Các bài suy niệm

Chúa Nhật 5 PHỤC SINH (Năm A)

Lời Chúa: Cv 6,1-7; 1Pr 2,4-9; Ga 14,1-12

 

MỤC LỤC

 

1. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt ..

2. “Ḷng anh em đừng xao xuyến."

3. Đường Giêsu – ĐTGM. Ngô quang Kiệt

4. Đường hy vọng.

5. Điều không thể được đă có thể được trong Chúa Kitô.

6. Chúc thư của Chúa Kitô.

7. Xin cho chúng con thấy Chúa Cha.

8. Đi trên con đường Chúa – Lm. Nguyễn hữu An.

9. Suy niệm của nhóm Đồng Hành.

10. Đường t́nh yêu.

11. Khuôn mặt Thiên Chúa.

12. Đường.

13. Niềm tin.

14. Suy niệm của JKN..

15. Con đường.

 
 

1. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

c.1: “Ḷng chúng con đừng xao xuyến”: Sau lời loan báo Giuđa sẽ nộp Thầy (13,18-30), lời loan báo Phêrô sẽ chối Thầy (13,36-38) và lời loan báo Đức Giêsu sẽ ra đi (13,33), ḷng các môn đệ rất hoang mang bối rối. Do đó Đức Giêsu an ủi họ đừng xao xuyến.

“Cứ tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”: Động từ tin được dùng tới 6 lần trong phần này. Điều kiện để khỏi hoang mang xao xuyến là phải tin: tin vào Thiên Chúa và tin vào Ngài.

c.2-3: Đức Giêsu giải thích lư do Ngài ra đi: đi để về nhà Cha và để dọn chỗ cho các môn đệ. Xong xuôi rồi Ngài sẽ trở lại đón các môn đệ cùng đi đến nhà Cha, khi đó thầy tṛ sẽ sum hợp.

- “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở”: Irénée, Clément d’Alexandrie và Origène dựa vào câu này để nghĩ rằng trên thiên đàng có nhiều cấp bậc hạnh phúc. Thực ra câu này chỉ đơn giản nghĩa là thiên đàng có đủ chỗ cho mọi người.

- Sau khi dọn chỗ xong th́ Ngài trở lại cùng đi và thầy tṛ sum hợp.

- “Thầy ở đâu, chúng con cũng ở đó”: “Đức Giêsu nói với các môn đệ “Thầy sẽ trở lại đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó”. Trái lại Người nói với dân Do thái: “Tôi ở đâu, các ông không thể đến được” (7,34) Thế cũng bởi v́ Đức Giêsu ở đâu, kẻ phục vụ Người cũng sẽ ở đó (12,26). Mà các môn đệ chấp nhận làm môn đệ của Người, c̣n dân Do thái th́ không. Nên đúng theo định nghĩa của người môn đệ là “người đi theo”, các môn đệ sẽ được đi theo Đức Giêsu và ở với Người” (Lm Tanila Hoàng đắc Ánh, sđd, trang 210)

- Như thế là Thầy tṛ sẽ sum hợp. Nhưng khi nào? Có người nghĩ là đến ngày Tái lâm (Parousia); kẻ khác nghĩ là ngày chết của mỗi người. Cả hai lối giải thích đều đúng.

* Nếu các môn đệ phải xa cách Thầy măi măi th́ các ông xao xuyến là phải. Nhưng đây chỉ là xa cách tạm thời, sau đó thầy tṛ lại sum hợp, mà sum hợp vĩnh viễn hạnh phúc trong nhà Cha, th́ có ǵ mà xao xuyến!

c.4-7: Câu hỏi của Tôma:

- Tôma là người đa nghi. Dù Đức Giêsu đă nói Ngài đi về nhà Cha, nhưng đối với Tôma, cái “nhà Cha” ấy c̣n mù mờ xa xôi quá. Ông chưa dám dấn thân vào một tương lai không chắc chắn như vậy, nên ông hỏi lại cho rơ: cụ thể Đức Giêsu sẽ đi đâu và các môn đệ sẽ dùng con đường nào để theo Ngài.

- Đức Giêsu giải đáp cả hai thắc mắc của Tôma: cứ đi theo Ngài là đúng đường và sẽ tới đích, v́ Ngài là đường (Le chemin), con đường duy nhất dẫn tới Chúa Cha. “Đức Giêsu đă ví ḿnh với con đường, v́ “đường” là một trong những tượng trưng của Thánh Kinh. Theo Cựu Ước, nghe lời Thiên Chúa gọi là tin tưởng vào Người, dân Israel ra đi và phải trải qua một con đường dài và cực nhọc để tới Đất Hứa. Do đó “đường” là tượng trưng cho cuộc Xuất Hành (Đnl 1,3-33; 2,1-2; 8,2-10 Tv 77,20. 136). Một khi đă vào Đất hứa, dân Israel cũng c̣n phải ăn ở theo đường Thiên Chúa bảo mới được lănh phần thưởng muôn đời (Đnl 32,4; Tv 25,10; 128,1; 147,19-20; Br 3,13-14.37; 4,1). Mà Thiên Chúa đă mặc khải những đường hướng ấy trong Luật Môsê. Do đó, “đường” c̣n là tượng trưng cho Luật Môsê. Trong Tân Ước, Thiên Chúa mặc khải những đường hướng của Người qua trung gian Đức Giêsu. Vị trung gian tuyệt đẳng và sau hết. Do đó, “đường” vẫn c̣n là tượng trưng. Nhưng đối tượng của tượng trưng đă thay đổi, không c̣n phải là đường trong sa mạc, cũng không phải là luật Môsê, mà là Đức Giêsu (Mc 8,34 Mt 16,24 Lc 9,23 Dt 10,20)” (Lm Tanila Hoàng đắc Ánh, sđd, trang 211)

- Sở dĩ Ngài là con đường duy nhất dẫn tới Chúa Cha v́ Ngài là sự thật (chân lư). “Thánh Gioan thường mượn ngôn ngữ của Cựu Ước và của Do thái giáo. Trong ngôn ngữ ấy, chân lư (hay sự thật) có nghĩa là tiếng nói của thánh ư Chúa liên quan đến loài người và đời sống chân lư của loài người. Chân lư ấy, xưa kia, được truyền đạt cho loài người qua trung gian ông Môsê và các ngôn sứ; nhưng ngày nay, chân lư ấy được mặc khải qua trung gian Đức Giêsu (Ga 1,17). Một cách sâu rộng hơn, chúng ta có thể nói rằng Đức Giêsu và Chân lư mà Người mặc khải là một, v́, khác với ông Môsê và các ngôn sứ, Người là Chúa Con nhập thể và, v́ thế, Người là Lời tuyệt hảo của Chúa Cha (1,1.14), là chân lư được Chúa Cha phát biểu bằng cuộc sống và lời nói của Đức Giêsu (17,8.14 1,18)” (Lm Tanila Hoàng đắc Ánh, sđd, trang 211). Nói cách khác, Đức Giêsu là sự thật về Chúa Cha nghĩa là: cứ nh́n vào Ngài là biết Chúa Cha. Tất cả mặc khải Cựu Ước chỉ là chuẩn bị và dọn đường cho mặc khải trọn vẹn và đích thực nằm trong bản thân Đức Giêsu.

- Và cũng v́ Đức Giêsu là đường, là sự thật như thế, nên Ngài cũng là sự sống: “Muốn sống vĩnh cửu, loài người phải nghe và làm theo lời Thiên Chúa phán. Mà Thiên Chúa phán qua trung gian Đức Giêsu (12,50). Hơn nữa Đức Giêsu không phải chỉ nói lời của Thiên Chúa như ông Môsê hay các ngôn sứ. Người chính là Lời tuyệt đẳng của Thiên Chúa. V́ thế chẳng có ǵ lạ khi Người là “sự sống” (Lm Tanila Hoàng đắc Ánh sđd, trang 212)

c.8-10: Câu hỏi của Philipphê:

- Philipphê hơi ấu trĩ, khi nghe nói về Chúa Cha th́ nghĩ đến một cảnh thần hiện theo kiểu ngày xưa Thiên Chúa hiện ra cho Môsê, Êlia, Isaia v.v… và ông muốn ḿnh cũng được thấy cảnh đó như vậy.

- Đức Giêsu đáp “Ai thấy Thầy tức là thấy Chúa Cha rồi đấy”: Thiên Chúa không c̣n hiện ra trên đám mây hay trong những thị kiến. Từ nay Thiên Chúa tỏ ḿnh cho loài người qua h́nh dáng nhân loại của Đức Giêsu. Đức Giêsu là h́nh ảnh mặc khải trọn vẹn Chúa Cha. Thực vậy Đức Giêsu chính là Lời mặc khải trở thành xác thịt và ở giữa loài người (1,14). Khi Lời đă ở giữa loài người th́ tất cả những nơi xưa nay người ta thường đến để gặp Thiên Chúa như đền thờ Giêrusalem hoặc đền thờ Garizim hay bất cứ nơi nào khác cũng đều trở thành vô ích, v́ nơi duy nhất để gặp Thiên Chúa chính là Đức Giêsu. Tại sao? V́ “Thầy vốn ở trong Cha và Cha ở trong Thầy”: Chúa Cha và Đức Giêsu không thể tách rời nhau, cả hai chỉ là một. Tất cả những lời Ngài nói và những việc Ngài làm đều là những lời nói và việc làm của Chúa Cha.

c.11: Đức Giêsu khuyến khích các môn đệ tin rằng Chúa Cha và Ngài luôn ở trong nhau và là một với nhau. Nếu họ chưa thể tin bằng lời của Ngài th́ ít ra hăy tin v́ thấy những việc Ngài làm, tức những phép lạ, những “dấu chỉ” cho thấy có Chúa Cha hoạt động trong Ngài.

c.12: “Ai tin vào Thầy th́ sẽ làm được các việc Thầy làm, lại c̣n làm được việc to hơn nữa”: a/ Các môn đệ được Đức Giêsu thông ban quyền lực của Ngài, nhờ đó họ cũng làm được những phép lạ như Ngài; b/ Nước Trời mà Đức Giêsu lập hiện c̣n rất nhỏ bé, nhưng Đức Giêsu thông quyền giúp các môn đệ mở mang Nước Trời ấy “cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Không phải các ông giỏi hơn Ngài, nhưng hoạt động của các ông sẽ triển khai mầm mống đă được Ngài đặt sẵn. Điều kiện duy nhất để các ông làm được như vậy là phải tin vào Ngài.

