ĐỨc Giêsu là cỬa ràn chiên
(Gioan 10,1-10 – CN IV PS - A)
Lm PX Vũ Phan Long, ofm
1.- Ngữ cảnh
Bản văn đi trước bản văn chúng ta đọc hôm nay là truyện Anh mù từ thuở mới sinh (9,1-41). Khi chuyển sang ch. 10, tác giả Gioan đă dùng một câu dẫn nhập long trọng: “Thật, tôi bảo thật các ông” (10,1). Công thức này thêm vào cho phần trước một luận cứ mới, mạnh mẽ hơn, chứ không đưa vào một đề tài mới. Như thế, ẩn dụ Người mục tử nhân hậu được liên kết với truyện anh mù. Quả thật, việc người mù bị loại trừ khỏi Israel (giả trá) và Đức Giêsu đă đón nhận anh, là những dữ kiện mà ẩn dụ sẽ đào sâu.”Chính là để xét xử” (9,39) cũng như nhận xét ở 9,41 nói với người Pharisêu là những công thức đưa sang bài ẩn dụ ch. 10.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành ba phần:
1) Ẩn dụ cái cửa ràn chiên (10,1-5);
2) Phản ứng của người Do-thái (10,6);
3) Đức Giêsu giải thích ẩn dụ cửa ràn chiên (10,7-10).
3.- Vài điểm chú giải
- ràn chiên (1): Có nhiều loại ràn chiên. Có khi đó là một mảnh đất vuông bên sườn đồi, có tường đá vây quanh. Ở đây có lẽ là một mảnh sân phía trước một ngôi nhà, chung quanh có tường đá.
- gọi tên từng con (2): Các mục tử Paléttina thường đặt tên cho những con chiên họ yêu quư.
- Chúng sẽ không theo người lạ (5): Điều này khiến chúng ta có thể nghĩ rằng có nhiều đàn chiên trong một ràn, nên mỗi mục tử gọi tên các chiên là để tách chúng khỏi các đàn khác.
- ẩn dụ (6): Từ Hy-lạp Gioan dùng là paroimia, được BJ dịch là “discours mystérieux”. TOB dịch là “parabole” và ghi chú: “Là lời huyền bí hoặc biểu tượng tối tăm, la parabole dưới mắt Ga là cách mạc khải thuộc về sứ mạng của Đức Giêsu trong thời gian; ta chỉ có thể thật sự hiểu được mạc khải này trong đức tin, đưới ánh sáng của mạc khải cuối cùng, khi Đức Giêsu được giương cao và khi Thần Khí được ban tặng”. NAB dịch là figure of speech, và chú thích là từ ngữ này tương tự với “dụ ngôn” của các TMNL. R.E. Brown dịch là picture, c̣n Zerwick & Grosvenor dịch là “simile, hidden saying” và cho rằng từ này cùng nghĩa với parabolê của TMNL (x. Hc 47.17). Đây là một sự so sánh hoặc một dụ ngôn, nhưng nhấn mạnh trên ư nghĩa ẩn giấu. N. Guillemette dịch là “allégorie” (ẩn dụ). Trong bài ẩn dụ, phải chuyển cách yếu tố khác nhau sang một trật tự khác các ư tưởng; sự chuyển dịch này được chính ẩn dụ gợi ra. Người ta không bắt đầu một bài tường thuật hay một bài miêu tả bằng câu “Thật, tôi bảo thật các ông…”. Ta có ngay ẩn dụ: ràn chiên gợi đến đoàn chiên của Yhwh, đến dân Thiên Chúa; có những mục tử thật và giả, như Đức Giêsu và các nhà lănh đạo dân Chúa; và có các con chiên, đó là các tín hữu đang nghe lời của vị mục tử. Vậy mục tiêu của bài ẩn dụ là cho thấy sự tách biệt giữa đoàn chiên chân thật và đoàn chiên giả trá. Xem thêm Ga 15,1-8.
4.- Ư nghĩa của bản văn
* Ẩn dụ cái cửa ràn chiên (1-5)
Gioan vẫn tiếp tục mạch tư tưởng của truyện anh mù, và tiếp tục triển khai ư chính của bản văn ấy bằng cách chuyển sang ẩn dụ cửa ràn chiên.
