Các bài suy niệm Chúa
Nhật 6 PHỤC SINH (Năm A)
Lời Chúa: Cv. 8, 5-8. 14-17; 1Pr. 3, 15-18; Ga. 14, 15-21
Trích trong http://gplongxuyen.net
MỤC LỤC
2. Sự sống mới – ĐTGM. Ngô quang Kiệt
3. Một cuộc đàm thoại liên hệ đến chúng ta
5. Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi
11. Thầy sẽ xin Đấng an ủi đến
Chú giải chi tiết
“Nếu các con yêu mến Ta, các con sẽ giữ các lệnh truyền Ta”. Gioan không bao giờ cho phép t́nh yêu thoái hóa thành t́nh cảm suông hay xúc động thuần túy. T́nh yêu được biểu lộ trong sự vâng phục. Điều này cũng đúng cho t́nh yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha (x. 15, 10).
“Đấng Bầu chữa khác": Được vay mượn tư ngữ văn.g pháp luật tiếng Paraklêtos chỉ người được mời tới bên cạnh bị cáo để giúp đỡ và bênh vực cho đương sự: thành thử nghĩa đầu tiên là trạng sư, người biện hộ. Từ đó, ta thấy xuất hiện nghĩa "Đấng An ủi hăy Đấng chuyển cầu. Nơi Gioan th́ ư nghĩa pháp lư thắng thế. Thần Khí giúp đỡ các môn đồ trong vụ án vĩ đại mà thế gian đeo đuổi chống lại họ, nhưng những tiểu dị vừa nêu trên có thể áp dụng và nhấn mạnh tùy trường hợp. Theo nghĩa Chuyển cầu, th́ Chúa Giêsu cũng là Paraklêtos như Thần Khí. Vậy nếu chỉ có một trung gian duy nhất là Chúa Giêsu (1Tm 2, 5), th́ vẫn có hai Đấng bầu chữa: Chúa Giêsu, "luôn sống để cầu bầu cho chúng ta" (Dt 7,23) và Thần Khí, "Đấng chuyển cầu cho ta bằng những tiếng rên khôn tả" (Rm 8, 26).
“Và Ngài ở trong các con". Nhiều chỉ cảo và thủ sao có giá trị dùng động từ này ở th́ tương lai: Ngài sẽ ở. Người ta có thể đưa ra nhiều lập luận vững chắc để bênh vực cho cả hai lập trường. Tuy nhiên, phần lớn các nhà chú giải gần đây xem ra thích cách đọc: Ngài ở hơn.
“Ta sẽ không bỏ các con mồ côi” Tiếng orphanos cũng được dùng cho các môn đồ không có thầy: xem Platon, Phédon 116a, trong đó các bạn hữu của Socrate được gọi là những orphanoi khi ông chết, và xem Lucien, De morte Peregrini 6.
“Ai yêu mến Ta, sẽ được Cha Ta vêu mến”. Gioan không muốn nói riêng t́nh yêu của Thiên Chúa bị lệ thuộc vào sự vâng phục của con người, điều ấy sẽ mâu thuẫn với 3, 16; 13, 34; 15, 9. 12; 17, 23. Tư tưởng của ông, trong lúc này, tập trung vào mối liên hệ hỗ tương giữa Chúa Cha, Chúa Con và các tín hữu -xem 13, 34. Bởi v́ các môn đồ yêu thương lẫn nhau, nên dưới mắt người đời họ là những thành phần của gia đ́nh Thiên Chúa; t́nh yêu của họ đối với Chúa Giêsu và sự hiệp nhất giữa họ với Người chứng tỏ là Chúa Cha yêu thương họ trong Người. Trước đó, xét như là thụ tạo, họ đă được Chúa Cha yêu mến rồi (1Ga 4, 10); nay với tư cách là Kitô hữu, họ c̣n hơn là một sự ngoại trưng của mầu nhiệm Nhập thể; họ là ngoại trưng của nhân cách tập thể của Đầu Nhiệm Thể.
KẾT LUẬN
Trong thời gian của Giáo Hội, thời gian chúng ta đang sống, Chúa Giêsu vẫn hiện diện với Cha Người và với Thần Khí. Sự hiện diện ấy được thể hiện cho tất cả những ai mở ḷng đón nhận Ba Ngôi Thiên Chúa. Nó là sự thông giao, thông hiệp, v́ không phải là một hiện diện trừu tượng, "vô tính" nhưng hiện diện hỗ tương, hiện diện theo nghĩa mạnh của hạn từ. Sự hiện diện của Chúa Giêsu đối với chúng ta bây giờ gần gũi hơn, thắm thiết hơn, hữu hiệu hơn là khi Người c̣n tại thế, bởi v́ nay Người hiện diện như Đấng được tôn vinh, như Chúa cánh chung hằng ban cho chúng ta Thần Khí và làm cho chúng ta đi vào. trong sự thông hiệp đời sống với Chúa Cha. V́ vậy chúng ta phải nói đến một sự hiện diện trong khiếm diện. Nối tiếp cách hiện diện lịch sử của Chúa Giêsu, có một cách hiện diện mới là hiệp nhất với Chúa Giêsu và Chúa Cha, dưới sự hướng dẫn của Thần Khí.
Ư HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Trong bài Tin Mừng của phụng vụ hôm nay, Chúa Giêsu hứa sai một Đấng Bầu Chữa. Danh xưng lạ lùng này, vốn không có trong cách dùng thông thường của ngôn ngữ chúng ta, là chữ phiên dịch từ một kiểu nói Hy Lạp có nghĩa ‘được kêu tới bên cạnh…’; các tiếng đồng nghĩa với nó có thể là: người trợ giúp, trạng sư, kẻ nâng đỡ ... Khi Chúa Giêsu nói đến một vị Bầu chữa khác, ta có thể nghĩ rằng chính Người là Đấng Bầu chữa đầu tiên là Vị rồi đây được sai đến với các sứ đồ sẽ làm cho họ hiểu hơn về Người; Ngài sẽ là kẻ mặc khải, bảo vệ Chúa Kitô trong tâm hồn người tín hữu chống lại các cơn cám dỗ và bách hại của thế gian.
2) “Thần Khí ... mà thế gian không thể lănh nhận”. Tiếng “thế gian" ở đây phải hiểu là toàn bộ các quyền lực phản nghịch với Thiên Chúa và Đấng Kitô của ngài Thần Khí của thế gian này thiết yếu là một năo trạng bất nhất, một bầu khí thiêng liêng nhiễm độc do nhiều sai lầm và ngu đại, do óc kiêu căng cố chấp và tự măn ngớ ngẩn, một thái độ tâm lư và luân lư đóng kín con người lại. Thế gian ấy không tin cả đến sự khả hữu thần tính của Chúa Kitô và bởi thế cũng chẳng tin việc Thần Khí ngự đến. Ở chỗ khác, Chúa Giêsu có nói là Người sẽ cầu xin Chúa Cha che chở các môn đồ người, tức chúng ta hôm nay, cho khỏi thế gian tội lỗi này.
3) “Ai yêu mến Ta sẽ được Cha Ta yêu mến”. Chúng ta gặp lại ở đây, dưới h́nh thức rơ ràng và đánh động hơn, một trong những chân lư cơ bản thường năng được tŕnh bày trong Tân Ước. Tương quan giữa chúng ta với Chúa Giêsu cấu tạo nên tương quan với Chúa Cha. Vâng giữ lệnh truyền của Chúa Giêsu là vâng phục Chúa Cha; cầu nguyện với Chúa Giêsu là cầu nguyện với Chúa Cha; ca tụng Chúa Giêsu, tức nh́n nhận thực thể của Người trong niềm thán phục và vui mừng, là phó thác vào Chúa Cha."Các con sẽ phải khốn quẫn, nhưng hăy vững ḷng! Ta đă thắng thế gian" (Ga 16, 33).
