi đă kéo họ ra khỏi thế gian, Người tiên phong dẫn họ tới đồng cỏ là Giáo Hội và tới Chúa Cha. Đặt trọn niềm tin tưởng vào Người, các con chiên "theo Người" "làm tông đồ Người” và họ biết tiếng Người: tức là đức tin cho họ một nhận thức thiêng liêng, nhờ đó họ phân biệt trong tiếng nói của vị mục tử, Chúa Giêsu, một âm vang trung thực của tiếng nói Cha trên trời, và biết rằng qua miệng của Chúa Giêsu, chính Chúa Cha đang nói (Ga 14,10) .
+ "Chúng sẽ không theo người lạ ...":
Chính sự nhận thức thiêng liêng này, tức là đức tin, khiến họ không làm môn đệ những kẻ chăn chiên xa ḷng, chẳng hề được Thiên Chúa uỷ nhiệm v́ không nhận ra nơi họ giọng nói của những kẻ này âm vang của lời Thiên Chúa, nên họ chạy chốn, họ chạy chốn v́ những kẻ chăn chiên giả này đến để mưu sát trộm cắp và tiêu diệt đàn chiên. Ở đây muốn ám chỉ đến những người lănh đạo dân Do Thái như các Biệt phái Luật sĩ đă gieo rắc tai hại cho dân v́ những gương xấu và lầm lạc của họ.
3) "Chúa Giêsu phán dụ ngôn này ..."
Những người Biệt phái mà dụ ngôn này nhắm tới không nhận ra được bài học Chúa Giêsu dậy họ: bởi v́ chiên lạ không nghe tiếng của mục tử chính danh "Các ngươi không tin v́ các ngươi không thuộc đàn chiên của Ta" (Ga 10, 26).
4) "Ta là cửa chuồng chiên":
V́ những người nghe không nhận thức được bài học dụ ngôn nên Chúa Giêsu nói thêm và Ngài giải thích bằng cách Ngài tự nhận ḿnh là cửa chuồng chiên để nêu lên chân lư phải tin nhận vào Ngài mới được cứu độ, v́ chỉ có Ngài là cửa duy nhất của chuồng chiên.
5) "Tất cả những kẻ đă đến trước ...":
+ "Đến trước" ở đây không có ư nhắm tới thời gian cho bằng nhắm tới thái độ của việc làm, b́nh thường th́ sáng sớm người chăn chiên đi thăm chuồng chiên, nếu có ai đến trước đó, nghĩa là khi c̣n ban đêm, th́ đích thực họ là kẻ trộm cướp, t́m những lúc tăm tối để là những việc ám muội.
+ Dùng kiểu nói "Những kẻ đến trước" ở đây Chúa Giêsu có ư nói đến các Tiên tri Cựu Ước v́ theo thời gian, họ đă xuất hiện trước Chúa Giêsu. Nhưng có thể Chúa nhắm những người Do thái hoặc dân ngoại tự phụ dùng sức ḿnh mà đem lại cho nhân loại sự hiểu biết về Thiên Chúa và ơn cứu độ. Nhưng cũng có thể Chúa nhắm tới những người Biệt phái (Mt 23, 1-36 ; 9,36; Mc 6,34) và các thủ lănh tôn giáo Israel đă gạt dân của họ xa con đường sống, tức là các Do thái đă tàn sát các Tiên tri, các Tiến sĩ thời Chúa Giêsu để ngăn chận không cho thế hệ của họ đáp lại lời mời gọi Nước Trời.
6) "Ta là cửa, ai qua Ta mà vào ...":
Chủ đề ‘cửa’ là một chủ đề rất phổ thông trong truyền thống Do thái (St 28,17; Tv 78,23; Mt 7,13-14).
+ Kiểu "Ta là cửa" ở đây Chúa Giêsu muốn nói đến tính cách của ơn cứu độ v́ Ngài nói "Ta là cửa" chứ không nói “Ta là cửa chuồng chiên" như ở trên.
+ Chữ "Cửa" ở đây muốn nói lên ư nghĩa như một lối dẫn đưa vào các thực tại Thiên Quốc. Khi mở th́ chữ "Cửa" diễn tả một thái độ mời gọi, đón nhận. Khi đóng, đối với bên trong th́ diễn tả một sự che chở bảo vệ, đối với bên ngoài th́ diễn tả sự từ chối, thanh lọc.
+ "Người ấy sẽ ra vào" ; "Ra vào" là kiểu nói Do thái có nghĩa là đi lại tự do.
Ở đây muốn nhấn mạnh sự cần thiết và quan trọng của việc phải tin vào Chúa Giêsu Kitô mới đem dân Chúa vào sự sống bằng cách cho họ tái sinh bởi nước và Thánh Thần (Ga 3,16-17)
Dân Chúa được cứu thoát nhờ Đức Giêsu giải phóng họ khỏi ách nô lệ của tội lỗi và ma quỷ, họ được vui hưởng tự do đích thực của con cái trong nhà Cha (Ga 8, 33-34). Cũng trong Chúa Kitô dân chúng t́m được thức ăn no thoả là bánh và Nước Hằng Sống, có sức dập tắt vĩnh viễn cơn đói khát thiêng liêng của con người (Ga 6,35; 4,14).
7) “Kẻ trộn có đến th́ chỉ đến để ăn trộm…”
+ Ở đây Chúa Giêsu có ư nhắm tới các Kư lục và Luật sĩ. Họ là những mục tử giả hiệu, dù không được Thiên Chúa uỷ nhiệm, họ vẫn tự cai trị dân Chúa v́ họ ưa t́m vinh quang và quyền lợi bản thân hơn là ưu tiên đến tiện ích cho dân Chúa (Mt 23,4 -7).
+ Họ sát hại và phá huỷ dân Chúa v́ những gương xấu của họ, như chính Chúa Giêsu đă tuyên bố với họ “khốn cho các ngươi, Kư lục và Biệt phái giả h́nh, v́ các ngươi khóa Nước Trời, chận người ta lại…” (Mt 23,3-13).
8) "C̣n Ta, Ta đến để chúng được sống ...":
Chúa Giêsu được sai đến để cứu chuộc dân Chúa và ban cho dân Chúa của nuôi là Bánh và Nước Hằng Sống.
* Cần lưu ư:
a) Từ Chúa Giêsu mục tử đến các tông đồ mục tử.
Sau khi về trời công việc chăn dắt đoàn chiên của Chúa vẫn được tiếp tục "Chúa là mục tử hằng hữu không bỏ rơi đoàn chiên Chúa, nhưng nhờ các tông đồ Chúa luôn che chở giữ ǵn, để đoàn chiên được hướng dẫn nhờ các vị lănh đạo Chúa đă đặt làm mục tử coi sóc đoàn chiên thay thế Con Chúa (Kinh tiền tụng lễ các Tông Đồ).
b) Ngày Chúa nhật IV Phục Sinh c̣n gọi là Chúa nhật Chúa Chiên Lành (Lư do là v́ các bài Tin Mừng đều trích từ Gioan 10, nội dung nói về Chúa Chiên Lành) được chọn làm Ngày Cầu Nguyện cho Ơn Thiên Triệu.