Cách duy nhất để đến với con chiên, đó là qua cái cửa được người giữ cửa mở ra. Đây là điểm nhấn mạnh của dụ ngôn. Chính cái cửa xác định ai là kẻ trộm, kẻ cướp, và ai là mục tử. Ai không qua cửa mà vào, nhưng lại trèo qua lối khác mà vào, tức là không đến với đàn chiên một cách chính thức, th́ kẻ ấy là kẻ trộm và kẻ cướp. “C̣n ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử” (c. 2).
Đến đây, tương quan mật thiết giữa các con chiên và mục tử được nêu bật. Dân Bê-đu-anh (Bédouins) trong sa mạc cho chúng ta hôm nay một khái niệm về đời sống của các chi tộc Israel ngày trước: trong xă hội ấy, quan hệ giữa mục tử và đàn chiên không phải chỉ theo kiểu kinh tế, dựa trên lợi nhuận mà mục tử có thể rút ra từ các con chiên để nuôi ḿnh và gia đ́nh: xén len, uống sữa, ăn thịt (nướng), bán bớt chiên khi cần tiền. Nói cách khác, đây không phải là một tương quan “sở hữu”. Đúng ra đây là một tương quan hầu như riêng tư giữa mục tử và đàn chiên. Chiên và người sống ngày qua ngày với nhau tại những nơi hoang vắng, trong thế “diện đối diện”, không có ai khác ở quanh đó. Cuối cùng, mục tử biết rơ từng con chiên, và mỗi con chiên phân biệt và nhận ra được tiếng của mục tử ḿnh, v́ ông đă nói với chúng thường xuyên. Chúng sẽ đi theo anh đến các đồng cỏ.
Thật ra, Đức Giêsu đang mô tả chính cách thức xử sự của Người, để cho thấy là Người thực hiện tất cả các điều kiện cần thiết về Người Mục tử chân chính của Israel.
Để đến với Đàn Chiên của Thiên Chúa, Người đă dùng con đường thông thường, bởi v́ Người có đến là v́ nhận được tiếng gọi và bài sai của Thiên Chúa, mà Người đă nhận khi nhận phép rửa (1,31-34). Gioan Tẩy Giả đă đóng vai người giữa cửa do bài sai của Thiên Chúa, đă mở cửa cho Đức Giêsu và đă giới thiệu Người cho toàn dân, đặc biệt cho các môn đệ ông (1,23-31). Tương quan giữa mục tử và chiên là một trong những tương quan chặt chẽ nhất mà người ta có thể nhận thấy trong cuộc sống hằng ngày của một người Israel: chính v́ thế, Thiên Chúa đă dùng biểu tượng này để diễn tả quan hệ của Ngài với Dân tuyển chọn và với toàn thể nhân loại. Một trong những thánh vịnh đẹp nhất mô tả sự an toàn mà Dân Chúa cảm nhận khi có Chúa là Mục tử, là Tv 23. Nhưng điều này cũng có giá trị cho các quan hệ giữa con người với nhau. Do đó, trong Kinh Thánh, danh hiệu mục tử cũng được ban cho tất cả những ai bắt chước sự ân cần, tận tâm của Thiên Chúa đối với sự an vui của Dân ḿnh. V́ vậy, các vua, các tư tế, và nói chung, mọi vị hữu trách trong Dân, cũng được gọi là mục tử.
Trong chiều hướng này, khi một ngôn sứ như Êdêkien nhắc đến các thủ lănh của Dân, ngài đă gọi họ là mục tử. Tuy nhiên, ngài gọi như thế không phải là để nhắc đến h́nh ảnh người che chở mà lẽ ra họ phải nêu ra, nhưng là để nhắc đến t́nh trạng thực của họ: những thủ lănh vô trách nhiệm, thậm chí bất lương, v́ đă lợi dụng địa vị của họ để bóc lột và áp bức. Họ đă tự đặt ḿnh làm thủ lănh và hướng dẫn thiêng liêng của đàn chiên, mà chẳng qua Người giữ cửa tối cao, không hề nhận bài sai từ Thiên Chúa cho sứ mạng đó. Như những tên trộm cướp, họ đă chiếm lấy Dân Chúa v́ ham vinh quang và quyền lực hơn là v́ quan tâm đến đời sống thiêng liêng của Dân (cc. 8.10).