4) Sự hiện diện hữu h́nh của Chúa Giêsu không phải là tất cả. Sự hiện diện của Người trong nội tâm c̣n quư trọng hơn. Như thánh Phaolô, chúng ta không nên tiếc v́ đă chẳng sống vào thời của Tin Mừng. Thật là nguy hiểm khi chỉ biết Chúa Giêsu qua những vẻ bên ngoài theo xác thịt, mà không sống mật thiết với Người trong Thần Khí.
5) Thánh Thần là hồng ân được ban cho chúng ta như hoa quả mà Chúa Kitô thâu lượm được nhờ cuộc Tử nạn của Người. Chính khi làm cho chúng ta đồng hóa với Chúa Kitô mà Thánh Thần đặt trong chúng ta tâm t́nh con thảo mà Chúa Cha mong đợi nơi chúng ta. Như thánh Phêrô nói: “Tất cả những ai được Thần Khí tác sinh, đều là con cái Thiên Chúa”. Quả thế, không phải anh em đă nhận lấy Thần Khí của hàng nô lệ để mà phải sợ hăi; nhưng anh em đă nhận lấy Thần Khí của hàng nghĩa tử làm cho chúng ta thốt lên: Abba, Cha! Chính Thần Khí chứng thực cho thần hồn ta rằng: ta là con cái Thiên Chúa (Rm 8, 14- 16). "Ta sẽ không để các con mồ côi. Ta sẽ trở lại với các con". Chúa Giêsu đă đến làm cho chúng ta thành nghĩa tử của Cha Người. Người đă đến bằng con đường nhập thể để thực hiện kế hoạch t́nh yêu đó.
2. Sự sống mới – ĐTGM. Ngô quang Kiệt
I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Ga. 14, 15-21
II. TẤM BÁNH CHIA SẺ
Nếu các Tin mừng Matthêu, Marcô và Luca mời gọi ta vào Vương quốc Thiên Chúa, th́ Tin Mừng Gioan mời gọi ta vào t́nh yêu Chúa Giêsu Kitô. Thánh Gioan là người sống sau cùng. Sau khi đă nghiền ngẫm tất cả cuộc đời và những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, thánh nhân nghiệm ra cái cốt lơi của cuộc sống người môn đệ là t́nh yêu Chúa Giêsu Kitô, là kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô, là sống sự sống của Thiên Chúa.
T́nh yêu đó không phải là thứ t́nh yêu mơ mộng lăng mạn nhưng là một t́nh yêu sáng suốt của lư trí. T́nh yêu đó không phải là chuyện đuổi bướm, hái hoa, rung động, xúc cảm, nhưng là một t́nh yêu với những việc làm cụ thể. Việc làm cụ thể đó là tuân giữ những điều Chúa Giêsu truyền dạy.
Đó chính là bí quyết Chúa Giêsu truyền lại cho các môn đệ, trước khi Người giă từ các ông để đi vào thế giới đức tin. Từ nay để gặp gỡ Người, để yêu mến Người, để sống với Người, cần phải có đức tin và t́nh yêu.
Tin và Yêu là đôi mắt giúp ta nh́n thấy những sự thực siêu nhiên. Người không tin và không yêu sẽ không nh́n thấy như lời Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng hôm nay: “Thầy ban cho anh em Thần Chân Lư, Đấng mà thế gian không thể đón nhận được v́ thế gian không thấy và không biết Người”. Cũng như kiến thức y khoa là khả năng chuyên môn giúp người bác sĩ nhận dạng được các loại vi trùng, định đúng được bệnh trạng của bệnh nhân; hoặc như kiến thức về thảo mộc của nhà thực vật học giúp họ nhận dạng phân loại và biết rơ đặc tính của những loài cây cỏ, Tin và Yêu cũng phải là khả năng chuyên môn giúp người môn đệ Chúa nhận ra những sự thực siêu nhiên, nh́n thấy, nhận biết và đón nhận Thiên Chúa.
Tin và Yêu, như vậy, là con đường dẫn đưa ta tới gặp gỡ Thiên Chúa.
Với đức tin và t́nh yêu, người môn đệ Chúa không c̣n thấy Thiên Chúa là một Đấng xa vời, mơ hồ, nhưng là một Đấng gần gũi, rất thật. Với đức tin và t́nh yêu ta sẽ gặp được Đức Chúa Cha, Đấng thương yêu, luôn chăm sóc cho ta, luôn mời gọi ta, luôn muốn ấp ủ ta, luôn muốn tha thứ cho ta.
Với đức tin và t́nh yêu, ta sẽ gặp được Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, trong Sách Thánh, trong những lời giáo huấn của Giáo hội và trong những anh em sống quanh ta.
Với đức tin và t́nh yêu, ta sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Thánh Thần khi Người đốt lên trong tim ta ngọn lửa yêu mến, khi Người thúc đẩy ta dẫn thân phục vụ, khi Người soi sáng cho ta những sáng kiến trong những hoạt động mới.
Nhưng quan trọng nhất là: Tin và Yêu là hai cánh cửa mở vào sự sống thần linh. Tin và Yêu không chỉ cho ta nh́n thấy Chúa, gặp gỡ Chúa mà c̣n cho ta được tham dự vào sự sống của Chúa. Sự sống đó là hiệp thông, như lời Chúa Giêsu nói: “Ai có và giữ các giới răn của Thầy, người ấy là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, th́ sẽ được Cha của Thầy yêu mến”.
Chúa Cha ở trong Chúa Con và như Chúa Con ở trong Chúa Cha, ta sẽ được ở trong sự sống mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi và thật kỳ diệu, Ba Ngôi đến ở trong ta. Ở trong người nào tức là được người ấy yêu thương. Hiệp thông trong yêu thương là một thái độ cởi mở: mở tâm hồn ra để cho đi và nhận lănh sự sống. Nhờ Tin và Yêu, ta mở ḷng ra đón nhận Thiên Chúa, sự sống mới, sự sống sung măn, sự sống vĩnh cửu.
Đúng như lời Chúa Giêsu nói: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi”. Ai nhắm mắt đức tin, sẽ không nh́n thấy Chúa, sẽ trở thành mồ côi. Ai đóng cửa t́nh yêu, sẽ không gặp được Chúa, sẽ sống trong cô độc. Nhưng người môn đệ Chúa, nhờ có đức tin và t́nh yêu sẽ gặp được Thiên Chúa Ba Ngôi. Và như thế việc ra đi của Chúa Giêsu không những không thiệt hại mà c̣n ích lợi cho ta. Sự ra đi của Người dẫn ta đi đến kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi trong sự sung măn, sự sống dồi dào.
Nhưng để đạt tới điều Chúa Giêsu đă hứa, ta hăy nhớ lại một lần nữa lời Người căn dặn: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em hăy giữ các giới răn của Thầy”. Đức tin được thể hiện bằng t́nh yêu. T́nh yêu được chứng minh qua hành động. Đó là ch́a khoá của đời sống Kitô hữu.
III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU
1) Theo bạn, t́nh yêu mến Chúa là những t́nh cảm bồng bột hay những việc làm cụ thể theo lư trí?
2) Có bao giờ bạn cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống không?
3) Bạn có cố gắng làm chứng cho người khác về sự hiện diện của Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện và bác ái của bạn không?