III) ÁP DỤNG:
* Áp dụng theo Tin Mừng:
Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn dậy chúng ta phải tin tưởng vào sự nuôi dưỡng che chở và giữ ǵn của vị mục tử tối cao là Chúa Giêsu Kitô, và đồng thời phải biết tuân phục sự hướng dẫn và chăm sóc của các vị lănh đạo Chúa đă đặt làm mục tử coi sóc đoàn chiên thay thế Con Chúa.
* Áp dụng thực hành:
Nghe Lời Chúa nói:
1) "Ai không qua cửa mà vào chuồng chiên": Chúa dạy chúng ta phải biết phân biệt những người chăn chiên "không qua cửa mà vào" tức là những người không được Giáo Hội chính thức uỷ nhiệm như những giáo sĩ giả, những giáo sĩ không tuân phục Giáo Hội, hoặc những vị phá giới, đồng thời cũng cần phân biệt những lư thuyết những ư thức hệ ngược với đường lối Chúa.
2) Vị mục tử đích thực là người được Giáo Hội chính thức bổ nhiệm đồng thời phải có tư cách như tận tâm chăm sóc yêu mến đoàn chiên, sẵn sàng hy sinh cho đoàn chiên và nhất là biết hướng dẫn đoàn chiên theo giáo huấn của Chúa.
3) "Ta là cửa chuồng chiên" Chúa đ̣i hỏi ta phải tin và sống theo Chúa Kitô mới được cứu độ. Chỉ có Chúa Kitô là con đường duy nhất dẫn ta vào sự sống đời đời.
4) Kẻ trộm có đến th́ chỉ đến để ăn trộm, để sát hại và phá huỷ. Những ai hướng dẫn ta, lôi kéo ta, cai trị ta mà không theo đường lối của Chúa, không thông hiệp với Giáo Hội, th́ đều là những kẻ nguy hại cho phần rỗi của ta, nên phải đề pḥng và canh chừng những người đó.
5) Hăy tin tưởng và phục tùng những người lănh đạo đă được Chúa uỷ thác trong Giáo Hội để chăm sóc đoàn chiên Chúa.
6) Cầu nguyện trong ngày Ơn Thiên Triệu.
+ Xin Chúa cho nhiều người quảng đại đi theo tiếng Chúa gọi.
+ Xin Chúa cho linh mục, tu sĩ trung thành với ơn gọi.
+ Xin Chúa hướng dẫn lớp trẻ về với ơn gọi.
Chủ chăn đi trước và đoàn chiên theo sau.
Một trong những việc người chủ chăn thường phải làm, đó là đi trước để t́m đường nẻo bảo đảm và an toàn cho đoàn chiên yên hàn theo sau.
Người chủ chăn cần nh́n xa trông rộng xem có thú dữ, trộm cắp gần kề hay không? Và nhất là phải để ư đến con đường ở trước mặt, v́ có những con đường sẽ dẫn tới vực thẳm nguy hiểm hay rừng rậm vướng chân, có những con đường sẽ dẫn tới ngơ cụt không lối ra. Người chủ chăn cần phải nghiên cứu kỹ xem con đường ḿnh sẽ đưa đoàn chiên đi qua đó có khúc quanh nào nguy hiểm, có hốc đá nào cheo leo, có cỏ dại nào cần nhổ.
Người chăn chiên ở Do Thái không dễ dàng như người chăn trâu chăn ḅ ở Việt Nam, v́ đất nước họ có quá nhiều sỏi đá và cát nóng. Nhất là vào mùa hè, người chủ chăn phải dành hết thời giờ ban ngày để phấn đấu kiếm của ăn cho đoàn chiên.
Từ đó chúng ta đi vào đời sống riêng tư. Có bao giờ chúng ta cảm nghiệm được sự dẫn dắt của Chúa, có bao giờ chúng ta nhận ra Chúa hằng đi trước mặt chúng ta hay không? Biết bao nhiêu biến cố đă xảy đến trong cuộc đời và bàn tay Chúa đă dẫn dắt chúng ta vượt qua một cách b́nh an mà ngày hôm nay chúng ta vẫn chưa hay biết.
Đă bao nhiêu lần chúng ta thất bại trắng tay mà rồi tới ngày hôm nay vẫn chưa phải chết đói. Biết bao nhiêu lần chúng ta gặp phải những cảnh lo âu, nhưng rồi lại được tai qua nạn khỏi. Chúng ta có biết rằng đó là bàn tay nhân từ của Chúa đă chăm sóc chúng ta hay không?
Xét ḿnh lại, chúng ta thấy ḿnh không xứng đáng để được hưởng những ơn huệ to lớn đó mà Chúa đă ban, và chỉ ban riêng cho chúng ta mà thôi.
Chúng ta hăy nghĩ đến trường hợp của vua Đavid. Từ khi c̣n là một cậu bé chăn chiên đến khi lên làm vua, đă phải đương đầu với biết bao nhiêu khó khăn. Một ḿnh tay không đánh nhau với sư tử, chiến đấu với Goliat, có lúc ông ở kề bên tử lộ nhưng Chúa kéo ông ra khỏi. Sau này nhớ lại ông mới thấy Chúa đă chăm sóc cho ông quá nhiều và ông đă viết lên thánh vịnh 23:
- Ngài dẫn dắt tôi qua những nẻo đường ngay chính.
Phải, Ngài muốn chúng ta làm những điều tốt lành. Nếu tuân theo, chúng ta sẽ không bao giờ bị lầm lạc và hối tiếc. Thế nhưng đôi khi v́ thiển cận, v́ những hào nhoáng bên ngoài, chúng ta không thấy được đường nẻo của Chúa, chúng ta chống đối Ngài và làm Ngài buồn ḷng.
Có những khi càng xa Chúa, Chúa càng để chúng ta bị thất bại cay đắng. Trong trường hợp ấy, người con Chúa phải biết nhận ra ḿnh đă dại dột đi theo ư riêng và phải sớm lo trở về cùng Chúa qua tâm t́nh ăn năn thống hối. C̣n nếu chúng ta sống công chính mà lại gặp phải buồn khổ, th́ hăy b́nh tĩnh v́ Thiên Chúa đang tinh luyện chúng ta, đang cần sự đóng góp nhỏ bé của chúng ta.
Hẳn rằng giờ đây trong chúng ta có những người đang bị ngọn sóng khổ đau vùi dập. Trước mắt là màu đen của tang chế, màu tím của bệnh tật. Không biết ngày mai sẽ ra sao? Nào cơm ăn áo mặc, nào tương lai sự nghiệp, nào con cái.
Xin hăy đặt trót niềm tin tưởng vào Chúa, Người chủ chăn tốt lành, Ngài sẽ lo liệu tất cả nếu chúng ta nương cậy nơi Ngài như một con chiên bé nhỏ. Chúa biết chúng ta không đủ sức đạp đổ những khó khăn, như vậy Chúa bảo chúng ta hăy đứng vào bày chiên của Ngài, để thấy được Ngài thực sự là chủ chăn đă hiến mạng sống v́ con chiên để nhờ đó con chiên được sống và sống dồi dào hơn.