KẾT LUẬN

Chúa Giêsu nhắn gởi lời khuyến dụ này cho các môn đồ Người thuộc mọi thời đại. Người kêu gọi họ giữ vững ḷng tin vào Người trong những bước đường tối tăm và trong các cơn dông tố thiêng liêng của cuộc đời, đồng thời hăy dâng cho Người một t́nh yêu quảng đại và vâng phục, t́nh yêu sẽ đặt họ vào trong t́nh yêu thân mật của Ba Ngôi Thiên Chúa và sẽ làm cho họ sống trong b́nh an và hoan lạc của Chúa Giêsu.

Ư HƯỚNG BÀI GIẢNG

1) Bản văn này tóm tắt sứ điệp Tin Mừng Gioan. Nó diễn tả cách gián tiếp điểm đặc trưng và sâu xa nhất của đời sống Kitô hữu. Nó là một phần trong toàn bộ các lời nói của Chúa Giêsu giải thích về chính ḿnh Người. Cùng một trật nó tŕnh bày cho thấy Người là ǵ đối với chúng ta và chúng ta phải trở nên nhất thế nào đối với Người. Chúa Giêsu là một người thật, hoàn toàn giống chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi, nhưng đồng thời được tràn đầy thực tại thần linh sống động đến nỗi trở nên duy nhất và đồng hóa với Chúa Cha trong hữu thể, trong bản chất và trong đời sống: Người mặc khải Chúa Cha cách đích thực, Người mặc khải chúng ta là những kẻ Cha đă ban cho Người và Người muốn rằng Người ở đâu, chúng ta cũng ở đó. Người cầu nguyện và hành động để trong Người chúng ta được thông phần vào sự sống Chúa Cha ban. Ở đây, chúng ta đứng trước một mầu nhiệm dày đặc đối với tâm trí nhưng sáng tỏ cho những ai dấn thân cách sống động nhờ đức tin.

2) “Ḷng các con chớ xao xuyến. Các con tin vào Thiên Chúa, th́ cũng hăy tin vào Ta". Đây là một cách Chúa bảo rằng ṇng cốt đức tin của chúng ta là chính Người, bản thân của Người, sứ điệp Người. Ta có thể tự hỏi: Làm sao Chúa Giêsu Kitô, vốn là Thiên Chúa, lại có thể nói về Thiên Chúa như nói về một Đấng khác với chính Người. Ở đây chúng ta đụng đến một trong những khía cạnh của mầu nhiệm Nhập thể. Nghĩa là mầu nhiệm Thiên Chúa xâm nhập vào thời gian, vào không gian và vào trong những giới hạn của con người. Con Thiên Chúa, có thể nói, là đă tự giới hạn ḿnh vào trong những chiều kích của thực tại nhân loại, mà vẫn không thôi là chính Người. Chúa Giêsu muốn bảo điều này: Con người hữu h́nh của Người dễ gần gũi với hành động đức tin của chúng ta hơn là Thiên Chúa vô h́nh; sự kiện lạ lùng là ḷng tin của chúng ta vào Người làm cho chúng ta đụng đến Đấng không thể nào tới gần được. Khi tin vào người là Chúa Con, chúng ta có thể tin vào Chúa Cha. Mà tin vào Chúa Cha là nguyện vọng và tiếng gọi sâu xa nhất của con người vốn thường bị đau khổ làm cho xao xuyến. Niềm tin tưởng ấy làm cho sự xao xuyến tách ra khơi chúng ta và mang lại b́nh an, sức mạnh, niềm vui.

3) "Ta là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống". Trong cuộc sống của người-không-có-Thiên-Chúa, dường là một hệ thống tư tưởng hay là sự khôn ngoan, sự thật là một chọn lựa giữa nhiều ư kiến, sự sống là một sinh hoạt, một t́nh yêu suy nhược, và thường là một sự chịu đựng. Đối với người-có-Chúa-Kitô, th́ sự sống là một sự thông hiệp mà những khám phá có sức làm được điều ta tưởng là bất kham. Trong Chúa Kitô, người Kitô hữu t́m được đường đi, lối về, nhờ đó họ vượt qua những biên giới của thế gian. Mà tự bản chất là một cánh cửa đóng kín tuyệt vọng. Hơn nữa con đường này, tức là Chúa Kitô, là một lời mời gọi ra đi, tiến tới đằng trước, vươn ḿnh lên măi. Người Kitô hữu khám phá nơi Chúa Kitô câu trả lời cho nhu cầu bí mật mà con người cảm thấy, là phải nương tựa vào một cái ǵ vửng chắc để luôn có thể t́m kiếm măi. "Con sẽ không t́m Ta, nếu con đă không gặp Ta" (Th. Augustin). Sự thật sống động không bao giờ là một cái ǵ hoàn toàn đạt được, nhưng nó bảo đảm với ta rằng nó xác thực. Càng gặp Chúa Giêsu, ta càng t́m kiếm để biết Người hơn. Khỏi phải nói là biết Chúa Kitô là trước tiên sống bởi Người. Khi ta sống bởi Chúa Kitô, phải chăng các thực tại tự nhiên của đời sống đ.eu thay đổi . Không? người Kitô hữu có một sinh hoạt nhân sinh và thực tế như tất cả mọi người, nhưng sinh hoạt ấy được một cái hồn. Có một cách suy nghĩ, một cách chọn lựa mục đích, một cách gặp gỡ con người ... được hướng dẫn bởi sự hiện diện của Chúa Kitô trong cuộc đời. Chúng ta có biết ngạc nhiên về điều không thể làm được lại trở nên có thể được cho chúng ta trong Chúa Kitô không?

 

2. “Ḷng anh em đừng xao xuyến..."

Trước khi rời khỏi thế gian này để về cùng Chúa Cha. Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Ḷng anh em đừng xao xuyến...".

Trong Tin Mừng ngày hôm nay viết về ngày thứ Năm Tuần Thánh vào cuối bữa ăn sau cùng của Đức Giêsu. Quả thật bầu khí của nhóm các môn đệ thật bi thương: Đức Giêsu vừa loan báo sự phải bội của Giuđa và y đă đi ra khỏi căn pḥng vào đêm tối bên ngoài (Ga 13,21-30)... rồi Đức Giêsu bảo rằng Người sẽ ra đi và nơi Người đi, các bạn hữu Người không thể theo được (Ga 13,31-36)... sau cùng, đầy nỗi lo sợ, Đức Giêsu báo trước cho Phêrô rằng ông sẽ chối Người "ba lần" trong đêm hôm ấy trước khi gà gáy (Ga 13,37-38)... Như thế, người ta biết được sự xao xuyến kinh hoàng đang xiết chặt mọi tâm hồn và tư tưởng các môn đệ.

Trong đời sống của chúng ta cũng thế có chăng giờ phút sự sợ hăi kinh hoàng ập xuống trên chúng ta: một tương lai bấp bênh, một thiệt hại không vượt qua được, những suy sụp của tuổi già, một căn bệnh không thể chữa khỏi. Và c̣n có những sợ hăi tập thể: sự thất nghiệp, bạo lực, nạn nhân măn, nạn đói, sự ô nhiễm môi trường, những nguy cơ của nguyên tử. Và trong bối cảnh khủng hoảng ấy, những câu hỏi nghiêm trọng mà mọi tín hữu chân chính phải đặt ra: Những giá trị cao cả của con người chẳng phải đang bị xoá nḥa đó sao? Nhân loại ngày mai sẽ tin vào điều ǵ? Và một ngọn gió hoảng sợ cũng xâm chiếm những tín hữu mạnh mẽ nhất và người ta lẩm bẩm rằng trong Giáo Hội cũng không có ǵ là ổn cả.

Chính trong bối cảnh nhân loại như thế mà tính lạc quan không ǵ thắng nỗi của Đức Giêsu bùng lên như một ngọn lửa nồng nàn, cháy sáng trong đêm tối! Chỉ c̣n mấy giờ nữa Người phải lên thập giá thế mà Người đă cố sức vực dậy tinh thần của các bạn hữu của Người: "Ḷng anh em đừng xao xuyến!”. Chúng ta hăy lắng nghe những lư do Người sẽ đưa ra để chúng ta không bao giờ c̣n sợ nữa, về bất cứ điều ǵ.

"Hăy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy".

Đức Giêsu yêu cầu các bạn hữu bang xao xuyến của Người hướng cái nh́n về một hướng duy nhất: Đức tin thâm sâu xa của Đức Giêsu, vượt qua mọi nỗi sợ hăi không dựa trên sức người, nhưng dựa trên Thiên Chúa. Tất cả, không chừa môït ai đều có thể suy sụp, chỉ có Đức Giêsu nắm giữ sự trợ giúp siêu nhiên nằm bên ngoài ảnh hưởng của mọi sức mạnh phá hoại. Cái chết cũng không thể phá hủy sự b́nh an của Người: Sự b́nh an của Người không do sức con người mà do Thiên Chúa! Vả lại, chúng ta nhận thấy rằng Đức Giêsu đ̣i hỏi đối với bản thân một thái độ đức tin mà người ta có thể có đối với Thiên Chúa. Tính duy lư của con người vỡ tung như một nhân nguyên tử, dưới sức ép khó quan niệm nổi của cái vô cùng thánh thiêng: Làm thế nào mà Đức Giêsu vốn là Thiên Chúa lại có thể nói về Thiên Chúa như một Đấng khác ḿnh? Và điều đó mang lại công thức làm ngạc nhiên: “Hăy tin vào THIÊN CHÚA... Hăy tin vào THẦY…” Vậy th́ Người là ai để nói như thế?

"Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không Thầy đă nói với anh em rồi, v́ Thầy đi dọn chỗ cho anh em".

Phải, đó là mầu nhiệm không thể hiểu thấu của Nhập Thể Đức Giêsu với tư cách con người, phân biệt không ngừng với Thiên Chúa! Người nói về Thiên Chúa như thể đó là một Đấng Khác (Tha Thể Tuyệt Đối). Người nói về Chúa Cha. Không bao giờ Đức Giêsu hướng cái nh́n của con người về chính ḿnh. Không bao giờ Đức Giêsu lôi kéo sự tôn kính hay thờ phượng về bản thân Người: Người hoàn toàn hướng về một Đấng Khác. .. và Người muốn xoay hướng chúng ta về Đấng Khác ấy. Đấng Hoàn Toàn Khác, Đấng mà chưa có ai đă từng trông thấy, tức là Chúa Cha. Như thế, Đức Giêsu đối diện với cái chết của Người, sự ra đi khỏi thế gian này, như một sự trở về nhà ḿnh: Người sẽ t́m lại nơi đó một Đấng mà Người yêu mến và mến yêu Người. Đức Giêsu biết ḿnh được yêu.

Sau những lời làm vỡ tung lư trí, giờ đây là những lời hoàn toàn thân mật, những lời thường nói mỗi ngày: nhà, chỗ ở, dọn chỗ...

Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, th́ Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy”.

Đây là những lời dịu đàng không tả nổi: "Đem về với Thầy... trở lại …” Thiên Chúa tất nhiên là Đấng Hoàn Toàn Khác không thể đạt đến được nhưng cũng là Đấng Rất Thân Thiết. Chúng ta không có một Thiên Chúa dửng dưng và lănh đạm, nhưng là một người Cha đầy t́nh âu yếm, một người Anh để cho những nỗi lo sợ của chúng ta làm thương tổn và Người nói với chúng ta những lời an ủi và thân ái.

"Để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó".

Chúng ta chớ lướt qua nhanh quá trên những lời xem ra có vẻ đơn giản và thân mật một cách ngây thơ. Có cả một thần học được diễn tả xuyên qua mạc khải ấy. Khi dám nói rằng “Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó". Đức Giêsu mở ra cho nhân loại một viễn cảnh có âm vang vô tận, siêu nhân, siêu nhiên: Chính "đời sống thánh thiêng" được ban chúng ta. Mục đích của con người không c̣n ở trong con người, mà ở trong Thiên Chúa? Nhân loại đi về hướng có Đức Giêsu ở đó. Con người đă được lập tŕnh để trở thành "như Thiên Chúa". Người ta hiểu được lời Người nói: “Ḷng anh em đừng xao xuyến!".

“Và Thầy đi đâu th́ anh em biết đường rồi". Ông Tôma nói với Đức Giêsu: "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?”.

Đây là một điệp khúc: "Thầy đi "chúng con không biết Thầy đi đâu...". Đó là câu hỏi nền tảng của nhân loại mà Tôma dũng cảm đặt ra nhân danh chúng ta. Chúng ta sẽ đi về đâu? ư nghĩa, mục đích sau cùng của đời sống là ǵ? Có cái ǵ sau khi chết?

Đức Giêsu đáp: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy”.

Đối với Đức Giêsu, chân trời không bao giờ bị ngăn chặn, gây ra sự tuyệt vọng.

Đối với người tin, ai chấp nhận lời Đức Giêsu, lịch sử sẽ có một ư nghĩa, đời sống sẽ không c̣n phi lư nữa. Đức Giêsu là "người mở đường", Người đă mở ra một lối thoát cho các hữu hạn và cho đăïc tính phải chết của con người. Không có Đức Kitô con người bị giam hăm trong những giới hạn của ḿnh. Với Người, và chỉ với Người, như Người khẳng định có một con đường không dẫn tới cái hố đen của nấm mộ, nhưng về "nhà của Chúa Cha".

“Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng sẽ biết Cha của Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đă thấy Người “.

Câu này của Thánh Gioan là một câu làm hiện ra tính không thể diễn tả của Thiên Chúa, sự "mạc khải” này vẫn c̣n một phần "không thể quan niệm được": ánh sáng... nhưng vẫn c̣n một thứ ánh sáng của đêm tối... ánh sáng của đức tin.

Thật vậy, câu này gồm hai khẳng định bề ngoài trái ngược nhau: Anh em cũng (sẽ) biết Cha của Thầy (ở th́ tương lai)... bây giờ, anh em biết Người (th́ hiện tại).

Rơ ràng là Thiên Chúa không hiển nhiên và thật ra, chúng ta không biết Người. Người ta cũng có thể nói rằng chúng ta hiểu được Người! rơ ràng có một thứ hồ nghi. Không chắc chắn đă xuất hiện trong câu hỏi của Tôma: chúng con không biết...". Tính cảnh của chúng ta hiện nay đúng là như thế. Có thể một ngày nào dó, chúng ta sẽ biết Thiên Chúa. Sự vô tri về Thiên Chúa hôm nay, sẽ biến đổi thành tri thức, như lời Đức Giêsu nói: Anh em sẽ biết Người! Vả lại trong Đức Giêsu, sự hiện diện vô tri của Thiên Chúa chịu một "cú sốc của tương lai" đến độ những thực tại phải đến đă trở thành hiện tại: "Ngay từ bây giờ, anh em biết Thiên Chúa và đă thấy Người?". Có thể nói rằng, bằng một cảm thức siêu nhiên, tướng lai được tiên cảm trong hiện tại đối với những người tin Đức Giêsu: thời sau hết đă ở đó, mặc dù chưa hoàn tất. Giáo Hội, nơi cư ngụ của các tín hữu đă trở thành nơi cư ngụ của Thiên Chúa ở giữa con người" (Khải Huyền 21,3). Một ngày nào đó, chúng ta sẽ có một sự hiểu biết nào đó về Chúa Cha, c̣n bây giờ chúng ta đă hiểu biết Chúa Cha qua bức màn của đức tin. Đó là điều mà các nhà thần học gọi là cánh chung? tương lai được cảm nghiệm trước trong ḷng của các tín hữu trong Đức Giêsu Kitô.

Ông Philípphê nói: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con măn nguyện". Đức Giêsu trả lời: "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao?”.

Mới rồi, chúng ta vừa nghe Đức Giêsu phân biệt Người với Chúa Cha. Giờ đây Người đồng hóa với Chúa Cha. Đức Giêsu đi về với Chúa Cha, Người là con đường dẫn đến Chúa Cha và đồng thời, Người ở trong Chúa Cha và ai thấy Đức Giêsu là thấy Chúa Cha. Đức Giêsu là một con người, nhưng một con người "chứa đầy Thiên Chúa" một con người Thiên Chúa! Chúng ta phải để những từ có vẻ đơn giản ấy thấm nhuần chúng ta: "Thầy ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong Thầy... Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy...".

Phải, có một con người là Giêsu Nagiarét, sống cách nay hai ngàn năm trong một tổng nhỏ ít người biết đến của Đế quốc La Mă, một con người bằng xương bằng thịt đă đứng trên đôi chân của ḿnh và trên một miền đất xác định, đất Israel, một con người có những bạn hữu, một con người ăn uống như mọi người... một người sắp chết như mọi người... và con người này lúc này đây hiệp thông với Thiên Chúa và đồng nhất với Thiên Chúa và hoàn toàn không là một kẻ điên. Một con người quân b́nh tột bậc, khiêm tốn, không tham vọng và kiêu ngạo: một con người vừa mới quỳ gối trước các bạn hữu để rửa chân cho họ như một tôi tớ b́nh thường vào thời đó... đồng thời giao nộp thân thể tan nát, và đă đổ máu ra v́ họ.

"Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự ḿnh nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy chính Người làm những việc của ḿnh. Anh em hăy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy, bằng không th́ hăy tin v́ chính các việc kia vậy. Thật Thầy bảo thật anh em ai tin vào Thầy, th́ người đó cũng sẽ làm được những việc. Thầy làm. Người đó c̣n làm những việc lớn hơn nữa, bởi v́ Thầy đến cùng Chúa Cha".

Thiên đàng không phải là môït sự chạy trốn vào một giấc mơ của tương lai hoang tưởng. Thiên đàng không phải một miếng đường được hứa ban cho sau này để bỏ qua chua cay hiện tại. Thiên Chúa không phải là một thứ thuốc phiện dùng để ru ngủ những đau khổ cho một cuộc đời đời.

Một thiên đàng đă bắt đầu và được cảm nghiệm bởi những người "làm những việc Đức Giêsu làm": Có một cách nào đó để suy nghĩ, để chọn lựa, để gặp gỡ Thiên Chúa và con người, một cách sống nào đó công chính là cách sống của Đức Giêsu.