3. Một cuộc đàm thoại liên hệ đến chúng ta
Bài đọc này được trích từ một đoạn dài Phúc Âm theo thánh Gioan chương 13 đến 17, được gọi là diễn từ trong bữa tiệc ly. Thánh Gioan thuật lại cuộc đàm thoại của Chúa Giêsu với các môn đệ trong khoảng một vài giờ trước khi chịu nạn. Một không khí thân ái mật thiết ở cường độ phi thường đă khiến đoạn Phúc Âm này thành một trong những bài văn tuyệt mỹ. Điều khiến chúng ta lưu ư hơn hết là giá trị, một sứ điệp liên quan đến chúng ta, v́ chúng ta quả hiện diện trong tâm tưởng Chúa Giêsu khi Ngài nói chuyện với các môn đệ. Những điều Ngài nói về sự liên kết giữa các ông với Ngài, về sự liên kết giữa họ với nhau, về việc gặp gỡ Chúa Cha, về việc Chúa Thánh Thần đến, tất cả trực tiếp liên hệ đến chúng ta và bắt chúng ta tỏ thái độ. Mỗi câu đều đáng dừng lại suy niệm. Hăy để mỗi người t́m ra câu đáp ứng nguyện vọng và ơn nhận được.
Ở đây, chúng ta ghi nhận các ư sau:
1) “Nếu các con yêu mến Ta, các con sẽ giữ các giới răn Ta”
Mạch văn toàn thể Phúc Âm thánh Gioan cho chúng ta biết hai giới răn (mà thực chỉ là một) là kính mến Thiên Chúa như Cha và yêu mến mọi người như anh em. Chính v́ muốn các môn đệ là môn đệ của t́nh yêu nên Chúa Giêsu cầu xin Chúa Cha để họ được nhận lănh Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần được gọi là Đấng bầu chữa, vị trạng sư, Đấng trợ lực. Chúa Giêsu đă báo cho các môn đệ hay Ngài sẽ không c̣n hiện diện với các ông trong h́nh thể khả giác và vật lư như những ngày chung sống. Nhưng Ngài sẽ không bỏ các ông, Ngài sẽ hiện diện bằng một cách sâu kín hơn trước đặc biệt bằng Thần Khí của Ngài. Thần Khí sẽ bảo vệ, trợ lực, ǵn giữ họ. Cả với chúng ta là những kẻ không được biết Chúa Giêsu trong lịch sử, hôm nay chúng ta cũng được nghe dạy rằng, Chúa Thánh Thần trợ lực và ǵn giữ chúng ta. Chúng ta có nghĩ rằng lời Chúa phán ở một thời nhất định có giá trị sống động hiện thời đối với chúng ta hay không?
2) “Thánh Thần … mà thế gian không thể lănh nhận”
Chữ ‘thế gian’ ở đây phải hiểu theo nghĩa chung các quyền lực phản nghịch Thiên Chúa và Đấng Kitô của Ngài. Tinh thần thế gian này chính yếu là một tâm trạng bất ổn, một bầu không khí nhiễm độc v́ sai lầm và ngu dại v́ kiêu ngạo thâm căn và tự măn ngây ngô, một khuynh hướng tâm lư và tinh thần khép kín con người lại chính ḿnh. Thế gian ấy không tin được cả đến việc có thể có thần tính của Đức Kitô, và do đó khó có thể tin được việc Chúa Thánh Thần đến. Đàng khác, Chúa Giêsu nói ‘Ngài cầu xin Cha Ngài ǵn giữ các môn đệ khỏi thế gian’, nghĩa là ǵn giữ chúng ta hôm nay đây.
3) “Ai yêu mến Ta sẽ được Cha Ta yêu mến”
Chúng ta gặp lại ở đây một trong những chân lư căn bản thường được diễn tả trong Tân Ước nhất, tŕnh bày một cách dễ lưu ư: tương quan của chúng ta với Chúa Giêsu, cấu tạo tương quan của chúng ta với Chúa Cha. Tuân theo các giới răn của Chúa Giêsu, tức là tuân theo Chúa Cha, cầu khẩn với Chúa Giêsu là cầu khẩn với Chúa Cha; ca tụng tôn vinh Chúa Giêsu, nh́n nhận trong thán phục và vui mừng địa vị của Ngài tức là ca tụng tôn vinh Thiên Chúa; tin tưởng Chúa Giêsu là tin tưởng Chúa Cha: các con sẽ chịu gian nan, nhưng hăy vững ḷng, Ta đă thắng thế gian (Ga 16,33).
Mỗi khi đi tham dự đám tang của một người cha, hay của một người mẹ trẻ vừa mới nằm xưống, nh́n giải khăn xô buộc hờ hững trên mái đầu xanh, chúng ta cảm động như muốn khóc lên được. Đứa bé ngây thơ nh́n những nắm đất được ném xuống ḷng huyệt lạnh. Nó chẳng hiểu ǵ cả. Nó đâu có biết rằng chết là ra đi vĩnh viễn, hai bờ bến ngàn trùng xa cách. Nó tưởng rằng ba nó hay mẹ nó đi thăm ông bà nội ngoại, mai mốt sẽ về và cho nó thật nhiều quà. Người khác nh́n vào sẽ cảm thấy chua xót và khóc thầm cho cuộc đời của nó. Ngày mai nó sẽ ra sao? Lớn lên, nó mới hiểu được rằng: mất cha, mất mẹ là một nỗi bất hạnh quá lớn không thể lalm cho vơi giảm, là một mất mát quá to không thể nào bù đắp.
V́ thế, người Âu châu có một ngày lễ rất đẹp vào Chúa nhật thứ hai trong tháng năm, đó là là ngày lễ của những người mẹ. Ngày lễ này được tổ chức để ghi nhớ công ơn mẹ hiền. Và những ai c̣n mẹ, khi đi ra ngoài đường sẽ được cài một bông hồng trên áo, để nói lên rằng người ấy thật hạnh phúc v́ c̣n được sống bên người mẹ của ḿnh.
Nếu có dịp ghé thăm một cô nhi viện, chúng ta sẽ thấy những em bé mồ côi quấn quít bên chúng ta, mong muốn được nói chuyện với chúng ta v́ các em thiếu vắng một t́nh yêu thương chăm sóc.
Từ những kinh nghiệm cụ thể ấy, chúng ta dễ dàng hiểu được lời Chúa phán:
- Thầy không bỏ các con mồ côi.
Thực vậy. Trước khi từ giă các môn đệ, Chúa Giêsu đă cầu nguyện cho các ông, đă căn dặn các ông những điều cuối cùng và nhất là đă trăn trối cho các ông bổn phận phải yêu thương nhau. Ngài đă phác họa cho các ông thấy cả một tương lai đen tối:
- Họ đă bắt bớ Thầy, th́ họ cũng sẽ bắt bớ các con.
Tuy nhiên, để các ông được yên tâm, không hoảng sợ, không thất vọng, Ngài đă hứa ban Chúa Thánh Thần cho các ông và nhất là đă hứa ở với các ông một cách mầu nhiệm:
- Thầy không bỏ các con mồ côi.
Bây giờ, chúng ta đi vào lănh vực cá nhân của mỗi người. Thực vậy, đời sống giống như một mặt biển đầy băo táp. Vậy băo táp ấy là ǵ? Đó là những tội lỗi, những khuynh hướng xấu xa, những lo lắng về tiền bạc vật chất… Tất cả là như những con sóng mốn nhận ch́m con người bé bỏng chúng ta. Thế nhưng, người Kitô hữu không hề hoảng sợ và thất vọng, bởi v́ chúng ta không chiến đấu đơn độc một ḿnh, nhưng chúng ta chiến đấu bên cạnh những người anh em khác và nhất là chúng ta chiến đấu cùng với Chúa Giêsu. Ngài luôn ở bên chúng ta. Có Ngài, chúng ta sẽ làm được tất cả. Có Ngài, chúng ta sẽ vượt qua được mọi gian nan thử thách. Có Ngài, chúng ta sẽ chiến thắng vẻ vang. Chúng ta không phải là những đứa trẻ mồ côi, lạc lơng giữa chợ đời, nhưng chúng ta bước đi trong t́nh thương của Chúa, một người Cha nhân từ và giàu ḷng xót thương.