Các Giám mục Brazil trong khóa họp thường niên tháng 11 năm 1995 lên tiếng báo động v́ sự ra đi đáng kể của tín hữu. Số tín hữu quy thuận các giáo phái Tin Lành gia tăng đáng ngại. Hàng giáo sĩ, tu sĩ nam nữ th́ hờ hững với bổn phận. Tín hữu ham vật chất hưởng thụ đă ngă vào ṿng tay tân tư bản, tân cường hào bá và tân địa chủ. Các giáo phái Tin Lành vung tiền lập xưởng, trả lương hậu hĩ và chỉ thu nhận những ai thuộc giáo phái của họ. Họ kỳ thị và lạnh lùng trả lời "không có việc" khi thấy cái mác "Công Giáo" trong đơn xin việc. Họ công khai hóa hứa hẹn cho việc làm nếu tự nguyện "gia nhập giáo phái chúng tôi".
Chiên bị bỏ rơi nên đi hoang, bị thú dữ ăn thịt và kẻ cướp dẫn đi là chuyện đương nhiên phải xảy ra. Có trách là trách các chủ chăn đă không màng đến sự an nguy của chiên. Chuồng th́ rách nát và tan hoang; cửa th́ hư hỏng và bỏ ngỏ; thức ăn th́ thiếu thốn và không hợp vệ sinh; sói chưa đến chủ chiên đă bỏ chạy. Với những điều kiện tồi tệ như thế, số phận của chiên thật thê thảm!.. Ư thức được vấn đề mất chiên mới là bước đầu. Bước quan trọng kế tiếp là duyệt xét và sửa sai vấn đề mục vụ, đời sống thiêng liêng, chương tŕnh huấn luyện và vào đời theo mô h́nh Đức Kitô là Chúa chiên.
Chuyện kể rằng "trong giấc mơ diễm phúc, Loan được song hành với Chúa bên bờ biển. Chân dẫm trên cát mịn và êm ái; mặt được làn gió nhè nhẹ ban mai vuốt ve, phổi uống từng ngụm khí trong lành. Đi được một quăng, Loan nh́n lại sau lưng, thấy những dấu chân của Chúa và Loan xếp thành từng đôi rất đều đặn, nên hớn hở thưa "Chúa coi ḱa, dấu chân của Chúa và của con sao mà khắn khít và đều quá". Chúa nh́n Loan mỉm cười. Cơn giông bỗng xuất hiện và thổi mạnh, sóng biển gào thét và đưa những đợt nước toé tung lên bờ. Loan rùng ḿnh khiếp sợ, nhưng Chúa vẫn b́nh tĩnh như không có chuyện ǵ. Nh́n lại phía sau, lạ quá! Loan không thấy hai dấu chân song hành nữa mà chỉ c̣n một nên thưa "Sao chỉ c̣n có một dấu chân thôi Chúa?" Chúa thân thương trả lời "Trước con vui vẻ và hạnh phúc. Ta để con bước theo Ta. Bây giờ con hoảng hốt và mất b́nh tĩnh nên Ta đă vác con trên vai. Dấu chân con thấy bây giờ là của Ta đó con ạ!"
Giấc mơ thần tiên này diễn tả t́nh phụ tử của Chúa qua h́nh ảnh Chúa Chiên Nhân Lành. Chúa chăm sóc, yêu thương và bảo vệ. Chúa thấy rơ t́nh trạng non yếu và bệnh hoạn, vững mạnh và trưởng thành của từng chiên. Chúa dẫn chiên đến bờ suối trong lành và vào đồng cỏ xanh tươi. Chúa xua đuổi sói dữ và hy sinh cứu chiên. Nếu không có cuộc khổ nạn, sự chết và phục sinh th́ h́nh ảnh Chúa chiên nhân lành vẫn là một giả tưởng. Nhưng với thánh giá, máu đổ, mộ trống và thân xác hiển vinh, Chúa chứng minh t́nh lư tưởng và tuyệt vời của kẻ dám "thí mạng v́ người yêu". Đây là dạng thức tuyệt đỉnh của t́nh yêu cao thượng mà hàng giáo phẩm, tu sĩ, và giáo dân phải ước mơ và thực hiện.
Chúng ta thường trách khi Chúa thinh lặng quá lâu trước cơn khổ và làm ngơ trước những bất công. Chúng ta quên rằng ơn Chúa vẫn đủ để chúng ta vác thánh giá, chịu đau khổ và theo Chúa. Chúng ta lại trách oan Chúa khi đang được yên lành ngồi trên vai Chúa dù chưa hoàn hồn, vẫn c̣n đau và đang khóc. Chúng ta cướp công Chúa khi được thành công và gặp an ủi. Chúng ta quá dại khờ v́ lời thánh không nghe, đường thánh không theo, lại tự chọn ngơ cụt, nẻo chết và nơi khổ đi vào. Rồi nhăn nhó chạy tội và đổ lỗi giống như đám trẻ thơ. Chúng bực bội v́ không được leo cây, xài dao và lái xe, nên tố cha mẹ lỗi thời. Khi lỡ trẹo gị, gẫy chân, đứt tay và đụng xe th́ "tại cha mẹ không cản, không dậy và không khuyên". Chúng quên đi mặt phụng phịu, cái tâm bất măn, và đôi mắt trách móc khi cha mẹ dậy dỗ và cấm cản.
Người trần nhận phép trời và người trần sống kiếp thần thánh là lư tưởng cao vời của tín hữu. Tất cả đang song hành với Chúa Kitô. Người khoẻ đang vực người yếu. Người lănh đạo đang xả thân v́ tập thể. Cha mẹ đang hy sinh cho đàn con. Đàn con đang ngoan hiền vâng lời cha mẹ. Tất cả cùng tiến vào trời là suối mát, là đồng cỏ xanh tươi, là nơi an nghỉ. Dù hiện giờ chúng ta phải đồng khổ với Chúa (bài đọc 2). Chúng ta hăy nghe lời chủ chiên để "được sống viên măn" (Ga 10,10) sống kiên vững, can trường khôn ngoan và không lạc lối.
Câu hỏi gợi ư:
1) Đức Giêsu nói: "Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. C̣n ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử". Từ câu này, ta có thể suy ra phong cách của người mục tử chân chính phải như thế nào?
2) Người mục tử chân chính phải có đức tính cốt yếu nào khiến mục tử khác hẳn kẻ chăn chiên thuê hay bọn trộm cắp chiên?
3) Qua bài Tin Mừng này, Đức Giêsu muốn nói với chính bạn điều ǵ? Ngài muốn bạn làm ǵ và có thái độ nào đối với Ngài?
Suy tư gợi ư:
1) Người mục tử trong nếp sống của người Do Thái xưa
Để hiểu được ư nghĩa của bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta cần trở về với nếp sống của người Do Thái thời Đức Giêsu. Thời ấy, chiên được nuôi theo bầy hàng trăm con tại những đồng cỏ xanh. Mục tử hay người chăn chiên đi theo bầy chiên và cùng sống với chiên ngày này qua ngày khác. Ban ngày, mục tử dẫn đàn chiên đi từ đồng cỏ này đến đồng cỏ khác để chiên ăn cỏ. Ban đêm, để tránh trộm cướp hay thú hoang, và để tránh mưa tránh rét, mục tử đưa chiên vào một nơi an toàn được gọi là "ràn chiên", thường là một hang đá hay một khu đất trống có hàng rào bằng đá hoặc bằng cây bao quanh. Người chăn chiên ngủ ngay trong ràn chiên để bảo vệ chiên, và thường ở ngay cửa ràn. Mục tử và đàn chiên v́ thế gắn bó với nhau rất mật thiết. Mục tử chỉ biết có chiên của ḿnh, và chiên cũng chỉ biết và chỉ đi theo mục tử của ḿnh, không chịu theo bất kỳ ai khác.