 

3. Đường Giêsu – ĐTGM. Ngô quang Kiệt

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Ga 14,1-12

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Băn khoăn về nguồn cội con người, thắc mắc về ư nghĩa cuộc đời, thao thức truy t́m cứu cánh của đời người đă tiếp nối bằng bao thế kỷ mà không có được câu trả lời thoả đáng. Con người bơ vơ giữa ngă ba không biết phải đi về đâu. Khi xuống trần, Chúa Giêsu đă cho ta biết nguồn cội của Người là Đức Chúa Cha, ư nghĩa đời Người là thi hành thánh ư Chúa Cha, và cùng đích đời Người là trở về với Chúa Cha. Muốn về với Đức Chúa Cha, ta phải theo một con đường. Đường ấy có tên là GIÊSU. Đường này chắc chắn an toàn đi đến nơi về đến chốn v́ Chúa Giêsu là người mở đường. Người chính là con đường và Người là tâm điểm của đích tới.

Chúa Giêsu là người mở đường.

Đi đâu cũng cần có đường. Không con đường nào tự nhiên có. Phải có người mở đường.

Có người mở ra những con đường vật chất, nhờ có óc phiêu lưu mạo hiểm, có tầm nh́n bao quát, có óc tính toán thực tế.

Có người mở ra những con đường suy tư triết học, sáng tác nghệ thuật, nhờ trí tuệ thông minh xuất chúng, có tư duy sáng tạo, có trực giác bén nhạy, có trí tưởng tượng phong phú.

Nhưng không ai có thể mở con đường lên trời. Đường lên trời hoàn toàn vượt khả năng con người. Phải có Đấng, ấy là Chúa Giêsu, Người đă đến từ Đức Chúa Cha, nay Người trở về cùng Đức Chúa Cha. Người lại hứa dọn chỗ cho ta trong Nhà Cha. Với những thông tin như thế, Người đă cho ta biết Trời chính là Nhà Cha. Quê Trời trở thành Quê Cha. Nước Trời trở thành một cơi đi về thân thương của con người. Con đường đi về ấy, chính Chúa Giêsu đă mở.

Chúa Giêsu là đường.

Không chỉ là người mở đường. Chúa Giêsu chính là con đường. Để về Nhà Cha, ta không chỉ đi theo, đi với mà c̣n phải đi trong Người. Không chỉ đi trong đường lối, trong tinh thần, nhưng trong chính bản thân Người. Như cành nho gắn liền với thân nho và sống bằng sự sống của thân nho. Như bánh rượu tan hoà vào trong máu thịt trở nên thành phần của bản thân ta. Như bản tính Thiên Chúa kết hợp với bản tính loài người trong bản thân Người. Đi trong Người để ta ở trong Người như Người ở trong Chúa Cha. Đi trong Người để ta mang h́nh ảnh của Người, để ai thấy ta cũng như thấy Người, như “Ai thấy Thầy là thấy Cha Thầy”.

Chúa Giêsu là đích tới của con đường.

Đi trong Chúa Giêsu là một hành tŕnh dài. Đi suốt cả đời chưa chắc đă tới.

Để đi trong Chúa Giêsu ta phải từ bỏ hết những ǵ của bản thân ḿnh, kết hiệp trọn vẹn với Người, cũng như Người đă từ bỏ ư riêng để hoàn toàn vâng phục thánh ư Chúa Cha, để trở nên một với Chúa Cha.

Khi đă hoàn toàn từ bỏ hết ư riêng và trở nên một với Người cũng là lúc ta đạt tới đích điểm, là lúc ta gặp được Chúa Cha, là lúc ta ở trong Nhà Cha, là lúc ta đạt tới Quê Hương yêu dấu trên trời.

Lạy Chúa Giêsu là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, xin cho con biết đi trong con đường của Người.

III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU

1) Bạn hăy thử t́m ra những đặc điểm của con đường Giêsu (Vd: hiền lành, khiêm nhường…)

2) Bạn c̣n xa hay đă gần con đường Giêsu?

3) Bạn có mong đi trọn vẹn trong con đường Giêsu không? Nếu muốn, bạn cần những điều kiện nào nữa?


 

4. Đường hy vọng

Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu? Nếu có một câu hỏi nào thường được các môn đệ đặt ra th́ đó phải là câu hỏi thuộc về nơi chốn.

Thực vậy, thuở ban đầu, lúc mới gặp Chúa, các ông đă hỏi:

- Thưa Thầy, Thầy ở đâu?

Và rồi Chúa Giêsu đă trả lời:

- Hăy đến mà xem.

Trước bữa tiệc ly, các ông muốn biết một địa chỉ, một nơi chốn chính xác để mà chuẩn bị, nên đă hỏi Chúa Giêsu:

- Thưa Thầy, Thầy muốn chúng con ăn lễ vượt qua ở đâu?

Và hôm nay trước một tương lai c̣n mù mờ và bấp bênh, Tôma đă hỏi Chúa:

- Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường đi.

Sở dĩ các ông bận tâm về nơi chốn là v́ trong quăng đời theo Chúa, các ông luôn được dẫn vào những cuộc hành tŕnh, nay đây mai đó, không có một địa chỉ, một nơi chốn cố định:

- Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người th́ không có cả chốn để mà tựa đầu.

C̣n cuộc hành tŕnh cuối cùng lại là cuộc hành tŕnh tiến về Giêrusalem để chứng kiến Thầy ḿnh chịu chết trên thập giá. Các ông đă coi đây là con đường thất bại của Chúa Giêsu, đồng thời đă trở nên con đường tuyệt vọng cho các ông. Mấy năm dài miệt mài theo Chúa những mong có ngày tả hữu vinh quang, nào ngờ Ngài lại bị đóng đinh như một tên tử tội… Đúng là dă tràng xe cát biển đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán ǵ.

Khi mọi vốn liếng hy vọng đặt cả vào canh bạc cuộc đời, rồi bỗng dưng lật ngửa trắng tay. Các ông như từ trên cao rớt xuống. Hụt hẫng, chới với, chao đảo. Ước mơ bị sụp đổ, các ông như người bị phá sản. Thế mới hay mơ ước th́ to lớn, nhưng khung đời lại chật hẹp. Mơ ước thật nhiều mà thực tế chẳng được bao nhiêu, nhiều lúc c̣n cay đắng phũ phàng.

Thầy đi đâu? Đằng sau câu hỏi này là tâm trạng hoang mang bất ổn trước một dĩ văng vừa mới khép lại mà tương lai th́ chưa kịp mở ra. Tương lai ấy hoàn toàn đổi mới hay chỉ là một dĩ văng được lặp lai nơi chính bản thân ḿnh. Đă một lần vỡ mộng, các ông băn khoăn là chuyện thường t́nh. Giống như đứa trẻ lỡ một lần bị phỏng, hễ thấy lửa, là tự nhiên rụt tay lại. V́ thế trong câu hỏi: Thầy đi đâu? Cũng nói lên nỗi âu lo rằng ḿnh sẽ đi đâu? Thất vọng về dĩ văng. Hoang mang trước tương lai đó là con đường các tông đồ đă nếm trải.

Thế nhưng, mở đầu đoạn Tin Mừng sáng hôm nay, Chúa Giêsu đă khuyên nhủ các ông:

- Các con đừng xao xuyến.

Đó là một lời an ủi, mở ra một con đường mới, tràn ngập hy vọng và tin yêu. Thực vậy, Chúa Giêsu nói tiếp:

- Thầy đi để dọn chỗ cho các con.

Và như thế một tương lai đă được hé mở. Tương lai ấy không c̣n xa xôi, nhưng đă bén rễ ngay từ cuộc đời này. Sống hiện tại là chuẩn bị cho tương lai. Ngày mai đang bặt đầu từ hôm nay. Hay nói cách khác, cuộc sống trong nước trời phải được chuẩn bị, phải được định h́nh ngay từ bây giờ.

Đi trong hy vọng là nhận ra rằng con người được tạo dựng để hướng tới một mục đích, chứ không phải sống một cách vất vưởng, như thuyền không lái, như ngựa không cương. Và mục đích chúng ta cần phải đạt tới là chính Thiên Chúa trong niềm hạnh phúc bất tận.

Để kết luận, tôi xin mượn lời cầu nguyện của thánh Augustinô:

- Lạy Chúa, Chúa dựng nên con là để cho Chúa, nên con luôn khắc khoải, cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.


 

5. Điều không thể được đă có thể được trong Chúa Kitô

Đoạn này diễn tả cách gián tiếp điểm độc đáo và thâm sâu nhất của cuộc sống Kitô hữu, đồng thời tóm tắt sứ điệp của Phúc Âm theo thánh Gioan. Nó thuộc về toàn bộ lời dạy của Chúa Giêsu nhằm cắt nghĩa về chính thân thế Ngài. Qua đó, Ngài cũng tŕnh bày cho chúng ta rơ Ngài là ǵ đối với chúng ta và chúng ta phải làm ǵ đối với Ngài. Chúa Giêsu là người đích thật, giống chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi. Đồng thời Ngài thấm nhuần thực tại thần linh sống động đến mức giữa Ngài và Chúa Cha có sự duy nhất và đồng nhất về hữu thể, hiện hữu và bản tính. Đối với chúng ta, Ngài là mặc khải chính xác về Chúa Cha, tỏ bầy cá vị, lời nói, hành động của Chúa Cha. Liên kết với Chúa Giêsu là chúng ta liên kết với Chúa Cha. Đối với Ngài, chúng ta là những kẻ Chúa Cha đă ban cho và Ngài muốn rằng Ngài ở đâu chúng ta cũng được ở đấy với Ngài.

Ngài cầu nguyện và hành động để cho chúng ta được chia phần trong Ngài vào sự sống Chúa Cha thông ban. Ở đây chúng ta đứng trước một mầu nhiệm trí khôn không thấu suốt, nhưng cởi mở đón nhận sự dấn thân linh hoạt do đức tin thúc đẩy. Mọi trang của Phúc Âm thánh Gioan đều gợi ra những suy niệm bất tận. Khi đọc qua đoạn văn ngày hôm nay, chúng ta hăy dừng lại đây đó, như khi đi đường chúng ta thấy một phong cảnh mở rộng, làm cho tâm hồn chúng ta cũng như chân trời sáng ngời lên.