Người ta kể lại rằng: Sau nghi lễ đăng quang, Đức Piô XI đă trở về pḥng riêng, ngồi vào chiếc ghế vị tiền nhiệm là Đức Bênêdictô XV, tự nhiên một nỗi lo âu xâm chiếm. Ngài nh́n thấy con đường trước mặt thật tăm tối: Một Giáo hội bị tấn công về mọi mặt. Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất vừa chấm dứt, nhưng chiếc ng̣i nổ vẫn c̣n âm ỉ. Trong lúc chán nản, ngài đă làm công việc duy nhất mà một người lo âu có thể làm, đó là qú xuống cầu nguyện. Trong khi cầu nguyện như thế, tay ngài đưa ra và chạm vào một bức ảnh c̣n lại trên bàn giấy của đức Bênêdictô. Ngài cầm bức ảnh ấy lên xem và bổng nỗi lo sợ tan dần. Tâm hồn ngài tràn ngập an b́nh. Đó là bức ảnh Chúa Giêsu đang truyền cho sóng gió yên lặng. Từ đó, ngài luôn để bức ảnh ấy trên bàn và mỗi khi lo âu chuyện ǵ, ngài liền nh́n vào và nhớ lại rằng: Chúa Giêsu chỉ cần phán một lời là sóng yên biển lặng.
Chúa Giêsu ở trong chúng ta và Ngài đă mang lại sự b́nh an cho tâm hồn. Bởi đó, giữa những cơn sóng gió của cuộc đời, chúng ta hăy bắt chước các môn đệ, chạy đến với Ngài và nài xin: Lạy Chúa, xin cứu chúng con, kẻo chúng con chết mất. Chắc chắn Chúa sẽ không để chúng ta mồ côi, nhưng Ngài sẽ nâng đỡ để chúng ta vượt thắng được những gian nan thử thách và luôn trung thành phụng sự Ngài.
5. Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Lời hứa sẽ hiện diện giữa các môn đệ.
Đoạn Tin Mừng Chúa Nhật trước kết thúc với lời loan báo rằng sứ mệnh của Đức Giêsu sẽ sinh hoa kết quả trong thời gian và không gian qua việc làm của các tín hữu "Ai tin vào Thầy sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó c̣n làm những việc lớn hơn nữa v́ Thầy đến cùng Chúa Cha".
- Trước tiên. câu 16 và 17 là lời hứa ban Chúa Thánh Thần: "Thầy, Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn măi: đó là Thần Khí sự thật "
Thánh Thần được Chúa Cha ban xuống nhờ sự can thiệp của Chúa Con. Nhiệm vụ của Ngài là: "ở với anh em luôn măi". Đây cũng chính là ư nghĩa của tên Ngài. v́ thế, đây là môt sự hiện diện thường xuyên, "luôn măi", sự hiện diện như bóng với h́nh bên người tín hữu và ở với họ "với anh em...bên cạnh anh em...trong anh em."
- Ngài được gọi là Đấng Bảo Trợ. Ngài sẽ là trạng sư của các môn đệ Chúa và là đấng bào chữa cho họ. Ngài sẽ phụ lực và giúp đỡ họ trong vụ kiện sống c̣n mà "thế gian" theo đuổi để chống lại Đức Giêsu và các môn đệ Ngài.
- Ngài được gọi là Thần Khí sự thật: Ngài sẽ đào sâu đức tin cho họ, làm cho họ hiểu biết "tận đáy ḷng” cuộc sống Đức Giêsu và sứ điệp của Ngài (xem Gioan 14,25;16,12-15) Ngài sẽ soi rọi những hoàn cảnh mới và bất ngờ mà các môn đệ sẽ phải đương đầu.
- Tiếp theo sau, các câu 18-20 là lời hứa ban một kiểu Hiện Diện khác của Đức Giêsu: "Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không c̣n thấy Thầy, Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy v́ Thầy sống và anh em cũng sẽ đuợc sống."
Lời hứa về sự hiện diện hoàn toàn mới mẻ này sẽ trờ thành hiện thực vào chính ngày lễ Phục sinh:các môn đệ sẽ thấy Đấng Phục sinh (Gioan 20, 20-25)nhưng những cuộc hiện ra trong dịp phục sinh không phải là kết thúc. Chúng mở màn cho một Sự Hiện Diện kéo dài, một sự Hiện Diện dành riêng cho con mắt đức tin. Cuộc "đăng tŕnh" của Đức Giêsu khơi nguồn một kỉ nguyên mới "khởi đầu với vinh quang phục sinh của Chúa và kéo dài trong thời gian với Giáo Hội . trong suốt cuộc sống chúng ta, Chúa đến, chúng ta nh́n thấy người. đây không c̣n phải là thị kiến của các môn đệ trước Đấng Phục Sinh nữa mà là một thị kiến của niềm tin giúp ta ư thức về sự hiện diện và hiệp thông đời sống" (Assemblées du Seigneur số 27,p.42)
2. Cuộc sống vĩnh hằng đă khởi đầu.
Trong thời đại của Giáo Hội, Đức Giêsu hiện diện cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Tiếp sau sự hiện diện lịch sử của Ngài là một kiểu hiện diện mới mang lại cho chúng ta một nếp sống mới, hợp nhất với Đức Giêsu và Chúa Cha dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
Như vậy, với các môn đệ, đời sống vĩnh cửu đă bắt đầu. cuộc sống họ "ngay trên trần gian này đă tương đương với cuộc sống của Đấng Phục Sinh, đă thông phần với cuộc sống của chính Thiên Chúa, với cuộc sống của Chúa Ba Ngôi. Cuộc sống họ là một sự hiệp thông, trong t́nh yêu, với từng ngôi Thiên Chúa đang ở trong họ." (M.E.Boismard và A. Lamouille, "tin mừng thánh Gioan" Cerf,p.360) "Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không c̣n thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy v́ Thầy sống và anh em cũng sẽ sống, Đức Giêsu hứa như vậy. Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em."
BÀI ĐỌC THÊM:
1) Một cuộc sống mới: (G. Bessière, trong "Thiên Chúa thật gần - Năm A”. Desclie de Brouwer, 1992, tr.64-65).
Rơ ràng, điều quan trọng ở đây là có được mối tương liên cá biệt với Đức Giêsu hay đúng hơn, được "yêu mến Ngài". Các Phúc Âm Mt, Mc, Lc. mời gọi ta tiến vào Nước Trời. Phúc Âm Gioan, xuất hiện trễ hơn, không đề cập đến nước Trời ấy nữa mà tập trung vào Đức Giêsu và qui kết về Ngài.
H́nh ảnh cây nho và cành nho biểu hiện rơ rệt về điều đó: mỗi môn đệ đều kết hợp trực tiếp với Đức Kitô. Người ta đă có thể nói về "tính đồng đẳng" của thánh Gioan: theo Ngài, mọi người phải sống với Đức Giêsu bằng mối dây t́nh yêu. trong ḷng cộng đoàn tín hữu, mỗi Kitô hữu trực tiếp trao đổi với Ngài.
T́nh yêu này không hàm hồ. Nó không phải là một thúc đẩy cảm tính về một h́nh ảnh mơ hồ qua đó người ta có thể dự phóng những giấc mơ của ḿnh. "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy." Đây là một t́nh yêu với những việc làm cụ thể. Toàn bộ Phúc Âm là một bằng chứng về cuộc sống mới đă khởi đầu nơi Đức Giêsu: Phải tái sinh, phải mở mắt, phải uống nước vọt lên từ nguồn suối, phải ăn bánh hằng sống, phải để Đức Giêsu rửa chân và chúng ta phải làm đầy tớ cho nhau... một cuộc sống khác đă khai mở, cuộc sống của chính Thiên Chúa, đúc kết nơi Đức Giêsu.