2) Ư tứ của Đức Giêsu khi nói dụ ngôn này
Đức Giêsu nói dụ ngôn này với người Pharisiêu, sau khi đối chất với họ về việc Ngài chữa lành người mù từ thuở mới sinh (Ga 9). Nên nhớ: những người Pharisiêu là những người lănh đạo tinh thần trong Do Thái giáo, tức đóng vai tṛ mục tử đối với đàn chiên. Qua dụ ngôn này, Ngài muốn cho họ thay hai thái độ trái nghịch nhau giữa Ngài và họ trong cách đối xử với dân chúng hay các tín đồ tôn giáo. Sự trái nghịch nhau đó được thể hiện qua cách ứng xử với người mù bẩm sinh.
* Cách ứng xử của người Pharisiêu:
Khi thấy người mù được chữa lành, thay v́ mừng cho anh ta đă thoát khỏi điều bất hạnh vô cùng lớn lao, những người Pharisiêu lại có một thái độ thù nghịch và bực tức. Họ tỏ ra không có một chút t́nh yêu, ḷng thương xót hay sự cảm thông nào đối với người mù được Đức Giêsu chữa lành. Trái lại, họ đă dùng lề luật để bắt bẻ vị ân nhân đă chữa lành bệnh cho anh ta, đồng thời gây khó dễ cho anh và gia đ́nh anh v́ việc được chữa lành ấy. Đối với dân chúng, họ không giống như người mục tử đích thực đối với đàn chiên, mà giống như người chăn chiên thuê. Kẻ chăn chiên thuê không yêu thương ǵ chiên, v́ chiên không phải là của hắn (x. Ga 10,12-13).
V́ thế, trong tôn giáo, những người Pharisiêu lợi dụng chức vụ lănh đạo, hướng dẫn để ăn trên ngồi trốc, đè đầu đè cổ dân chúng (x. Mt 23,5-6). Họ giảng dạy toàn những điều tốt nhưng chỉ để cho dân chúng làm chứ không phải họ làm (x. Mt 23,2-3). Họ giảng dạy điều tốt v́ chức vụ họ đ̣i buộc phải làm như vậy, chứ không phải v́ ḷng yêu mến sự thiện mà giảng dạy. Đức Giêsu đă tố cáo việc họ lợi dụng tôn giáo để bóc lột người nghèo, người cô thân cô thế trong xă hội (23,4.14). Nhưng họ vẫn muốn được mọi người tôn trọng, ca tụng, suy tôn, nên phải giả bộ đạo đức, phải làm những việc tốt để khoa trương (23,5), và muốn mọi người gọi ḿnh là "Rabbi" hay "Thầy" (23,6).
* Cách ứng xử của Đức Giêsu
Đức Giêsu có một thái độ khác hẳn, một thái độ nhân từ đầy yêu thương đối với mọi người, được thể hiện một cách cụ thể trong việc Ngài chữa lành người mù. Ngài sống và hành động v́ t́nh yêu chứ không v́ lề luật. T́nh yêu và ḷng thương xót của Ngài đă thúc bách Ngài bất chấp luật sa bát, bất chấp sự phản đối và bực tức của người Pharisiêu về việc lỗi luật của Ngài, bất chấp những hậu quả rất bất lợi có thể xảy đến cho Ngài. Ngài sẵn sàng hy sinh bản thân để xoa dịu đau khổ, để làm mọi người hạnh phúc.
Qua dụ ngôn này, Đức Giêsu muốn cho người Pharisiêu thấy thái độ của họ đối với dân chúng, với các tín đồ tôn giáo mà họ dẫn dắt chẳng khác ǵ thái độ của kẻ trộm cướp, của kẻ chăn thuê đối với đàn chiên: chỉ muốn lợi dụng đàn chiên chứ không hề yêu thương chúng. C̣n thái độ của Ngài mới là thái độ người mục tử đích thật: Ngài yêu thương đàn chiên đến nỗi sẵn sàng "hy sinh mạng sống ḿnh cho đàn chiên" (Ga 10,11). Nhưng rất tiếc là "họ không hiểu những điều Người nói với họ".
3. Mục tử nhân lành (mục tử thật) và kẻ trộm cướp (mục tử giả)
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đưa ra một tiêu chuẩn để phân biệt mục tử và kẻ trộm cướp. Mục tử th́ đi vào ràn chiên bằng cửa ràn, nghĩa là với phong thái "đường đường chính chính". C̣n kẻ trộm hay kẻ cướp th́ không qua cửa nhưng trèo qua lối khác mà vào, với phong thái lén lút, giả dối, không đàng hoàng. Mà cửa ràn chiên, theo bài Tin Mừng hôm nay, lại cũng chính là Đức Giêsu: "Tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào". Vậy để là mục tử đích thật, người mục tử phải qua Đức Giêsu mà đến với đàn chiên, nghĩa là phải là người yêu mến Thiên Chúa, và phục vụ đàn chiên v́ Ngài, không v́ một động lực nào khác.
Thật vậy, đă là mục tử chân chính th́ tư tưởng, lời nói, hành động lúc nào cũng phải bộc lộ được tính "quang minh chính đại", hay "đường đường chính chính", luôn luôn thẳng thắn, trung thực, đáng tin. Người mục tử chân chính ít ra phải là một người quân tử. Nếu tư tưởng, lời nói và hành động như một kẻ tiểu nhân, thích quanh co, lén lút, dối trá, sợ sự thật… th́ không xứng đáng làm mục tử. Hơn thế nữa, người mục tử chân chính phải có một t́nh yêu to tát, để có thể hy sinh đến tận cùng cho những người mà ḿnh lănh đạo, hướng dẫn.
Đương nhiên để thực hiện ư định của ḿnh, kẻ trộm cướp - những kẻ không có t́nh yêu đối với chiên nhưng lại muốn hưởng những quyền lợi của người mục tử - phải giả làm mục tử. Hắn t́m đủ mọi cách để chiên đi theo ḿnh. Nhưng chiên "không chịu theo người lạ, mà chạy trốn, v́ chúng không nhận biết tiếng người lạ", không cảm nhận được t́nh thương của hắn. V́ mục tử giả hay kẻ chăn thuê chỉ biết nghĩ đến bản thân ḿnh, đến cái lợi của ḿnh, không nghĩ ǵ đến chiên, nên "khi thấy sói đến, hắn bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn" (Ga 10,12). Người mục tử đích thực th́ yêu thương chiên, sống v́ chiên, và sẵn sàng "hy sinh mạng sống ḿnh cho đàn chiên" (Ga 10,11) "để cho chiên được sống và sống dồi dào" (10,10).