* Phản ứng của người Do-thái (6)
Phản ứng của các chiên tương tự phản ứng của người mù từ thuở mới sinh. Khi nghe Đức Giêsu, mặc dù bị người Pharisêu ngăn chặn, con người phát xuất từ Dân Chúa đó đă phân biệt được người mục tử với quân trộm cướp. Các kinh sư và người Pharisêu bị trách không phải là đă không biết giữ cửa, nhưng đă xử với đàn chiên như những kẻ trộm, kẻ cướp. Nhưng họ đă không hiểu các lời Đức Giêsu nói. Do đó, Đức Giêsu đă giải thích các dụ ngôn cửa ràn chiên và người mục tử. Họ không hiểu: đây không phải là một vấn đề trí thức, nhưng là một thái độ không muốn đáp trả thách đố của các dụ ngôn. Trong các TMNL, thách đố này xoáy vào đề tài Nước Trời; trong TM IV, thách đố này lại tập trung nơi Đức Giêsu.
* Đức Giêsu là cửa ràn chiên (7-10)
Đức Giêsu tuyên bố: “Thật, tôi bảo thật các ông: Chính tôi là cửa cho chiên ra vào” (c. 7). Người không xác định cửa này phải chăng chỉ dành cho chiên ra vào, hay là cũng dành cho mục tử ra vào. Nhưng dựa vào câu nói tiếp theo: “Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp” (c. 8) và đối chiếu với dụ ngôn trên đây (10,1-5), ta hiểu là cửa này cũng để cho mục tử ra vào nữa. Như vậy, đă có những kẻ không qua cửa mà đến với đàn chiên, nhưng đă trèo qua lối khác. Những người này là ai? Phải chăng là những mêsia giả thời Đức Giêsu? hay là chính vị Thầy dạy Đường Công Chính của Qumran? Tuy nhiên, gần với bản văn nhất, là chính các người Pharisêu và Xađốc; giọng điệu của Đức Giêsu ở đây cũng rất gần với Mt 23.
Đến đây, Đức Giêsu lại nhắc lại: “Chính tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào th́ sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ” (c. 9). Ở đây Người là cửa dẫn đến ơn cứu độ, không phải là cửa cho mục tử mà là cửa cho con chiên. Tư tưởng này rất giống với Ga 14,6 và Tv 118,20.
Trong Ga 4 và 6, chúng ta đă nghe Đức Giêsu tuyên bố rằng Người là Đấng cung cấp nước hằng sống và bánh ban sự sống; bây giờ Người ban đồng cỏ đưa lại sự sống, có thể hiểu là sự sống viên măn. Món quà đưa lại sự sống này đối lập lại với việc “giết hại và phá hủy (thysê kai apolesê [do động từ apollymi]) ” của kẻ trộm. Trong bài diễn từ dịp lễ Lều (8,44), Đức Giêsu cho biết ma quỷ là kẻ sát nhân; như thế, sự đối lập giữa kẻ trộm và người mục tử là phản ánh sự đối lập giữa Satan và Đức Giêsu. Kẻ trộm đến là để “phá hủy” (apollymi); ở 3,16, Đức Giêsu nói rằng Thiên Chúa ban Con một để bất cứ ai tin vào Người th́ “khỏi phải diệt vong [= khỏi bị phá hủy [apolêtai, do động từ apollymi]) nhưng được sự sống đời đời” (x. 6,39). Chỉ ḿnh Đức Giêsu có thể đưa các tín hữu đi vào trong không gian ban sự sống mà Thiên Chúa đă thiết lập, bằng cách giúp họ sinh vào sự sống nhờ nước và Thánh Thần (3,3-6), và đó chính là ơn cứu độ đích thực (3,16-17). Các tín hữu đă được cứu có thể “ra vào”: đă được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi và ma quỷ, nhơ Đức Giêsu, họ được hưởng tự do đích thực của các con cái trong nhà Cha (8,34-44). Nơi Người, họ sẽ t́m được đồng cỏ rất bồi dưỡng, đó là bánh và nước hằng sống, có khả năng thỏa măn vĩnh viễn cơn đói khát thiêng liêng của con người (6,35; 4,14).