Tin Mừng của thánh Gioan diễn ra trong bầu khí căng thẳng. Sự cắt đứt với với Do Thái giáo đă chín mùi, và sự đối đầu thật gay go. Tác giả Tin Mừng thứ tư hết sức cứng rắn với người Do thái. Ngài nhấn mạnh đến thần tính của Đức Giêsu, Đấng từ trời xuống. Từ nay, ngoài Ngài ra, không c̣n con đường nào khác. các môn đệ sẽ không ngừng đón nhận sự tự do của Ngài và cùng khám phá với Ngài cuộc sống yêu thương.
Nhưng làm sao có thể sống thân thương được với một người mà kỷ niệm đă xa mờ trong quá văng? Khi Tin Mừng thánh Gioan được soạn thảo xong, thế hệ những chứng nhân bằng xương bằng thịt đă qua đời. Chỉ c̣n lại những bản văn, những lời chứng, những mẩu chuyện và những lời nói uyên thâm cho phép ta không ngừng gặp gỡ Đấng vĩnh hằng. Song c̣n hơn thế nữa: c̣n có một Đấng luôn ở cạnh bên, như một trạng sư hay một Đấng Bảo Trợ, đó là Thần Khí sự thật.
Nhờ Ngài, công việc của Đức Giêsu sẽ luôn hiện thực trước những hoàn cảnh mới. Thánh Thần sẽ không lập lại những lời nói cũ ṃn nhưng Ngài cách tân chúng theo ḍng đời luôn luôn đổi mới.
Chính trong Ngài mà mối tương giao dấu ái với Đức Giêsu sẽ không ngừng nối kết những con người qua các thế kỷ. Nó hệt như một ngọn lửa luôn chiếu sáng và sưởi ấm cơi ḷng.
2) Một Đấng Bảo Trợ khác: H. Denis, trong "100 từ ngữ nói lên niềm tin" Desclee de Brouwer, 1993, tr.161-162.
Đấng Bảo Trợ, là từ Hy Lạp, thoạt đầu, theo nghĩa luật pháp, tức là trạng sư, người trợ lư, người bảo vệ. Về sau, từ này được dùng theo nghĩa rộng để chỉ người an ủi và người can thiệp giúp. Có điều lạ là từ này được áp dụng cho Đức Giêsu (trong thư thứ nhất của thánh Gioan 2,1): "Nhưng nếu ai phạm tội, th́ chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng Công Chính" c̣n hầu hết th́ chỉ Chúa Thánh Thần. v́ thế, nếu gán cho Chúa Thánh Thần mọi phẩm tính trên, ta sẽ thấy, nếu chỉ có một ḿnh, người ta sẽ khó sống trung thành với Đức Kitô tới mức nào.
Nhưng đây cũng chính là sứ điệp của Đức Giêsu: Các con sẽ không mồ côi, một ḿnh. Đức Kitô vô h́nh nhường chỗ cho Đấng Bảo Trợ các tín hữu, mang đến cho họ những kháng độc tố cần thiết cho cuộc sống công chính theo Tin Mừng giữa muôn vàn thử thách. Tốt đẹp biết bao khi tin rằng- từ khi Đức Giêsu ra đi trong ngày Ngài lên trời- tất cả những ǵ được Đức Kitô thực hiện trên trần gian này một cách hữu h́nh đều do những người nam và người con đă mạo hiểm với niềm tin dũng cảm, đôi khi phải trả giá bằng chính cái chết của ḿnh.
Chính v́ họ không đơn độc. Vị đạo diễn vĩ đại, hợp nhất toàn cả vũ trụ, hợp nhất Giáo Hội chính là Đấng Bảo Trợ vô h́nh, Người ân ban sức mạnh tràn trề cho những người yếu đuối nhất và ḷng can đảm cho những kẻ nhát đảm nhất. Niềm ủi an của Chúa Thánh Thần sẽ như ngọn lửa lan truyền giữa các tín hữu từ đời này cho tới đời kia.
Điều Chúa Giêsu dạy ta hôm nay là: “Nếu anh em yêu mến Thầy th́ sẽ giữ các giới răn của Thầy”. Lời dạy xem ra nghe không êm tai mấy, bởi v́ giữa t́nh yêu và lề luật có vẻ như xung khắc với nhau. T́nh yêu gợi cho ta cảm giác êm đềm, dịu ngọt, t́nh yêu làm cho đời ta vui tươi thoải mái, trong khi đó các giới răn, các luật lệ lại gây cho ta một cảm giác g̣ bó, trói buộc và mất tự do. Thánh Augustinô cũng đă nói: “Hăy yêu đi rồi muốn làm ǵ th́ làm”. Nói như thế có nghĩa là trong t́nh yêu th́ không cần lề luật ǵ nữa. Vậy mà Chúa Giêsu lại ghép việc tuân giữ giới răn vào chuyện yêu thương như một điều kiện không thể thiếu. Điều này xem ra không ổn.
Tuy nhiên, nếu suy nghĩ kỹ ta lại thấy lời dạy của Chúa Giêsu rất hợp t́nh hợp lư và không có ǵ là không ổn cả. Có thể nói: Yêu mến và việc tuân giữ các lề luật chỉ là một ḍng chảy duy nhất và rất tự nhiên. Tuân giữ các giới răn là sự thể hiện ra bên ngoài t́nh yêu ở bên trong. Chẳng hạn:
- Vâng phục cha mẹ là cách diễn tả rất tự nhiên của ḷng hiếu thảo và yêu mến mà con cái dành cho cha mẹ.
- Chấp nhận mưa nắng dăi dầu để kiếm cơm áo cho con cái, chấp nhận gian khổ để chu toàn trách nhiệm trong gia đ́nh là một tỏ bày t́nh yêu con cái của những bậc làm cha mẹ.
- Không ngoại t́nh, không phản bội là một đ̣i hỏi đương nhiên của t́nh yêu vợ chồng.
- Chính Chúa Giêsu cũng đă thể hiện t́nh yêu đối với Chúa Cha qua việc thi hành mọi sự theo ư muốn của Cha.
Và mọi mối liên hệ yêu thương khác cũng thế. Chỉ yêu trong ḷng mà thôi th́ chưa đủ, nếu không muốn nói đó chưa phải là yêu mến thật sự.
Do đó, ḷng yêu mến Chúa thực đ̣i ta giữ giới răn của Người. Điều đó rất tự nhiên. Bởi khi yêu nhau, người ta sẵn sàng chấp nhận gian khổ, chấp nhận hy sinh v́ nhau. Người ta cũng sẵn sàng làm theo ư của nhau nếu đó là những ư muốn chính đáng. Điều cần nói ở đây là việc ta tuân giữ giới răn của Thiên Chúa chẳng đem lại lợi lộc ǵ cho Người, nhưng đem lại lợi ích cho chính chúng ta. Bởi lẽ, lề luật của Chúa là một hàng rào cần thiết để bảo vệ ta được an toàn và khỏi rơi xuống vực thẳm tội lỗi. Đồng thời chúng cũng là những bảng chỉ đường giúp ta đi đúng con đường dẫn đến sự sống, đến hạnh phúc. Biết như vậy nhưng dường như ta vẫn cảm thấy khó khăn và ngại ngùng khi phải tuân giữ, phải thực thi các giới răn của Người. Phải chăng chủ trương đạo tại tâm lại chẳng phản ảnh việc chối từ thực thi giới răn của Thiên Chúa đó sao?