4. Đức Giêsu là mục tử tốt lành
Ngoài mục đích đối chất với bọn Pharisiêu, Đức Giêsu c̣n dùng h́nh ảnh rất quen thuộc ấy đối với người Do Thái để diễn tả sự yêu thương gắn bó giữa Ngài và chúng ta, những kẻ theo Ngài. Như mục tử tốt lành yêu thương và chăm sóc chiên ḿnh thế nào, Ngài cũng yêu thương chăm sóc chúng ta như vậy. Ngôn sứ Ê-dê-ki-en đă dùng h́nh ảnh người mục tử với đàn chiên để diễn tả tương quan giữa Đấng Mê-si-a và dân của Ngài: "Ta sẽ cho xuất hiện một mục tử để chăn dắt chúng; nó là tôi tớ của Ta: chính nó sẽ chăn dắt chúng; chính nó sẽ là mục tử của chúng" (Ed 34,23). Ngài chính là người mục tử được Thánh Vịnh mô tả: "Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn ǵ. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới ḍng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính v́ danh dự của Người. Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ ǵ nguy khốn, v́ có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm. Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa. Ḷng nhân hậu và t́nh thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên" (Tv 23).
V́ thế, khi ư thức được Đức Giêsu luôn chăm sóc ḿnh như người mục tử tốt lành chăm sóc đàn chiên, người Ki-tô hữu có thể hết sức an tâm trước tất cả mọi giông tố, thử thách trong cuộc đời. Chúng ta hăy tin tưởng vào t́nh thương vô biên và chân thật của Ngài, và an tâm phó thác mọi sự cho Ngài, kể cả mạng sống, hạnh phúc của ḿnh. Nhờ đó cuộc đời ta luôn luôn b́nh an, vui tươi, hạnh phúc, và Tin Mừng chúng ta rao giảng mới đúng là tin mừng đích thực (=tin thật sự đem lại vui mừng!)
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, xin cho con nhận thức được t́nh thương vô bờ và quyền năng vô biên của Cha, của Đức Giêsu, để con có thể hoàn toàn tin tưởng và phó thác mọi sự cho Cha, cho Đức Giêsu. Nhờ đó, con luôn luôn b́nh an, hạnh phúc bất chấp cuộc đời có sóng gió đến đâu. V́ con luôn luôn tin tưởng rằng, con được một bàn tay quyền uy và yêu thương bảo vệ. Mọi biến cố xảy ra, dù thế nào, cuối cùng đều ích lợi cho con. Amen.
I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Ga 10,1-10
II. TẤM BÁNH CHIA SẺ
Cửa có hai công dụng. Để đóng vào và để mở ra. Có những cánh cửa như cửa tù ngục để giam kín phạm nhân. Có những cánh cửa giam hăm, bưng bít con người không cho thông giao với thế giới bên ngoài. Có những cánh cửa ḷ sát sinh nhốt thú vật để giết chết. Đó là những cánh cửa đóng kín chết chóc, huỷ hoại. Có những cánh cửa mở ra đón gió mát, đón khí trong lành, đón ánh sáng mặt trời tươi vui. Có những cánh cửa mở ra những chân trời xa tắp, khơi lên trong tâm hồn mơ ước cao xa. Có những cánh cửa mở ra đón nhận anh em trong t́nh huynh đệ thân mến. Đó là những cánh cửa mở ra sự sống.
Hôm nay, Chúa Kitô nói: “Ta là cửa chuồng chiên”, Người đă tự nhận ḿnh là cánh cửa. Chúa Giêsu là cánh cửa không phải để đóng kín giam hăm đàn chiên. Nhưng là cánh cửa mở ra.
Chúa Giêsu là cánh cửa mở ra những chân trời vô tận.
Thỉnh thoảng ta nghe có dư luân xôn xao về ngày tận thế. Tất nhiên đó là một tin đồn thất thiệt, nhảm nhí, đượm mầu sắc mê tín dị đoan. Nhưng tin đồn đó cũng nói lên một sự thực là: Thế giới mà chúng ta đang sống là một thế giới hạn hẹp, sinh mạng con người là bèo bọt, kiếp sống con người là monh manh. Thật đáng buồn nếu con người chỉ có thế, bị kết án chung thân vào một thân xác mau tan ră, bị giam hăm trong một thế giới vật chất mau tàn tạ.
Chúa Giêsu Phục sinh đă phá vỡ ṿng vây giam hăm đó. Khi tảng đá lấp cửa mộ lăn ra, Chúa Giêsu đă mở ra cho nhân loại một cánh cửa. Cánh cửa đó dẫn vào một không gian vô tận. Từ nay con người không c̣n bị kết án chung thân vào thân xác mau tan ră nữa, v́ Chúa Giêsu phục sinh đă mặc lấy thân xác vinh hiển không bao giờ chết. Từ nay con người không c̣n bị giam hăm trong thế giới vật chất mau tàn tạ nữa, v́ Chúa Giêsu Phục sinh đă mở lối ra thế giới thần linh, trong đó con người sống trong tự do, không c̣n bị ràng buộc trong không gian. Đó là một thế giới mới, thế giới vĩnh hằng, không bao giờ tàn tạ, thế giới vô biên chẳng có giới hạn.
Khi mở cánh cửa vào thế giới thần linh, Chúa Giêsu đă đẩy lùi ranh giới của thế giới vật chất đến vô hạn. Khi mở cánh cửa vào thế giới thần linh, Chúa Giêsu đă chắp cánh cho ước mơ của con người. Ước mơ ấy chẳng c̣n hạn hẹp trong những hạn chế của ṿng vây thế giới, nhưng bay lên ngang tầm trăng sao để mơ những giấc mơ thần thánh. Khi mở cửa và thế giới thần linh, Chúa Giêsu đă giải phóng con người khỏi cảnh ngộ nô lệ vật chất hư hèn, nâng con người lên cuộc sống tự do của con Thiên Chúa.
Chúa Giêsu là cánh cửa mở ra suối nguồn sự sống
Thật là vô lư nếu con người sống chỉ để chết. Thật là vô lư nếu chết là hết. Nếu định mệnh con người là như thế, thà không sống c̣n hơn. Mỗi khi vào bệnh viện, ta không khỏi suy nghĩ khi nh́n những bệnh nhân rên xiết, quằn quại đau đớn hoặc thấy những tấm thân gầy c̣m, những khuôn mặt hốc hác. Đó là cái chết đang sống hay là một sự sống đang chết? Đời sống như thế c̣n có ư nghĩa ǵ không?
Chúa Giêsu đă bước vào thế giới kẻ chết để chiến đấu chống lại thần chết. Người đă chiến thắng. Và khi Người mở cửa mộ bước ra, Người đă mở cánh cửa dẫn vào một cuộc sống mới. Cuộc sống mới là một cuộc sống trọn vẹn bởi v́ không c̣n bóng dáng Thần chết. Cuộc sống mới là một cuộc sống sung măn bởi v́ chẳng c̣n vết tích của đau khổ, bệnh tật, đói khát. Cuộc sống mới là một cuộc sống siêu nhiên trong đó con người được nâng lên làm con Thiên Chúa, được tham dự vào chính sự sống của chúa. Cuộc sống mới là một cuộc sống hạnh phúc v́ được kết hợp với Thiên Chúa Ba Ngôi trong một t́nh yêu trọn hảo.