1) Tâm hồn các con thôi đừng bối rối. Các con tin nơi Thiên Chúa th́ cũng hăy tin nơi Ta.

Điều này có nghĩa là trọng tâm của đức tin chúng ta chính là Ngài, con người Ngài, sứ điệp Ngài. Người ta có thể thắc mắc: làm sao Chúa Giêsu Kitô cũng là Thiên Chúa lại có thể nói về Thiên Chúa như một ai khác? Ở đây chúng ta chạm đến một trong những khía cạnh của mầu nhiệm Nhập Thể, nghĩa là mầu nhiệm Thiên Chúa đi vào thời gian và không gian, chịu các giới hạn nhân loại. Con Thiên Chúa, tuy vẫn c̣n chức phẩm ḿnh, đă như thể tự thu hẹp theo kích thước của thực tại nhân loại. Chúa Giêsu muốn nói: Con người hữu h́nh của Ngài dễ cho chúng ta đặt ḷng tin sống động hơn Thiên Chúa vô h́nh. Nhờ tin vào Ngài, Chúa Con, chúng ta có thể tin vào Chúa Cha. Mà tin vào Chúa Cha là ước nguyện thâm sâu nhất của con người bị đau khổ dày ṿ. Ḷng tin sống động vào Chúa Giêsu Kitô và qua đó sự quy thuận Chúa Cha chẳng khiến sự bối rối xa ĺa chúng ta, mang lại cho chúng ta an b́nh, vui mừng, sức mạnh sao?

2) Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống

Trong cuộc sống của con người vô thần, đường là một hệ thống tư tưởng hay một minh triết sự thật, là một chọn lựa trong số các ư kiến; sự sống là một hoạt động; một t́nh yêu mong manh, thường là một sự chịu đựng.

Đối với người theo Đức Kitô, sự dấn thân là một thông hiệp mở ra những lối bất khả. Nơi Đức Kitô, người Kitô hữu t́m thấy đường đi, lối thoát vượt qua biên giới của một thế giới khép kín vô vọng. Hơn nữa con đường ấy, chính Đức Kitô, là một lời mời gọi cất bước, tiến tới, đi lên không ngừng. Nơi Đức Kitô, người Kitô hữu khám phá được sự đáp ứng cho nhu cầu kỳ lạ của con người, là cảm thấy cần nương tựa vào một chân lư chắc chắn, nhưng c̣n để rộng chỗ cho việc t́m ṭi. Hơn thế nữa, việc chắc chắn đă t́m thấy kích thích sự t́m ṭi. Ngươi đă không t́m kiếm Ta nếu ngươi đă không gặp Ta rồi. Chân lư sống động không bao giờ là một sở hữu, nhưng cho người ta sự đảm bảo chân thực. Càng gặp Chúa Giêsu, càng t́m biết Ngài. Cần xác định, biết Đức Kitô trước hết là sống bởi Ngài. Khi sống bởi Đức Kitô, các thực tại tự nhiên của cuộc sống có thay đổi không? Không. Người Kitô hữu có một hoạt động nhân loại và thực tế như mọi người, nhưng hoạt động ấy có được một linh hồn. Có một cách suy nghĩ, chọn lựa mục đích, gặp gỡ người khác… do sự hiện diện của Đức Kitô trong cuộc sống điều khiển. Chúng ta có biết ngạc nhiên về việc trong Đức Kitô điều bất khả thi đă được biến thành điều khả thi hay không?


 

6. Chúc thư của Chúa Kitô

Chắc chắn rằng nhiều người trong chúng ta c̣n nhớ rơ chuyện vui đă đọc được từ nhỏ về những người mù đi xem voi, xem xong họ kể lại và bênh vực lập trường riêng của ḿnh về con voi như thế nào. Những người đứng bên cạnh sờ vào lưng con voi th́ nhất định bảo nó giống như một bức tường. Anh mù sờ vào ngà voi th́ cho con voi giống như một ngọn đao nhọn. Người sờ vào răng voi th́ bảo con voi giống như một thanh kiếm ngắn. Người sờ vào chân th́ bảo con voi giống như một cây cột nhà. Người sờ vào lỗ tai th́ quả quyết con voi giống như cái quạt mo.

Chúng ta có thể nói rằng, không ai nói đúng trọn vẹn về con voi và ngược lại không ai có thể nói là sai hoàn toàn, mỗi anh mù đều bị giới hạn và chỉ mô tả con voi dựa theo kinh nghiệm riêng của bản thân, không thể nào nh́n thấy được trọn vẹn con voi như thế nào.

Khoảng cách giữa con người chúng ta và thực tại mầu nhiệm Thiên Chúa là hết sức trổi vượt biết bao nhiêu ngàn lần khoảng cách giữa con voi và người mù sờ nó. Nếu chúng ta muốn biết về Thiên Chúa như thế nào mà chỉ cậy dựa vào khả năng riêng của con người phàm trần, chắc chắn những ǵ chúng ta hiểu biết và nói về Thiên Chúa th́ không biết bao nhiêu lần tệ hơn những lời mô tả của những anh mù xem voi. Chúng ta khao khát hướng về Thiên Chúa, muốn hiểu biết về Ngài v́ chúng ta được tạo dựng giống h́nh ảnh Ngài, nhưng tự sức ḿnh chúng ta không thể thỏa măn được khát vọng sâu xa này, chúng ta cần đến sự trợ giúp của Thiên Chúa, chúng ta cần đến mạc khải của Thiên Chúa, chúng ta cần chính Thiên Chúa đến chỉ đường mạc khải cho chúng ta biết về Ngài, chỉ cho chúng ta biết con đường trở về với Ngài: "Không ai đă thấy Thiên Chúa bao giờ, chỉ Con Một Ngài Đấng hằng ở cùng Thiên Chúa", chỉ Con Một Ngài mới có thể mạc khải cho chúng ta biết chắc chắn mà thôi.

Trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta được dịp nghe lại những lời quả quyết hết sức quan trọng của Chúa Giêsu: "Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy, và ai nh́n thấy Thầy là nh́n thấy Cha Thầy, nếu các con biết Thầy th́ cũng biết Cha". Thiên Chúa đă nhập thể, đă chấp nhận cuộc sống con người, đă dùng những h́nh ảnh con người, đă sử dụng những ngôn ngữ của con người có giới hạn để mạc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa Cha là ai và con đường nào phải đi để trở về với Ngài mà không bị lạc lối.

Chúa Giêsu Kitô đă trở thành h́nh ảnh của Thiên Chúa Cha cho tất cả mọi người chúng ta, Ngài đă đến để mạc khải sự thật của Thiên Chúa Cha cho chúng ta, và Ngài đến để hướng dẫn chúng ta, để đưa chúng ta trở về cùng Thiên Chúa Cha, trở về với Ngài v́ Ngài hằng ở cùng Cha và Ngài cũng muốn cho mỗi người chúng ta đến xin trở thành h́nh ảnh của Ngài cho anh chị em xung quanh. Chúng ta có hănh diện về hồng ân Chúa ban cho và đồng thời khiêm tốn ư thức về trách nhiệm của ḿnh, của mỗi người chúng ta để trở thành h́nh ảnh của Thiên Chúa cho anh chị em xung quanh, trở thành có thể nói được là con đường để anh chị em đi về cùng Thiên Chúa, để trở thành lời mời gọi anh chị em trở về với Thiên Chúa.

Xin Chúa hướng dẫn và biến đổi mỗi người chúng ta mỗi ngày một trở nên h́nh ảnh đích thực của Thiên Chúa nhiều hơn, để giúp nhau sống đức tin về Chúa, đức tin mà chúng ta đă tuyên xưng.


 

7. Xin cho chúng con thấy Chúa Cha

Suy Niệm

Ông Philipphê xin với Thầy Giêsu: "Xin cho chúng con thấy Chúa Cha" (Ga 14,8).

Khao khát của ông cũng là khao khát của biết bao người, những người thiện chí không ngừng t́m kiếm Thiên Chúa, Đấng mà họ gọi bằng những tên khác nhau: Đấng Tối Cao, Đấng Tuyệt Đối, Đấng vượt trên mọi danh...

Con người muốn bắc một nhịp cầu với Đấng siêu việt, muốn có cảm nghiệm và tương quan với Tạo Hóa.

Thiên Chúa đă đáp lại khát vọng Ngài gieo nơi ḷng người khi cho Con Một Ngài làm người, ở giữa chúng ta.

Nơi Đức Giêsu Kitô, chúng ta gặp được Thiên Chúa, dễ gần, dễ thấy, dễ quen.

Thiên Chúa đâu chỉ ở nơi cao thẳm ngàn trùng, Thiên Chúa hiện diện nơi con người Đức Giêsu khiêm hạ. Giữa Ngài và Thiên Chúa Cha có một gắn bó lạ lùng đến nỗi Đức Giêsu dám nói: "Ai biết Thầy là biết Cha" (14,7) "Ai thấy Thầy là thấy Cha" (14,9) v́ "Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy"(14,10).

Lời nói và việc làm của Đức Giêsu chính là lời nói và việc làm của Thiên Chúa (14,10). Toàn bộ cuộc đời Đức Giêsu được Cha chiếm ngự. Ngài như tấm gương trong suốt, phản chiếu khuôn mặt và trái tim Thiên Chúa, đầy nhân ái và bao dung với hết mọi người.

Làm Kitô hữu là làm người như Đức Giêsu Kitô, là trở nên một Giêsu khác cho con người hôm nay, là ước ao nói được rằng: "Ai biết tôi là biết Đức Kitô, ai thấy tôi là thấy Đức Kitô."