Chúa Giêsu cũng biết những khó khăn và ngại ngùng ấy của ta. Chính v́ vậy, Người đă hứa ban cho ta Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ ở với chúng ta, sẽ trợ lực, sẽ ban sức mạnh để giúp ta sống và thực thi những điều Người đă dạy ta. Chúa Thánh Thần đă đến với ta ngày ta lănh nhận bí tích Rửa tội và đặc biệt qua bí tích Thêm sức. Người vẫn c̣n ở với ta để hướng dẫn và nâng đỡ ta trong suốt cuộc đời. Chỉ có điều là ta có đón nhận sự hiện diện, sự nâng đỡ, có lắng nghe sự hướng dẫn của Người hay không mà thôi.
Câu chuyện kể về một cha sở mới, khi về nhận nhiệm sở, với bài giảng đầu tiên làm cho họ đạo hồi hộp và thích thú. Chúa nhật tuần sau, bổn đạo đi lễ mong chờ cha sở mới giảng dạy thêm những điều khác, ai ngờ ngài lại nói y như bài giảng tuần trước. Vào tuần lễ thứ ba, rồi Chúa nhật thứ tư, ngài cũng đă giảng y như vậy, bổn đạo hết sức buồn bă. Sau cùng, một buổi họp hội đồng giáo xứ đă được triệu tập để xin cha sở cắt nghĩa về thái độ lạ lùng của ngài. Giáo dân hỏi: “Bộ cha chỉ có một bài giảng đó thôi sao?” Ngài trả lời: “Không. Tôi có vài bài giảng, và tôi cũng c̣n đang soạn thêm. Nhưng v́ quí ông bà vẫn chưa thi hành điều nào trong bài thứ nhất cả, nên tôi vẫn phải nhắc lại cho đến khi những lời giảng đó được thi hành”.
Bài Phúc Âm hôm nay, gồm những câu trích từ bài giă biệt dài của Chúa Giêsu với các môn đệ trước khi Người bị bắt và chịu chết. Người hứa: “Nếu các con nhân danh Thầy mà xin điều ǵ, chính Thầy sẽ làm điều đó”. Với điều kiện: “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy”. Đang khi dạy về luật yêu thương, Chúa Giêsu đă chứng tỏ hành vi tối thượng của t́nh yêu: ban chính ḿnh Người một cách hoàn toàn, tất cả và vô điều kiện cho nhân loại. Và Người cũng ra lệnh cho mỗi người: “Hăy yêu mến nhau như Thầy đă yêu thương các con”. T́nh yêu này phải được chứng tỏ bằng hành động, phải thật sự hiến thân để đi theo Người. Bởi Người đă trở thành khuôn mẫu của sự thánh thiện của chúng ta.
Cách đây không lâu, một bác sĩ giải phẫu người Mỹ đă vâng theo tiếng gọi của Chúa Giêsu, yêu thương tha nhân bằng cách ban tặng chính bản thân ḿnh cho họ. Ông đă trở nên một nhà truyền giáo phục vụ trong ngành y khoa. Từ bỏ quê hương, ông đi tới một ḥn đảo xa xôi trên biển Thái B́nh dương, nơi dân chúng sống nghèo khổ, bệnh tật v́ thiếu thuốc. Sau một thời gian, để tạo sự bất ngờ cho bác sĩ, vị mục sư ở Mỹ đă đến thăm ông mà không báo trước. Khi mục sư đến, ông bác sĩ đang sửa soạn giải phẫu cặp mắt của một em bé gái 8 tuổi. Vị mục sư đă quan sát cuộc giải phải xảy ra qua cái cửa sổ của một căn cḥi nhỏ. Sau ba giờ đồng hồ, bác sĩ đi ra khỏi pḥng mổ và nói: “Đôi mắt của cô bé rất tốt. Em sẽ mau khỏi bệnh”. Rồi ông đi ra gặp mục sư của ḿnh. Khi bàn về cuộc giải phẫu vừa mới xảy ra, mục sư hỏi: “Ông sẽ được trả bao nhiêu tiền cho cuộc giải phẫu đó nếu ông giải phẫu ở Mỹ?” “Chừng 3000 đô la, tôi đoán như vậy”, bác sĩ trả lời. “Vậy ở đây người ta trả ông bao nhiêu?” mục sư hỏi. “Tôi không biết nữa, chỉ vài xu và nụ cười của Thiên Chúa” ông bác sĩ nói. Rồi đặt tay lên vai mục sư, ông lay nhẹ và nói, “Nhưng lạy Chúa, cuộc sống ở đây thật tuyệt vời!”
Món quà t́nh yêu của Thiên Chúa ban nhưng không cho ta qua Đức Giêsu Kitô, mặc dù là vô giá, nhưng không phải là không có điều kiện. Giống như tất cả các loại t́nh yêu, T́nh Yêu Thiên Chúa cũng có những đ̣i hỏi. Và một trong những đ̣i hỏi nặng nề nhất của Người, một đ̣i hỏi thường xuyên, đó là chia sẻ t́nh yêu thương đó cho tha nhân. Khi chúng ta đáp lại lời mời gọi: “Hăy yêu mến nhau như Thầy đă yêu thương các con”, chúng ta sẽ có được cái cảm giác hoan lạc giống như vị bác sĩ: “Nhưng lạy Chúa, cuộc sống ở đây thật tuyệt vời!”.
Thánh Phanxicô Atsidi có ḷng mến Chúa và yêu người rất sâu xa. Một hôm, ngài gặp một người bạn, người này nói với ngài rằng ông ta không thể nào yêu mến Thiên Chúa được. Đang khi hai người đi đường th́ gặp một người hành khất vừa mù vừa què ngồi bên lề đường. Ngài dừng lại hỏi người hành khất: “Này anh, nếu tôi chữa cho anh thấy được và đi được th́ anh có yêu mến tôi không?”. Người hành khất trả lời: “Dạ thưa ngài, không những tôi yêu mến ngài, mà tôi c̣n xin dâng hiến trọn phần c̣n lại của đời tôi để phục vụ ngài”. Nghe câu trả lời của người hành khất xong, thánh Phanxicô quay sang nói với người bạn: “Đấy anh thấy không, người hành khất này chỉ thấy được, đi được mà c̣n hứa với tôi như thế huống hồ là anh, anh không những được Chúa dựng nên với chân tay mắt mũi lành lặn, Ngài c̣n chịu chết để cứu chuộc anh nữa, đang khi đáng lư ra anh phải chết v́ tội của anh, vậy mà anh lại không yêu mến Chúa sao?”.