Như thế cuộc sống con người vẫn có một hướng đi lên, để được nâng cao, để được phong phú, để được hoàn hảo. Chính v́ thế mà dù biết cuộc sống khổ đau, người ta vẫn vui mừng khi một em bé chào đời. Chính v́ thế người ta vẫn ăn mừng sinh nhật, coi đó là ngày trọng đại trong đời người.
Chính Chúa Giêsu đă biến đổi thân phận con người. Con người sinh ra không phải để chết, nhưng để sống, sống sung măn, sống trọn vẹn, sống vĩnh viễn trong suối nguồn sự sống.
Nhưng để mở ra cho ta những chân trời vô tận của con Thiên Chúa, chúa Giêsu đă chịu nhận lấy kiếp sống mong manh, phù du, bèo bọt của con người. Để mở ra cho suối nguồn sự sống, Người đă phải đón nhận cái chết đau đớn. Người chính là vị Mục tử chân chính đă thí mạng v́ đàn chiên.
Chúa Giêsu quả thật là cánh cửa mở ra cho đàn chiên đi đến những chân trời xa rộng, đi đến những đồng cỏ xanh tươi, đi đến những ḍng suối trong lành.
Chúa Giêsu quả là vị mục tử tốt lành luôn chăm sóc đoàn chiên, luôn nuôi dưỡng đoàn chiên bằng những lương thực bổ dưỡng. Chúa Giêsu đă đến cho ta được sống và được sống dồi dào.
Đó là cánh cửa duy nhất dẫn đến sự sống, ta hăy theo sát gót Người. Đó là người mục tử duy nhất, ta hăy nghe tiếng Người. Hăy đến với Người để Người đưa ta đến những chân trời xa rộng. Hăy đến với Người để Người băng bó vết thương, xoa dịu nỗi đau và phục hồi sự sống. Hăy đến với Người để Người đổ tràn t́nh yêu và sự sống vào tâm hồn ta.
III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU
1) Chúa Giêsu là cửa chuồng chiên. Tôi có theo vào cửa Người hay tôi đă chọn nhầm cửa khác?
2) Chúa Giêsu là cánh cửa mở. Tôi có thường đóng cửa, ngăn không cho người khác vào?
3) Chúa Giêsu đă hiến mạng sống để mở cửa cho tôi. Tôi có sẵn sàng hi sinh để mở cửa thêm rộng không?
Nền văn minh cơ giới khiến chúng ta quen thấy các băi đậu xe hơn là các chuồng chiên. Để hiểu rơ bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta cần gợi lại trong trí tưởng tượng một trong những quang cảnh đời sống thôn dă quen thuộc vào thời Đức Kitô. Những người chăn chiên chiều đến lùa đàn súc vật của ḿnh vào một ràng để cho một người trong bọn trông coi, canh giữ cửa ra vào suốt đêm. Kẻ toan tính vào trong ràng để giết trộm buộc phải trèo qua rào. Chiên thuộc các bầy khác nhau biết tiếng người chăn ḿnh. Sáng đến, người ấy tới trước cửa, người canh mở cửa cho ông ta. Nghe tiếng gọi mà chúng nhận ra không lầm lẫn. Chiên mỗi bầy tụ lại chung quanh người chăn của ḿnh rồi ra đi đến đồng cỏ. Chúa Giêsu tự ví ḿnh như người chăn chiên và đoàn lũ đông đảo của gia đ́nh nhân loại Ngài ví như đoàn chiên. Ngài biết toàn thể loài người, cũng như từng người riêng biệt. Đối với nhân loại đă không có ai và sẽ không có ai được như Ngài. Ngài không những là người chăn chiên mà c̣n là cửa ràn chiên. Người ta chỉ hiểu biết thâm sâu cộng đoàn nhân loại bằng cách nhờ vào sự thông hiểu của Đức Kitô. Có nhiều đường lối khác, nhưng ít hay nhiều đó là những đường đột nhập. Những lời mời gọi con người mà không có cung giọng, tiếng nói của Đức Kitô dẫn đưa họ đến những mục đích không có được sự toàn vẹn, như ơn cứu độ Đấng Kitô Cứu Chúa duy nhất mang lại.
1) Các chiên của Ngài, Ngài gọi từng con một.
Điều này có nghĩa là Chúa biết mỗi người riêng biệt. Ngài biết được v́ Ngài là Thiên Chúa. Đó chẳng phải là một sự kiện khiến ḷng ta phấn khởi sao? Chúng ta sống trong một xă hội giảm trừ dần dần con người vào chỗ vô danh của một lá phiếu điện toán. V́ hiện nay giá trị độc nhất của nhân vị càng tiêu tán dần, nên người ta phản ứng lại bằng việc học hỏi cách khoa học vấn đề các tương giao liên vị. Làm như thế, người ta lại phá huỷ thêm tính chất liên lạc hợp nhất của nhân vị. C̣n lại được ǵ? Đối với người Kitô hữu c̣n lại việc Thiên Chúa biết đến ḿnh, biết đến chỗ thâm sâu độc nhất và không thể thông truyền của ḿnh. Khi trong đám đông có lúc chúng ta cảm thấy hết sức trơ trọi cô độc, hăy nhớ đến một Đấng thông hiểu chúng ta tường tận riêng biệt. Hăy nhớ đến một giọng nói hoà hợp với khả năng đón nghe bên trong chúng ta.
2) Ta đến để chúng được sống
Sự sống Đức Kitô mang lại cho chúng ta là điều mà người ta gọi là ơn thánh hoá, một sự thông phần vào chính cuộc sống của Thiên Chúa. Tại thế này chúng ta đang sống những chặng khởi đầu, chờ đợi hồi triển nở đầy đủ khi chúng ta được hoàn toàn thông hiệp vào sự phục sinh của Chúa. Ngay tự bây giờ trí khôn, ước muốn, tâm hồn chúng ta đă được hưởng nhờ hồng ân Thiên Chúa. Khả năng hiểu biết sự thật, ước muốn điều thiện được tăng cường đến một mức vượt quá sức tự nhiên. Không bao giờ một ḿnh trí khôn chúng ta biết được mầu nhiệm Ba Ngôi chí thánh. Không bao giờ tâm hồn chúng ta tự ḿnh khám phá được niềm hy vọng lớn lao. Chính Đức Giêsu Kitô mang sự sống của con cái Thiên Chúa đến cho chúng ta. Đó chẳng phải là sự sống đầy tràn quư nhất hay sao?
Ta là chủ chiên lành.
Trong một cuộc giao tranh đạo quân của đại tướng Monmouth bị thua chạy một cách thê thảm. Riêng ông cũng phải lẩn trốn. Ban ngày ông đến náu trong những hang núi, đến đêm mới dám ra đi. Sau cùng, địch quân cũng đuổi kịp. Ông bí quá, chạy vào căn lều của người chăn chiên.
Thay v́ đóng cửa không cho ông vào, người chăn chiên đă làm một nghĩa cử cao đẹp. Anh đă đổi áo của ḿnh cho ông mặc trá h́nh, rồi thân chinh ra gặp địch quân của đại tướng.