Như thế cũng là biết và thấy Thiên Chúa.

"Xin cho chúng con thấy Chúa Cha"

Xin dẫn chúng con đến gặp Thiên Chúa Cha.

Đức Giêsu không phải chỉ là người đưa đường dẫn lối; Ngài tự nhận ḿnh là Con Đường, thậm chí là Con Đường độc nhất dẫn đến Cha: "Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy" (14,6). Mọi con đường cứu độ đều phải đi vào Con Đường Giêsu.

"Thiên Chúa không ban một danh nào khác dưới bầu trời,

để nhờ danh đó mà chúng ta được ơn cứu độ" (Cv 4,12).

Nhân loại được cứu độ nhờ Danh Đức Giêsu, kể cả những ai không biết Ngài - tuy không do lỗi của họ - nhưng đă sống theo những đ̣i hỏi của lương tâm.

Đức Giêsu đă về với Chúa Cha trong vinh quang phục sinh, sau khi đă sống một đời yêu thương tự hiến. Cuộc đời Đức Giêsu trở thành con đường cho chúng ta đi.

Khi chiêm ngắm Ngài trong Tin Mừng, chúng ta biết ḿnh phải nghĩ ǵ, nói ǵ, làm ǵ.

Khi đi vào Con Đường Giêsu, chúng ta cũng trở nên nẻo đường cho con người hôm nay, nẻo đường dẫn đến Giêsu.

Gợi Ư Chia Sẻ

1. Người ta thường nói đạo nào cũng như đạo nào, đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành. C̣n bạn, tại sao bạn là Kitô hữu? Đức Giêsu có ǵ đặc biệt khiến bạn chọn theo?

2. Có khi nào bạn thấy ḿnh bị lạc hướng không? Cách sống của Đức Giêsu trong Tin Mừng có khi nào giúp bạn t́m thấy hướng giải quyết không?

Cầu Nguyện

Lạy Cha, Cha muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư, chân lư mà Cha đă bày tỏ nơi Đức Giêsu, Con Cha.

Xin Cha nh́n đến hàng tỉ người chưa nhận biết Đức Giêsu, họ cũng là những người đă được cứu chuộc.

Xin Cha thôi thúc nơi chúng con khát vọng truyền giáo, khát vọng muốn chia sẻ niềm tin và hạnh phúc, niềm vui và b́nh an của ḿnh cho tha nhân, và khát vọng muốn giới thiệu Đức Giêsu cho thế giới.

Chúng con thấy ḿnh nhỏ bé và bất lực trước sứ mạng đi đến tận cùng trái đất để loan báo Tin Mừng.

Chúng con chỉ xin đến với những người bạn gần bên, giúp họ quen biết Đức Giêsu và tin vào Ngài, qua đời sống yêu thương cụ thể của chúng con.

Chúng con cũng cầu nguyện cho tất cả những ai đang xả thân lo việc truyền giáo.

Xin Cha cho những cố gắng của chúng con sinh nhiều hoa trái. Amen.

 

8. Đi trên con đường Chúa – Lm. Nguyễn hữu An

Phúc Âm Thánh Gioan chương 14 là lời tâm sự của Chúa Giêsu với các môn đệ. Nó có cấu trúc xoay quanh cuộc trở về với Chúa Cha của Chúa Con và vai tṛ độc nhất của Chúa Con trong việc đưa dẫn các môn đệ về với Chúa Cha.

Tôma và Philípphê đă hỏi Chúa hai câu và Chúa đă mạc khải hai chân lư hết sức quan trọng:

* Thầy là đường là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy.

* Ai thấy Thầy là thấy Cha; Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy.

Chỉ có thể đạt tới Cha khi chúng ta đi theo Đấng tự nhận là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Và cũng không ai có thể tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa mà lại không do Thánh Thần. Hiểu biết đích thực về Cha và Con mang dấu ấn Thánh Thần. Chính trong Thánh Thần mà Thiên Chúa là Cha và Đức Giêsu là Con (x. Gm. Bùi Văn Đọc, Thiên Chúa Cha, Đấng giàu ḷng thương xót, trang 184). Thiên Chúa mà mọi tín hữu tôn thờ và yêu mến hết linh hồn, hết sức lực, hết trí khôn, chính là Thiên Chúa hiện thân nơi Đức Giêsu Kitô "Ai thấy Thầy là thấy Cha" (Ga 14, 9) v́ "Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy" (Ga 14, 10).

Toàn bộ Lịch Sử Cứu Độ được xây dựng trên tương quan Cha-Con "Chúa Cha yêu Chúa Con". Hai chữ T́nh Yêu là cách diễn tả sâu thẳm nhất tương qua Cha-Con. T́nh yêu đó được Chúa Giêsu thể hiện qua đời sống nhân hậu, bao dung vô bờ của Ngài. Lời nói việc làm của Ngài chính là lời nói việc làm của Chúa Cha (Ga 14, 10). Toàn bộ cuộc đời của Ngài được Chúa Cha chiếm ngự. Ngài như tấm gương trong suốt phản chiếu khuôn mặt và trái tim Chúa Cha.

Chúa Giêsu dạy cho chúng ta biết về Chúa Cha bằng nhiều cách: bằng lời nói, bằng việc làm, nhưng nhất là chính phận làm Con. Nhiều lần và bằng nhiều cách khác nhau, Đức Giêsu đă nói với con người về Thiên Chúa là Cha, Đấng mà họ phải tin tưởng phó thác (Mt 6, 32), noi gương (Mt 5, 45-48), nguyện cầu (Lc 11,2), phải tôn thờ v́ Ngài là Chúa trời đất (Mt 10,28), là Cha đầy quan tâm ân cần (Mt 6, 25-32) và đặc biệt gần gũi với những kẻ tội lỗi (x. sđd tr. 191).

Điều kỳ diệu và tuyệt vời là chính Đấng Tuyệt Đối, Đấng Toàn Năng, Cao Cả, Chí Thánh Chí Tôn và Hằng Hữu đă có thể trở thành tương đối, thấp hèn, bạn với quân thu thuế với phường tội lỗi, cuối cùng phải chết khổ h́nh. Nơi Đức Giêsu, sự uy nghi của Thiên Chúa tỏ hiện trong khiêm tốn và yếu đuối cách nghịch thường. Điều đó sự khôn ngoan của bậc hiền triết không lư giải được, nhưng nói như Pascal, trái tim lại hiểu được v́ nó có lư lẽ riêng của nó. Thiên Chúa của Đức Giêsu không phải là Thiên Chúa ngự trên toà cao cho người ta sấp ḿnh thờ lạy mà không dám nh́n đến tôn nhan, không dám gọi tên mà chỉ dám cầu xin với niềm sợ hải. Thiên Chúa của Đức Giêsu dễ gần, dễ thấy, dễ quen. Thiên Chúa hiện diện nơi con người Đức Giêsu khiêm hạ. Chính Ngôi Lời làm người đă chọn máng cỏ làm tổ ấm lúc chào đời, đă chọn xóm làng Nadarét làm nơi sinh sống, đă chọn những kẻ thấp hèn trong xă hội làm bầu bạn, đă quỳ gối rửa chân cho các Môn Đệ, rồi chọn cây thập giá làm giường khi chết cùng với hai kẻ cướp làm bạn đồng hành đi vào thế giới bên kia. Thiên Chúa làm người đă chọn nhà Dakêu để tạm trú, chọn người thiếu phụ Samari để gặp gỡ đối thoại, đă chấp nhận cử chỉ biết ơn của người phụ nữ tội lỗi Mađalêna, đă chọn kẻ trộm lành làm ứng viên đầu tiên vào Thiên Đàng, đă chọn Phaolô kẻ bắt bớ Giáo hội làm Tông Đồ Dân Ngoại...

Quả thật Thiên Chúa của Đức Giêsu chẳng giống tí nào với Thiên Chúa các đạo binh của Israel. Người Do thái nghĩ rằng Thiên Chúa chỉ về phe với dân Người chọn, chỉ bênh vực những người Do thái ngoan đạo và lên án nguyền rủa, trừng phạt các dân ngoại cùng người tội lỗi. Thiên Chúa của Đức Giêsu không về phe với kẻ cầm quyền độc ác, người giàu có ích kỷ hay người đạo đức giả. V́ thế các bậc kinh sư, tư tế, kỳ lăo trong dân không chấp nhận Thiên Chúa ấy mà trái lại họ đă giết Đức Giêsu để bảo vệ Thiên Chúa của họ. Họ đă giết Đấng Thánh để bảo vệ đền thờ, đă chà đạp và xoá bỏ "h́nh ảnh Thiên Chúa vô h́nh" (Cl 1, 15) để bảo vệ Thiên Chúa của lề luật.

Thiên Chúa của Đức Giêsu, Thiên Chúa của chúng ta cũng không phải là Thiên Chúa của các triết gia, không phải là Thiên Chúa của các nhà du hành vũ trụ t́m kiếm mà là Người Cha nhân hậu, từ bi, đầy ḷng thương xót. Người chỉ muốn ḷng nhân chứ không cần lễ tế. Người không phải là Người Cha nghiêm khắc độc đoán, Người Cha dễ tính xuề xoà mà là Người Cha yêu thương, tha thứ. Một Người Cha chuẩn bị sẵn sàng quần áo, giày dép, nhẫn đeo tay và vỗ béo con bê chờ sẵn đứa con hoang đàng trở về và hơn thế nữa c̣n ra ngoài ngóng trông rồi vui sướng tiến về phía con đón nó vào ḷng hôn lấy hôn để (Lc 15, 11-32). Ḷng nhân hậu được tỏ bày khi tha thứ. Thánh Phaolô là người cảm nhận sâu xa ḷng từ bi, nhân hậu, thứ tha ấy (2 Cr 3, 7-11).