Yêu Chúa, đó là bổn phận của mỗi người chúng ta, nhưng như thế nào là yêu Chúa? Bài Tin Mừng hôm nay, chính Chúa Giêsu trả lời cho chúng ta: “Ai giữ các giới răn của Chúa là yêu mến Chúa”. Như vậy, yêu mến Chúa là giữ các giới răn của Chúa. Giữ ở đây không thể hiểu theo nghĩa thụ động, nghĩa là đem chôn giấu, nhưng phải hiểu theo nghĩa tích cực, nghĩa là có sáng kiến đem các giới răn của Chúa ra thực hành trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.Nhưng đâu là các giới răn của Chúa? Ai mà không biết đạo Chúa có mười giới răn. Nhưng điều đặc biệt là mười giới răn ấy được tóm rất gọn trong một tiếng thôi, đó là tiếng “Yêu”: Yêu Chúa với t́nh yêu của một người con hiếu thảo, và yêu người với t́nh yêu như Chúa yêu ta. Ngắn gọn hơn nữa, chính Chúa c̣n cho chúng ta biết: chỉ cần xét xem chúng ta có yêu người không là đủ, nghĩa là muốn biết chúng ta có yêu Chúa không và yêu Chúa như thế nào, th́ chỉ cần xét xem chúng ta có yêu người không và yêu người ra sao.T́nh yêu phải được thể hiện bằng việc làm, chứ không căn cứ trên lời nói suông mà thôi. Bởi v́ ngôn ngữ của t́nh yêu là những hành động cụ thể. Ánh mắt tŕu mến và âu yếm vuốt ve của người mẹ đối với đứa con có giá trị hơn bất cứ một quyển sách biên khảo nào về t́nh yêu. Những mồ hôi nước mắt, những hi sinh từng ngày của người cha giúp cho con cái hiểu được thế nào là yêu thương, hơn bất cứ lời dẫn giải nào về t́nh yêu. Và có lẽ cũng dư thừa để bảo rằng khi hai người yêu nhau, th́ sự thinh lặng và cử chỉ âu yếm có sức hùng hồn hơn là những lời nói hoa mỹ nhưng trống rỗng.Thiên Chúa là t́nh yêu, Ngài tỏ t́nh, Ngài bộc lộ t́nh yêu với con người, không chỉ bằng lời nói suông mà bằng cả một lịch sử: Những can thiệp, những thể hiện cụ thể. Một t́nh yêu không được chứng tỏ bằng những hành động cụ thể đối với tha nhân là một t́nh yêu thiếu sức thuyết phục, nếu không nói là giả h́nh, giả dối. Đạo Kitô của chúng ta là đạo của t́nh yêu, không viết lên hai chữ t́nh yêu bằng những hành động cụ thể đối với tha nhân, người đó chỉ là một người Kitô giả hiệu. Một đức tin không việc làm là một đức tin chết, th́ một ḷng mến không được thể hiện bằng hoa trái của ḷng mến là một ḷng mến giả tạo.Như mẹ Têrêxa đă nói: T́nh yêu thương ấy cần được thể hiện với những người gần gũi với chúng ta hơn, từ những người trong gia đ́nh chúng ta trước hết. Những người chỉ biết mơ mộng thực hiện những việc anh hùng nơi chân trời xa xăm nào đó, trong khi đó lại lăng quên những cơ hội ngay trước mắt, đó hẳn là thứ t́nh yêu thiếu thực tế biết bao. Nếu chúng ta thực sự yêu mến Chúa, hăy chiếu giăi t́nh yêu đó trong gia đ́nh và cho những người chung quanh, hăy dùng t́nh yêu nồng thắm trong trái tim chúng ta để sưởi ấm cho cha mẹ, anh chị em trong gia đ́nh và những người chung quanh.Trong một xă hội đầy những ích kỷ, hai chữ t́nh yêu vẫn c̣n rất mù mờ trong nhiều người. Sứ mệnh của người Kitô chúng ta chính là viết lên một cách rơ ràng hai chữ t́nh yêu. Chúng ta không chỉ viết lên bằng những lời nói suông mà bằng những cử chỉ cụ thể của ḷng bác ái. Những ḍng chữ được viết lên bằng mồ hôi nước mắt, bằng quên ḿnh chia sẻ... có giá trị hơn bất cứ một quyển sách nào, cho dù quyển sách đó in bằng bạc bằng vàng. Thiên Chúa thắp lên trong tâm hồn chúng ta t́nh yêu của Ngài và Ngài mong muốn chúng ta chiếu tỏa t́nh yêu ấy đến với mọi người, như bài hát chúng ta vẫn hát: “Thắp sáng lên trong con t́nh yêu Chúa. Thắp sáng lên trong con t́nh tuyệt vời. Để con hân hoan đem tin yêu đi về muôn lối, tựa như mưa tuôn mưa hồng ân Chúa trên trần đời”.
Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu cho biết mối liên hệ giữa ḷng yêu mến Chúa và việc tuân giữ các điều răn của Chúa: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy”, “Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy”. Như vậy, yêu mến Chúa th́ giữ các điều răn, và ngược lại, giữ các điều răn là yêu mến Chúa.
Các điều răn Chúa nói ǵ? Và giữ các điều răn thế nào để chứng tỏ chúng ta yêu mến Chúa? Hiểu theo nghĩa chật, đó là bản giao ước được ghi vào bia đá. Bản giao ước đó chính là Mười Điều răn, mà dân Do thái gọi là “Những lời của giao ước” hoặc “Mười Lời”. Hiểu theo nghĩa rộng là tất cả những điều Thiên Chúa truyền dạy. Ngày nay, đạo của chúng ta cũng dạy rất nhiều điều: nào là Tin Mừng, nào là mười điều răn Đức Chúa Trời, sáu điều răn Hội Thánh, nào là luật Giáo Hội. Trong tất cả những luật ấy, chúng ta không biết điều nào là chính điều nào là phụ, sự phân vân thắc mắc đó, ngay từ xưa chính Chúa Giêsu đă giải đáp: điều chính, điều quan trọng nhất, tóm tắt tất cả những ǵ mọi Kitô hữu phải giữ và thực hành, đó là điều răn yêu mến “ Mến Chúa, yêu người. Ai giữ hai điều này th́ kể là giữ tất cả những điều khác, trái lại, ai giữ tất cả những điều khác mà không thực hành ḷng mến Chúa yêu người th́ kể như không giữ ǵ cả.
Tóm lại, người Kitô có nhiều cách để biểu lộ ḷng yêu mến của ḿnh đối với Chúa, nhưng cụ thể nhất là giữ các điều răn Chúa dạy, cách riêng là điều răn mến Chúa yêu người. Hơn nữa, chỉ cần xét xem chúng ta có yêu người không là đủ. Nghĩa là muốn biết chúng ta yêu Chúa thế nào th́ chỉ cần xét xem chúng ta đă yêu người ra sao. Và t́nh yêu đó phải được thể hiện bằng những việc làm, những hành động cụ thể.
Truyện cổ tích Ả Rập kể rằng: Có một người bán thịt nướng rất keo kiệt và khó tính, v́ tính khí khó chịu của anh ta nên cửa hàng luôn bị ế ẩm, anh đă làm đủ mọi cách để câu khách nhưng chẳng ai thèm mua. Có một người ăn xin ngồi bên lề đường, thèm thuồng nh́n những miếng thịt nướng treo lủng lẳng, rồi ông móc trong bị ra một khúc bánh ḿ, lẳng lặng đem hơ nóng trên khói, hy vọng khói thịt sẽ ướp vào miếng bánh. Sau đó, ông ngồi ăn miếng bánh cách ngon lành. Anh chàng bán thịt nh́n thấy, chạy ra túm áo người ăn xin đ̣i tiền. Người ăn xin phân trần: “Tôi đâu có mua thịt của anh, khói thịt đâu có phải là thịt”. Anh bán thịt quát lên: “Khói thịt cũng thuộc về miếng thịt, ông phải trả tiền cho tôi”. Hai người căi nhau, không ai chịu ai và đưa nhau đến quan ṭa xét xử. Vị quan ṭa truyền cho người ăn xin móc ra một đồng tiền cắc và ném xuống nền nhà phát ra tiếng kêu, ông nói: “Đây là giải pháp công bằng nhất, người ăn xin hưởng khói thịt của anh ta, và anh th́ hưởng âm thanh đồng tiền của ông ta. Thế là công bằng nhé”.
Nghe qua câu chuyện trên, có thể chúng ta sẽ cười chê thái độ ích kỷ, keo kiệt, vớ vẩn của người bán thịt, thế nhưng rất nhiều khi trong cuộc sống chúng ta đă cư xử với tha nhân như thế. Việt Nam chúng ta có câu chuyện về một người cha tham ăn đang nướng mấy con cá, người mẹ dỗ dành vỗ về đứa con nhỏ khóc đ̣i ăn: “Nín đi, để xem có con nào nhỏ rồi ba cho”. Anh chồng quát lên: “Cho cái ǵ? Không có con nào nhỏ cả, con nào cũng bằng nhau”.