Người chăn chiên đă chiến đấu rất anh dũng và cố ư kéo dài cuộc giao tranh để Monmouth có giờ tẩu thoát. Với thanh kiếm, anh đă cầm chân địch quân trong ṿng ba tiếng đồng hồ, cho đến khi mệt lả, không c̣n đủ sức chiến đấu nữa th́ bị địch quân giết chết. Lúc đó đại tướng Monmouth đă đi xa rồi.
Trong trận chiến chống trả tội lỗi, chúng ta luôn bị ma quỉ đuổi bắt, nhưng Chúa Giêsu đă xuống thế làm người. Ngài đă chiến đấu thay cho chúng ta suốt ba tiếng đồng hồ trên thập giá, cho đến lúc chính Ngài đă phải chết. Trong khi Ngài chiến đấu với ma quỉ, con người tội lỗi chúng ta được thoát khỏi quyền lực của ma quỉ. Chính v́ thế, Chúa Giêsu đă có lư khi tự xưng ḿnh là chủ chiên nhân lành, đă hiến mạng sống v́ con chiên.
Ngài nói đi nói lại với chúng ta, Ngài là chủ chăn nhân lành có nhiệm vụ dẫn dắt linh hồn chúng ta:
- Nếu một người có một trăm con chiên chẳng may lạc mất một con, người ấy lại không bỏ 99 con lại mà đi t́m con chiên bị lạc mất hay sao. Ta c̣n nhiều chiên khác chưa thuộc về đàn này, cả chúng nữa ta cũng phải đem chúng về.
Linh hồn của chúng ta đáng giá chừng nào, v́ Chúa Giêsu đă sẵn sàng hiến mạng sống để cứu lấy nó.
Chúng ta phải luôn ghi ḷng tạc dạ điều này: Trong chúng ta có một cái ǵ rất giá trị, một cái ǵ chúng ta phải chăm sóc và bảo tồn. Để chăn dắt chúng ta, Chúa Giêsu đă phải giáng trần.
Nếu chúng ta cần ǵ th́ hăy đến với Ngài.
Cần đồ ăn ư? Ngài đă ban chính ḿnh Ngài trong Bí tích Thánh Thể để làm của ăn nuôi sống linh hồn chúng ta.
Cần nước uống ư? Ngài đă ban cho chúng ta ḍng nước trong lành của Bí tích Rửa tội.
Cần băng bó ư? Ngài sẽ chữa lành những vết thương do tội lỗi gây nên bằng Bí tích Giải tội.
Cần hướng dẫn ư? Ngài sẽ đưa chúng ta trở về với Ngài như người chủ chăn đưa con chiên lạc trở về đàn của ḿnh.
Cần che chở ư? Ngài hiến mạng sống để bảo vệ chúng ta và cho đến ngày hôm nay Ngài c̣n thực hiện biết bao việc lạ lùng để nâng đỡ chúng ta.
Linh hồn chúng ta thực là quí giá biết bao, chính v́ thế, chúng ta phải ǵn giữ nó, đừng làm những ǵ khiến nó mất đi vẻ đẹp tuyệt vời, khiến Chúa Giêsu phải đau ḷng.
Người chăn chiên đă chết để cứu mạng sống cho vị đại tướng. Chúa Giêsu đă chết trên thập giá để cứu rỗi linh hồn chúng ta, bởi v́ Ngài chính là chủ chăn nhân lành đă hiến mạng v́ đoàn chiên.
Trong buổi học giáo lư vào ngày Chúa nhật, một em đang cắm cúi vẽ h́nh. Thầy giáo hỏi em đang vẽ ǵ thế. Em trả lời đang vẽ h́nh của Thiên Chúa. Thầy giáo nói, “Không ai nh́n thấy Thiên Chúa như thế nào, làm sao vẽ được?” Em bé đă trả lời, “Sau khi em vẽ xong bức h́nh này th́ ta sẽ biết”.
Chúng ta không biết bức h́nh của em vẽ Thiên Chúa ra sao. Tuy nhiên, bài Phúc âm hôm nay và đáp ca, đă vẽ ra một h́nh ảnh của Thiên Chúa. Đó là h́nh ảnh của người Mục Tử. Chúa Giêsu đă nói: “Ta là cửa chuồng chiên” và “Ta là mục tử tốt lành”.
Sách Giáo lư Công giáo giải thích h́nh ảnh này như sau: “Giáo Hội là chuồng chiên với Chúa Kitô là cửa vào độc nhất và cần thiết. Giáo Hội cũng là đàn chiên mà chính Thiên Chúa đă công bố rằng Ngài sẽ là mục tử, và những con chiên, dầu có những mục tử loài người dẫn dắt, nhưng chúng luôn luôn có chính Chúa Kitô hướng dẫn và nuôi dưỡng, v́ Ngài là chủ chăn tốt lành và là ông hoàng của các chủ chăn. Ngài đă thí mạng sống ḿnh v́ các chiên của Ngài”.
Theo William Barlay, vào thời Chúa Giêsu, có hai loại chuồng chiên. Trong các làng xă thường có một chuồng chiên công cộng, nơi tập trung tất cả các bầy chiên lại khi những người chăn chiên trở về nhà vào ban đêm. Những con chiên này được bảo vệ bằng một cái cửa rất vững chắc mà chỉ có người canh giữ chiên mới có ch́a khóa để mở cửa. Loại chuồng này được Chúa Giêsu đề cập đến trong câu Gioan 10, 2-3 “Ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. Người giữ cửa mở cho anh ta vào…”
Khi đàn chiên đi ăn cỏ ở nơi xa vào mùa ấm, chúng không trở về làng vào ban đêm, mà qui tụ lại trong một chuồng chiên ở giữa lưng chừng đồi hay ngoài cánh đồng. Những chuồng chiên ở ngoài trời này là một bức tường bằng đá vây chung quanh, có một lối ra vào không có cánh cửa. Ban đêm người mục tử nằm chận ngang lối ra vào, không có con chiên nào có thể bỏ chuồng đi ra, hoặc con thú hoang nào có thể đi vào mà không bước qua người mục tử. Nói một cách khác, người mục tử là cửa chuồng chiên. Chúa Giêsu đă đề cập đến loại chuồng này trong Gioan 10, 7-10 “Tôi là cửa cho chiên ra vào…”
Chúa Giêsu dùng h́nh ảnh này để nói lên tương quan của Ngài với chúng ta. Một sự gắn bó chặt chẽ giữa người mục tử và đàn chiên với các đặc tính:
Trước khi về trời Chúa Giêsu đă hứa với các môn đệ rằng: “Ta sẽ luôn ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.
Trong khi thi hành mục vụ, tôi đă có nhiều dịp viếng thăm các bệnh nhân ở bệnh viện và xức dầu cho họ. Lời cầu nguyện được các bệnh nhân ưa chuộng nhất trên giường bệnh là Thánh vịnh 23 chúng ta đọc trong phần đáp ca hôm nay: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn ǵ”.