V́ dường như cc. 8 và 9-10 là hai cách giải thích Đức Giêsu là cửa (mà c. 8 th́ gần với dụ ngôn trên hơn), ta không cần phải nghĩ rằng kẻ trộm và kẻ cướp ở c. 8 (và c. 1) cũng là các nhân vật của c. 10. Kẻ trộm của c. 10 đến chỉ là để ăn trộm, giết hại và phá huỷ, th́ giống với “kẻ nhân danh ḿnh mà đến” ở 5,43, tức là một một đại diện tổng quát của bóng tối đối nghịch với Người Con.
+ Kết luận
Trong ḷng Israel cũng như giữa ḷng Họi Thánh, có hai hạng người: những người thực sự thuộc về người mục tử và chỉ đáp lại tiếng người ấy gọi mà thôi, và những người không đáp lại tiếng mục tử gọi v́ chưa bao giờ thuộc về người ấy.
Đức Giêsu chỉ có một mối bận tâm duy nhất, đó là làm cho các con chiên sống bằng sự sống của Thiên Chúa, ngày càng dồi dào phong phú hơn. Người chính là người Mục tử chân thật đă được Thiên Chúa giao phó đàn chiên cho. Cũng có những mục tử giả, chỉ t́m giết con chiên, theo sự thôi thúc của Satan, tên sát nhân. May mắn là các con chiên chân thật không nghe và đi theo các mục tử giả này, v́ chúng không nhận ra lời họ nói chính là Lời Nói của vị Mục Tử tối cao.
5.- Gợi ư suy niệm
1. Người Pharisêu cho rằng họ hướng dẫn những người khác nhân danh Thiên Chúa; họ rất ghen tị về sự tín nhiệm dân chúng dành cho Đức Giêsu, khiến họ bị mất uy tín thiêng liêng. Vậy giữa họ và Đức Giêsu, có một xung đột về ảnh hưởng. Qua các lời được bài Tin Mừng hôm nay ghi lại, Đức Giêsu xác định cho họ biết đâu là ảnh hưởng mà người Pharisêu đang gây lên trên đàn chiên Israel và đâu là ảnh hưởng mà chính Người đang tạo ra.
2. Đức Giêsu là cửa. Người không loại trừ ai khỏi ơn cứu độ, “Người đă đến là để cho mọi người được sống dồi dào”, kể cả những người Pharisêu đang t́m cách loại trừ Người. Khi khẳng định như vậy, Người muốn cho biết rằng chỉ ḿnh Người mới có thể thông ban ơn cứu độ. Người ta không thể đi vào cạnh tranh với Người. Người là cửa duy nhất đưa đến ơn cứu độ mà tất cả phải chấp nhận đi qua, không ai được miễn chuẩn, dù là những người có một uy quyền hay một thẩm quyền thiêng liêng trong cộng đoàn tín hữu.
3. Xét lại lối sống của chúng ta hôm nay, chúng ta có yên tâm rằng chúng ta đang đi theo Đức Giêsu, vị Mục Tử duy nhất? Và những tiêu chuẩn để xét lại đời sống là: nhận biết tiếng Người và đi theo Người, không nhận biết tiếng mục tử lạ và tránh xa mục tử ấy, đi qua cửa ràn chiên, đang nhận sự sống do chính Mục Tử chân chính cung cấp.
4. Hôm nay chúng ta cũng cầu nguyện để Thiên Chúa ban thêm cho có những mục tử xứng đáng thay mặt Đức Giêsu, Vị Mục Tử chân thật. Để có thể là một mục tử xứng đáng, một vị lănh đạo trong Họi Thánh cũng phải sống tư cách con chiên của Đức Giêsu, cũng ra vào qua cửa ấy và nhận được lương thực nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của ḿnh.