"Thiên Chúa không ai thấy bao giờ, Con Một, Đấng ở nơi cung ḷng Cha, chính Người đă thông tri" (Ga 1,18). Con người có thể biết Thiên Chúa qua công tŕnh sáng tạo và lịch sử cứu độ, nhưng chưa ai thấy khuôn mặt Ngài. Chính Chúa Con tỏ bày cho nhân loại biết sự thật sâu xa của Thiên Chúa "Ai thấy Thầy là thấy Cha". Qua cuộc sống và lời giảng dạy, Chúa Giêsu đă chỉ cho nhân loại thấy Chúa Cha, một Thiên Chúa là Cha nhân hậu từ bi, đầy ḷng xót thương, tha thứ và c̣n hơn thế nữa Chúa Giêsu là Con đường độc nhất dẫn đến Cha "Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy" (Ga 14, 6). Mọi con đường cứu độ đều phải đi vào Con Đường Giêsu. "Thiên Chúa không ban một danh nào khác dưới bầu trời, để nhờ danh đó mà chúng ta được ơn cứu độ" (Cv 4,12). Nhân loại được cứu độ nhờ Danh Đức Giêsu.

Đức Giêsu đă về với Chúa Cha trong vinh quang Phục Sinh, sau khi đă sống một đời yêu thương tự hiến. Cuộc đời Đức Giêsu trở thành con đường cho chúng ta đi. Đọc và suy niệm Tin Mừng trong tin yêu, Chúa sẽ dạy chúng ta nghĩ ǵ, nói ǵ, làm ǵ. Khi đi vào con đường Chúa đă đi qua chúng ta cũng trở nên nẻo đường cho anh chị em ḿnh, nẻo đường dẫn lối về Thiên Chúa là Cha yêu thương.

 

9. Suy niệm của nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay

Đoạn Phúc Âm này trích dẫn lời Chúa Giêsu trong buổi tiệc ly với mười hai tông đồ. Trước đoạn này là việc Chúa rửa chân cho các môn đệ và Chúa răn dạy một giới răn mới là "Hăy thương yêu nhau..."

Trong buổi tiệc ly, Chúa Giêsu đă biết ai là kẻ phản bội và đă lên án người ấy. Tuy nhiên khi Chúa nói cùng các môn đệ là Người sẽ đi về nhà Chúa Cha để dọn chỗ cho các môn đệ th́ Giuđa đă rời khỏi bàn tiệc.

Trong phúc âm của Thánh Gioan, Chúa Giêsu nhắc đến Chúa Cha nhiều lần như một người rất năng quyền. Nhưng chỉ trong buổi tiệc ly, các tông đồ mới thật sự hỏi Chúa Giêsu về Chúa Cha.

Một Điểm Chính

Chúa Giêsu báo trước là Người sẽ đi khỏi thế gian để dọn chỗ cho các môn đệ trong nhà Chúa Cha. Chúa Giêsu chính là đường, là sự thật và là sự sống, chỉ qua Chúa Giêsu chúng ta mới có thể nối kết được với Chúa Cha.

Suy Niệm

Hăy h́nh dung bạn đang dự buổi tiệc ly cùng Chúa Giêsu và các môn đệ. Khi ấy bạn sẽ nghĩ ǵ? Thái độ của bạn ra sao? Bạn có đặt câu hỏi là Chúa sẽ đi đâu và tại sao Người lại ra đi không?

Thánh Tôma hỏi: "Chúng con không biết Thầy đi đâu th́ làm sao chúng con biết được đường đi?" Nếu Thánh Tôma hỏi tôi, tôi sẽ trả lời như thế nào?

Chúa Giêsu nói rằng Ngài đi dọn chỗ cho tôi ở nhà Chúa Cha. Vậy tôi phải chuẩn bị như thế nào để được Người tiếp đón?

Giữa Đức Chúa Cha và Chúa Giêsu, có một liên hệ đầy thương yêu, trung tín, và mật thiết. C̣n liên hệ của tôi với Chúa th́ sao?

Chúa Giêsu nói: "Nếu con biết Ta, con cũng biết Cha Ta." Tôi biết Chúa đến chừng nào?

 

10. Đường t́nh yêu

Đức Khổng Tử trong giờ phút lâm chung cho gọi thầy Tăng Tử là môn đệ mà ngài đặt nhiều tin tưởng, đến bên giường bệnh và nói:

- Này Tăng Tử con ơi! Trước giờ thầy nhắm mắt ĺa đời, con có điều ǵ thắc mắc về những lời ta đă cùng con thảo luận?

Thầy Tăng Tử đáp:

- Bạch Thầy, thầy quả là bậc chí nhân quân tử. Những lời thầy đă chỉ dạy làm cho chúng con thấy khó mà thực hiện cho trọn vẹn.

Đức Khổng Tử mới nói:

- Này Tăng Tử, trong các điều ta đă giáo huấn có điều đúng, có điều sai. Nhưng có một cái mà ta chắc chắn không bao giờ sai đó là điều ta không biết!

Đức Khổng Tử là bậc thánh hiền, học thuyết của ông đă ảnh hưởng đến bao đời, thế mà trước lúc lâm chung, ông phải tự nhận là ḿnh không biết ǵ. Khác với Khổng Tử là người chỉ đường Đức Giêsu chính là con đường. Trước khi ĺa các môn đệ để về cùng Cha, Người đă khẳng định: “Chính Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy”.

Đức Giêsu chính là Đường, dẫn chúng ta đi từ nhịp cầu đau khổ đến bến bờ vinh quang, từ cơi chết trở về cơi sống, từ đời sống tạm bợ tới cuộc sống vĩnh hằng, từ trần gian tục lụy về quê hương thiên đàng.

Đức Giêsu chính là Sự Thật. Sự thật tuyệt đối, sự thật về một Thiên Chúa yêu thương và cứu chuộc con người. Sự thật sẽ giải thoát chúng ta.

Đức Giêsu chính là Sự Sống. Sự sống vĩnh cửu, sự sống từ cung ḷng Cha ban cho mọi loài được sống. Sự sống đă giải thoát con người khỏi chết muôn đời. Người chính là Đấng cứu độ duy nhất. Cũng như “Mọi con đường đều dẫn tới Rôma”, th́ mọi con đường cứu độ đều phải dẫn đến con đường Giêsu. Tất cả loài người đều được cứu độ nhờ danh của Người, kể cả những con người không biết Người, nhưng sống theo lương tâm ngay lành, đều được Người ban ơn cứu độ. Sách Công vụ Tông đồ viết: “Thiên Chúa không ban một danh nào khác dưới bầu trời, để nhờ danh đó mà chúng ta được ơn cứu độ”.

Con đường của Người là đường phục vụ, đường yêu thương. V́ thế những ai muốn đi trên con đường của Người cũng phải dấn thân phục vụ anh em, và tận t́nh yêu thương con người.

Con đường của Người là đường thánh giá, đường đau khổ. V́ thế những ai bước đi trên con đường ấy cũng phải dám hy sinh bản thân, và sẵn ḷng chịu khổ v́ danh Đức Giêsu.

Hy sinh bao giờ cũng cho tâm hồn nét đẹp cao thượng. Với t́nh yêu, những khó khăn kia dường như nhỏ lại, những vất vả như bị xóa nḥa. Ḷng chúng ta lại thấy vui hơn, cuộc đời thênh thang rộng mở.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đă về với Chúa Cha trong vinh quang sau khi đă sống một đời yêu thương tự hiến. Xin cho chúng con cũng biết đi trên con đường của Chúa, là yêu thương phục vụ anh em, để cuối con đường thập giá và đau khổ chúng con được hợp hoan với Chúa trong vinh quang nước trời.

 

11. Khuôn mặt Thiên Chúa

Nếu gom các h́nh vẽ, các bức tượng Chúa lại để so sánh, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa có nhiều khuôn mặt khác nhau, tùy theo sự tưởng tượng của các họa sĩ và của các nhà điêu khắc.

Từ ghi nhận này, ta có thể liên tưởng đến h́nh ảnh Thiên Chúa mà mỗi người khắc họa cho đời ḿnh. Thiên Chúa chỉ có một, nhưng mỗi người lại h́nh dung về Người một cách khác nhau, tùy theo sự suy nghĩ và sở thích riêng của ḿnh chứ không hẳn đă đúng như h́nh ảnh đích thực của Người. Đây là điều rất quan trọng, bởi chính cái nh́n của ta về Thiên Chúa sẽ chi phối và ảnh hưởng đến niềm tin cũng như cách sống đạo của ta. Ta có thể đưa ra một vài thí dụ:

- Người Do thái đă h́nh dung Thiên Chúa là Đấng thánh thiện tuyệt đối nên Người hoàn toàn tách biệt với những ǵ phàm tục và tội lỗi. Từ quan niệm này họ cũng nghĩ rằng: Nếu muốn là con cái Chúa, người cũng phải sống tách biệt như vậy. Điều này đúng, nhưng không đúng ở chỗ nhân danh Thiên Chúa toàn thiện, người ta coi khinh và loại trừ những người tội lỗi, là những người rất cần đến sự nâng đỡ của mọi người. Vả lại, Thiên Chúa dù ghét tội lỗi nhưng lại rất yêu thương các tội nhân và muốn họ được cứu thoát.

- Có những người h́nh dung Thiên Chúa là một ông thẩm phán khắc nghiệt, chỉ biết ḍ xét tội lỗi của con người để trừng phạt. Nghĩ về Thiên Chúa như thế nên họ sống đạo, họ giữ lề luật chỉ vừa đủ để khỏi bị phạt. Và nghĩ về Thiên Chúa như thế, nên khi thấy một người gặp tai ương hoạn nạn, họ cho rằng đó là người tội lỗi. Quan niệm rằng: Tai ương, hoạn nạn là h́nh phạt của Thiên Chúa vẫn c̣n ăn sâu nơi tâm trí của nhiều người.