Tôi nhớ đă vài lần viếng thăm một người phụ nữ nằm bệnh viện gần 2 tháng. Một ngày nọ khi vào thăm bà, tôi thấy cả gia đ́nh đă qui tụ đầy đủ v́ họ đă được thông báo cho biết và gần ra đi rồi. Căn pḥng bệnh nhân đầy ắp người, nhưng không ai đề cập đến số phận của bà. Họ nói về những chuyện xảy ra trong cộng đoàn, về thời tiết, về tin tức… Tôi đi ra ngoài một chút rồi trở lại thăm bà vào đúng lúc cả gia đ́nh đă đi ăn trưa. Chỉ c̣n một ḿnh tôi với bà, bà nói: “Thưa cha, cha biết rằng con sắp chết rồi!” Theo tâm lư tôi tự nghĩ trong đầu: “Không đâu! Bà sẽ vượt qua được cơn bệnh. Bà sẽ c̣n sống lâu thêm nữa”. Nhưng rồi tôi lại nghĩ rằng tốt hơn hết cứ nói, “Phải, tôi biết!” Rồi tôi hỏi bà thêm: “Bà nghĩ sao về điều này?” Bà nói: “Phải, con cũng sẵn sàng để chết. Con đă chuẩn bị”. Tôi đề nghị, “Tôi có thể làm ǵ để giúp bà được không?” Bà nói: “Xin cha làm ơn đọc cho con nghe Thánh vịnh 23”. Tôi đă đọc thật chậm để cùng cầu nguyện với bà. Lúc đó chúng tôi đă cảm nghiệm được một sự b́nh an lớn lao khó diễn tả bằng lời, cả hai chúng tôi đều cảm thấy Chúa Giêsu đang hiện diện cùng với chúng tôi trong pḥng bệnh nhân. Chỉ một thời gian ngắn sau đó bà đă ra đi b́nh an.
H́nh ảnh của người mục tử tốt lành gợi cho chúng ta một Thiên Chúa luôn luôn hiện diện với chúng ta trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống, lúc bệnh tật hay khỏe mạnh, lúc vui tươi hay đau buồn hoặc ngay trong sự chết
H́nh ảnh chuồng chiên là một h́nh ảnh rất quen thuộc đối với người dân sinh sống tại vùng Palestine thời Chúa Giêsu. Đó là những dải hàng rào chắc chắn được quây lại theo h́nh vuông hay h́nh chữ nhật với một cửa ra vào duy nhất. Cứ chiều đến, các chủ đoàn chiên lùa chiên vào chuồng qua cửa duy nhất này, rồi trao phó việc canh giữ chuồng chiên cho những người được thuê mướn làm công việc này. Sáng sớm hôm sau, các chủ đoàn chiên lại đến để đưa chiên ra khỏi chuồng đi ăn nơi những đồng cỏ. Chuồng chiên là nơi bảo vệ an toàn cho đàn chiên.
Chúa Giêsu đă dùng h́nh ảnh quen thuộc này khi so sánh Ngài với cửa chuồng chiên và người chăn chiên tốt lành để mạc khải ḷng yêu thương chăm sóc của Thiên Chúa đối với con người nói chung, và nhất là sự chăm sóc bảo vệ của Ngài đối với những ai tin nhận Ngài nói riêng, v́ Ngài là mục tử tốt lành. Thế nào là một mục tử tốt lành? Chính Chúa Giêsu đă phác họa bằng ba vẻ đẹp:
Ân cần chăm sóc các chiên của ḿnh: Vẻ đẹp này đă được diễn tả bằng h́nh ảnh một người thanh niên đang chăn chiên trên một cánh đồng lớn, có những cỏ non xanh, có những ḍng suối mát, và người thanh niên ấy vác trên vai một con chiên đau bệnh. Sự chăm sóc của Chúa Giêsu mục tử đó là một vẻ đẹp có sức hấp dẫn.
Sẵn sàng hy sinh, liều mạng cho đoàn chiên: vẻ đẹp này thường được diễn tả bằng h́nh ảnh con bồ nông mẹ, nhỏ từng hạt máu của ḿnh vào miệng những đứa con non nớt để nuôi dưỡng chúng cho đến hạt máu cuối cùng rồi lăn ra chết. Mẹ chết để cứu đoàn con. Sự hy sinh của Chúa Giêsu mục tử là một vẻ đẹp có sức đánh động những trái tim khô cứng.
Hiểu biết từng con chiên ḿnh: Vẻ đẹp này đă được diễn tả bằng h́nh ảnh một người cha ôm hôn đứa con ngỗ nghịch trở về. Bởi v́ mắt cha nhân từ, hiểu biết sự yếu đuối, dại khờ, nông nổi của đứa con, và hiểu thiện chí tối thiểu của đứa con ḿnh. Đây là một vẻ đẹp phản ảnh t́nh yêu cứu độ của Chúa.
Ba vẻ đẹp trên đây đều nói lên vẻ đẹp duy nhất của Thiên Chúa, đó là t́nh thương xót. T́nh thương xót là chân dung của Chúa, là dung mạo của Chúa, là khuôn mặt của Chúa.
V́ thế, khi so sánh ḿnh với người mục tử tốt lành, Chúa Giêsu muốn cho mọi người hiểu rằng: Ngài chính là tiêu chuẩn, là mẫu mực để xác định sứ mạng đích thực của những người được gọi và tuyển chọn cộng tác với Ngài trong sứ mạng coi sóc đoàn chiên là cộng đoàn những kẻ tin Chúa. Những người được chọn cho sứ mạng chăn dắt đoàn chiên nếu không vào qua cửa là Chúa Giêsu th́ không phải là những chủ chăn đích thực. Nói rơ hơn, những chủ chăn đích thực phải được chính Chúa tuyển chọn.
Điều này đă được thực hiện từ khi Chúa thiết lập Giáo Hội cho đến ngày nay, như Công đồng Vaticanô II, trong hiến chế về Giáo Hội đă tuyên bố: “Chúa Giêsu đă chọn các tông đồ và Ngài muốn các người kế vị, tức là các giám mục, làm chủ chăn trong Giáo Hội cho đến tận thế”. Nhưng để chức giám mục được duy nhất và không bị phân chia, Chúa đă đặt thánh Phêrô làm thủ lănh các tông đồ khác. V́ thế, các Đức Giáo Hoàng là những người kế vị thánh Phêrô là thủ lănh hữu h́nh của toàn thể Giáo Hội. Như vậy, quyền bính trong Giáo Hội đượcï Chúa trao phó cho Đức Giáo Hoàng, Đấng kế vị thánh Phêrô, và các Giám mục kế vị các tông đồ. Tuy nhiên, gần gũi chúng ta hơn cả c̣n có các linh mục, là những cộng tác viên đă được các giám mục ủy quyền chăm sóc đoàn chiên.
Do đó, chúng ta thấy sự tương quan giữa chúng ta và hàng giáo phẩm, tức là giữa đoàn chiên và các vị chủ chăn: qua linh mục chính xứ, chúng ta liên hệ với giám mục giáo phận. Qua Đức giám mục, chúng ta liên hệ với Ṭa Thánh, với Đức Giáo Hoàng. Như vậy, linh mục là người thi hành nhiệm vụ chủ chăn trực tiếp với chúng ta, là người sống gần gũi chúng ta, đáng cho chúng ta thông cảm, chia sẻ, cộng tác và cầu nguyện cho các ngài.
Hy vọng rằng sự liên lạc mật thiết giữa giáo dân và chủ chăn sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho Giáo Hội. Nhờ sự liên lạc đ