- Có người lại tưởng Thiên Chúa là một ông quan thích tham nhũng hối lộ. V́ thế, họ xin lễ, họ dâng cúng tiền bạc vào nhà thờ như để mua chuộc Thiên Chúa chúc lành cho những công việc của ḿnh, kể cả những công việc mờ ám.

- Có người lại nghĩ Thiên Chúa chỉ là một ông thủ kho. Khi cần điều ǵ, họ đến gơ cửa xin Người mở kho để đáp ứng nhu cầu của họ. Nghĩ như thế nên đời sống đạo của những người này thu hẹp lại trong việc xin xỏ. Mà hầu hết chỉ là xin xỏ những nhu cầu vật chất. Nếu Thiên Chúa không đáp ứng điều họ yêu cầu, họ sẽ phản kháng, sẽ trách móc, thậm chí buông những lời xúc phạm đến Người.

- Có những người coi Chúa như một vị thần xa lạ, không liên hệ ǵ tới đời sống của họ, v́ thế họ dửng dưng với Người…

Và c̣n rất nhiều cách nh́n khác về Thiên Chúa. Do đó, cũng có rất nhiều cách sống đạo, nhiều cách sống mối quan hệ đối với Thiên Chúa,

Ghi nhận những cách nh́n như thế về Thiên Chúa để thấy câu hỏi của ông Philipphê rất quan trọng: “Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Cha”. Và câu trả lời của Chúa Giêsu c̣n quan trọng hơn: “Ai thấy Thầy là thấy Cha”. Thiên Chúa là Đấng vô h́nh, nhưng đă trở nên hữu h́nh nơi Đức Giêsu. V́ thế, cứ nh́n vào Đức Giêsu ta sẽ thấy được dung nhan đích thực của Thiên Chúa:

- Nh́n Chúa Giêsu lân la với người tội lỗi để an ủi, để cứu vớt, ta sẽ biết Thiên Chúa không ruồng bỏ người có tội, nhưng yêu thương và tha thứ.

- Thấy Chúa Giêsu đến với những người nghèo khổ, những người đau ốm tật nguyền, ta biết Thiên Chúa là Đấng không vô tâm trước những nỗi thống khổ của kiếp người.

- Nh́n Chúa Giêsu thổn thức trước mộ ông Lagiarô, động ḷng trắc ẩn trước cảnh người mẹ góa đi chôn xác con trai ḿnh, thương cảm đám dân chúng bơ vơ đói khát như chiên không có người chăn, ta thấy Thiên Chúa gần gũi con người biết bao.

- Nh́n Chúa Giêsu qú xuống rửa chân cho các môn đệ, chiêm ngắm Chúa Giêsu quằn quại trên thập giá, ta biết Thiên Chúa yêu thương ta dường nào.

- Nghe Chúa Giêsu xin Chúa Cha tha thứ cho kẻ giết ḿnh, ai dám nghĩ rằng Thiên Chúa thích báo thù và trả oán…V́ Chúa Giêsu biểu lộ khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa, nên nếu muốn thấy Thiên Chúa, muốn hiểu biết Thiên Chúa, th́ phải gần gũi và gắn bó với Chúa Giêsu.Chỉ khi có cái nh́n đúng về Thiên Chúa ta mới có được thái độ sống phù hợp với đạo làm con.

Chớ ǵ chúng ta không bị Chúa Giêsu trách cứ như Người đă trách cứ ông Philipphê: Con theo đạo biết bao lâu rồi mà vẫn chưa biết Thầy, chưa biết Cha ư?

 

12. Đường

Nhà tu đức học nổi tiếng của Ấn độ, cha An tôn Mê-lô có làm một bài thơ, nội dung như sau: “Một hôm lang thang trên phố, tôi thấy một cửa hiệu với hàng chữ: Tại đây có bán chân lư”. Ṭ ṃ tôi bước vào. Cô bán hàng niềm nở đón tiếp tôi và hỏi: “Ông muốn mua loại chân lư nào? Chân lư từng phần hay chân lư toàn diện?”. Tôi cho cô biết dĩ nhiên tôi đang đi t́m thứ chân lư toàn diện, thứ chân lư không pha trộn giả dối, thứ chân lư mà lư trí tôi phải đầu hàng vô điều kiện. Tôi muốn có chân lư đơn thuần và toàn diện.

Cô bán hàng nh́n tôi lắc đầu rồi chỉ sang một cửa hiệu khác, nơi có bán thứ chân lư mà tôi đang đi t́m. Người đàn ông đứng bán hàng nh́n tôi với ḷng thông cảm. Ông chỉ cho tôi xem giá biểu của món hàng mà tôi muốn mua, rồi nói với tôi: “Thưa ông, giá của món hàng rất cao”. Đă cương quyết mua cho được chân lư toàn diện, tôi liền hỏi: “Giá bao nhiêu, xin cho tôi biết”. Người bán hàng trả lời: “Nếu ông muốn mua thứ chân lư này, ông phải trả bằng cả cuộc sống của ông”.

Tôi ra khỏi cửa hiệu, ḷng buồn rười rượi. Tôi cứ nghĩ rằng tôi có thể mua chân lư toàn diện bằng giá rẻ. Th́ ra tôi chưa sẵn sàng để đón nhận chân lư. Tôi vẫn chưa muốn cho đi cuộc sống của tôi. Tôi vẫn c̣n bám chặt vào những xác tín của riêng tôi”.

Bài thơ ngụ ngôn trên đây hẳn muốn nói lên thái độ của nhiều người trong chúng ta đối với Đấng tự xưng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Chúng ta chưa tin tưởng đầy đủ và sống trọn vẹn cho Ngài. V́ thế, bài Tin mừng hôm nay, một lần nữa, nhắc nhở chúng ta hăy khẳng định, hăy xác tín hơn nữa vào Chúa Giêsu.

Tất cả chúng ta đều biết ư nghĩa của con đường. Dù đó là xa lộ hay con đường ṃn, đều có mục đích là để đi. Đường là để đi, nghĩa là đường sẽ dẫn đến nơi nào đó, nên đường không bao giờ là nơi cư trú, mà là để dẫn đến nơi cư trú. Do đó, người nào dùng đường làm nơi cư trú th́ chẳng bao giờ đến nơi cư trú của ḿnh. V́ vậy, chúng ta phải xác định với ḷng ḿnh rằng: Cuộc sống hôm nay ở trần gian là đường đưa đến một quê hương khác. Nếu cuộc sống hôm nay không phải là cùng đích, mà chúng ta lại chọn làm nơi cư trú, tức là chúng ta không lên đường đến nơi chúng ta phải đến. Sống ở đời, ai cũng phải lên đường. Đời là cơi rộng mênh mông. Sống là đi. Nhưng đi về chốn nào? Trong cơi rộng mênh mông ấy, đâu là đường?

Bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đă trả lời cho chúng ta biết: “Ta là Đường, Là Sự Thật và là Sự Sống”. Nghĩa là đường của cuộc đời chúng ta đi là Chúa, những ǵ chúng ta đang thiếu thốn và lo âu đều liên quan đến hạnh phúc của chúng ta. Khi Chúa nói Chúa là Sự Sống, có nghĩa là Chúa là hạnh phúc chúng ta đang túng thiếu. Khi Chúa nói Chúa là Đường, có nghĩa là để dẫn chúng ta tới hạnh phúc đó. Như vậy, Chúa là cùng đích và cũng là phương tiện dẫn tới cùng đích. Chúa là hạnh phúc và cũng là đường dẫn tới hạnh phúc. Chúa là con đường duy nhất, nhưng mỗi người chúng ta lại đi trên đường theo cách riêng của ḿnh, hay mỗi người chúng ta lại có riêng đường đời của ḿnh, nghĩa là mỗi người có một cuộc sống riêng, nên không đường của ai giống đường của ai, và v́ thế nỗi ḷng của mỗi người cũng khác nhau. Quả thực, trên đường đi, chúng ta đă thấy có nhiều quán trọ. Có quán cho chúng ta bóng mát. Có quán bảo chúng ta đừng đi. Mệt nhọc làm chúng ta dừng nghỉ. Chống đối, hiểu lầm, ghen tị, kết án làm chúng ta muốn bỏ cuộc. Và dường như nếu chúng ta càng dừng nghỉ th́ chúng ta càng ngại đi. Nếu chúng ta càng làm quen với lười biếng th́ chúng ta càng ngại ngùng trở về con đường mà Chúa muốn chúng ta sống. Rồi, đường đi cứ thế mà chậm thêm.

Rồi cũng trên đường đi, sao có nhiều quăng thật xấu, gồ ghề như quăng đường Chúa đi xưa. H́nh ảnh đồi Sọ làm chúng ta tính toán, lưỡng lự. Có những quăng đường sao mà tối tăm làm chúng ta hồ nghi không biết có phải là đường thật không? Đây là lúc chúng ta phân vân không biết thánh ư Chúa ở đâu. Và cũng là lúc chúng ta bị cám dỗ nghi ngờ đủ thứ. Nên Chúa đă dặn: “Đường dễ dăi sẽ dẫn đến hư đi”. Và những lúc như thế chúng ta vẫn nghe tiếng Chúa khuyến khích: Cứ đi đi, tuy khó khăn nhưng hứa hẹn cuối con đường là hạnh phúc. Chúa đang đợi chờ ở đó.

Đó là chân lư toàn diện chúng ta phải t́m kiếm và mua cho bằng được. Trần gian có sóng gió, đường về có dài lâu,