T́nh thương không chia sẻ, không liên đới là t́nh thương không mạnh đủ hay là t́nh thương không có thật. Trước những nhu cầu bức thiết của người anh em, nhiều người đă tránh né, chạy trốn bằng những câu trả lời: “Chừng nào tôi đủ ăn, dư mặc tôi sẽ cho”. Hay “để lúc khác, bây giờ tôi không có thời giờ”. Và cái lúc khác sẽ không bao giờ đến, v́ người ta có trăm ngàn lư do để biện minh cho thái độ thiếu ḷng thông cảm, thiếu t́nh thương của ḿnh.
Người Kitô hữu có nhiều cách để biểu lộ ḷng yêu mến của ḿnh đối với Chúa, nhưng cụ thể nhất là giữ các điều răn Chúa dạy, cách riêng là điều răn yêu người, nghĩa là muốn biết chúng ta yêu Chúa thế nào th́ chỉ cần xét xem chúng ta đă yêu người ra sao. Như vậy, qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đă chỉ cho chúng ta biết một bằng chứng, một dấu hiệu để chứng tỏ chúng ta yêu mến Chúa là tuân giữ các điều răn của Chúa, nhất là điều răn yêu người. Chúng ta hăy sống thế nào để ḷng yêu mến Chúa không chỉ giới hạn trong việc thờ phượng hay trong những sinh hoạt tôn giáo, mà phải được thể hiện bằng cả cuộc sống yêu thương của chúng ta. Chúng ta hăy xin Chúa cho chúng ta luôn xác tín rằng: chỉ bằng cuộc sống yêu thương chúng ta mới thực sự làm chứng cho Thiên Chúa t́nh yêu.
Với thánh Gioan, chỉ có một cách để trắc nghiệm t́nh yêu thương là sự vâng lời. Chúa Giêsu đă chứng minh Ngài yêu Chúa Cha bằng sự vâng lời. "Thánh Gioan chẳng bao giờ cho phép biến t́nh yêu thành một thứ cảm xúc. T́nh yêu được bộc lộ dưới tính cách đạo đức, bày tỏ ra bằng sự vâng lời." (Barett). Chúng ta biết có nhiều người chỉ yêu thương qua đầu môi chót lưỡi, đồng thời lại làm cho những người họ yêu phải đau đớn, khổ tâm. Có những thanh thiếu niên bảo chúng yêu thương cha mẹ, nhưng lại gây buồn khổ, lo âu cho cha mẹ. Có những ông chồng bảo yêu vợ, có những bà vợ bảo yêu chồng, nhưng lại hay cộc cằn, gắt gỏng, thô lỗ, nhỏ nhen, vô tâm vô t́nh, làm cho chồng hay vợ ḿnh phải đau khổ. Với Chúa Giêsu , t́nh yêu thương chân thật không phải là điều dễ dàng, t́nh yêu chân thật chỉ có thể chứng minh bằng sự vâng lời chân thật.
Nhưng Chúa Giêsu đă không bỏ mặc chúng ta chiến đấu một ḿnh trong đời sống theo Ngài. Ngài sẽ sai một Đấng Giúp Đỡ đến. Bản Việt ngữ gọi là Đấng An Ủi. Khi khảo sát từ ngữ Paracletos này thật kỹ, chúng ta mới lănh hội được phần nào tính cách phong phú về giáo lư về Chúa Thánh Thần .
Parakletos có nghĩa là một người được gọi đến, chính lư do tại sao, người đó được gọi đến khiến từ ngữ đó có ư nghĩa thật độc đáo. Người Hi lạp thường dùng chữ này theo nhiều nghĩa khác nhau. Có thể là một nhân chứng được ṭa mời đến bênh vực cho người nào đó. Có thể là một trạng sư được gọi đến để biện hộ cho bị cáo nặng tội. Có thể là một chuyên viên được gọi đến để cho ư kiến về một trường hợp khó khăn. Chẳng hạn khi một đạo quân xuống tinh thần, người ấy được gọi đến để làm cho đội quân lên tinh thần, lấy lại can đảm. Paracletos luôn luôn là người được gọi đến để giúp đỡ trong lúc khó khăn, lúc cần. Có một thời dịch là Đấng An Ủi, từ này do nguyên ngữ La tinh fortis có nghĩa là dũng cảm: người yên ủi là người khiến kẻ mất tinh thần trở thành dũng cảm. Ngày nay, chữ yên ủi hầu như chỉ c̣n có nghĩa là làm cho khỏi đau buồn, người an ủi là người thông cảm khi ta có chuyện buồn khổ. Chắc chắn Chúa Thánh Thần đă làm công tác đó, nhưng giới hạn công tác của Ngài vào nhiệm vụ đó thôi, quả là đánh giá Ngài quá thấp một cách đáng buồn. Chúng ta vẫn thường nói đến khả năng đối phó với mọi hoàn cảnh. Đó đúng là công tác của Chúa Thánh Thần , Ngài đến với chúng ta, cất đi mọi khuyết điểm, bất năng của chúng ta, giúp chúng ta đủ sức đối phó với cuộc sống. Chúa Thánh Thần thay thế đời sống thất bại của chúng ta bằng cuộc đời đắc thắng.
Vậy, Chúa Giêsu có ư nói: "Ta giao cho các ngươi một nhiệm vụ nặng nề, Ta sai các ngươi đi thi hành một công tác hết sức khó khăn, nhưng Ta cũng phái theo các ngươi một Đấng Paracletos để hướng dẫn các ngươi biết phải làm ǵ và giúp các ngươi thực hiện công tác ấy!"
Chúa Giêsu tiếp tục cho biết thế gian không nhận biết Thánh Thần. Chữ "thế gian" ở đây chỉ về những ai sống như không hề có Thiên Chúa . Điểm Chúa Giêsu muốn nói: chúng ta chỉ có thể thấy được điều mà chúng ta có khả năng nh́n thấy. Nhà thiên văn nh́n lên bầu trời sẽ thấy được nhiều điều hơn người thường. Nh́n vào bờ rào, nhà thảo mộc học t́m thấy những khác lạ của cỏ cây hơn một người chẳng biết tư ǵ về khoa thực vật. Bác sĩ nh́n con người th́ khám phá được nhiều hơn một người không chuyên môn. Người am hiểu nghệ thuật nh́n vào bức tranh sẽ chiêm ngưỡng được nhiều hơn về đường nét tuyệt diệu. Người biết chút ít về âm nhạc nghe một bản giao hưởng sẽ thích thú hơn người chẳng biết âm nhạc. Những ǵ chúng ta trông thấy và từng trải luôn tùy thuộc vào nhăn quan và kinh nghiệm của chúng ta. Vậy người nào đă loại trừ Thiên Chúa sẽ chẳng có giây phút nào trong ngày để trông đợi được nghe Ngài. Người ấy sẽ nghĩ rằng dùng thời giờ như vậy là phí phạm. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ nhận được Chúa Thánh Thần đến nếu không yên lặng chờ đợi, cầu nguyện , trông mong Ngài đến với ḿnh. Người thế gian rất bận rộn đến nỗi không dành một cơ hội nào để Chúa Thánh Thần có thể đến với họ. Thánh Thần chẳng phá cửa ḷng ai bao giờ, Ngài chờ đợi để được tiếp rước. Vậy, suy nghĩ đến những điều kỳ diệu Chúa Thánh Thần đang làm và đem đến cho đời sống, chắc chắn chúng ta sẽ dành nhiều thời giờ hơn giữa đời sống bon chen này, để yên lặng chờ đợi Ngài đến với quyền năng trọn vẹn của Ngài.
Lúc này, chắc các môn đệ đă cảm nhận được những việc sắp xảy ra. Hẳn họ đă cảm nghiệm được chuyện bi thảm đang tới gần. Nhưng Chúa Giêsu phán: "Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu". Từ ngữ "Mồ côi" dùng ở đây có nghĩa là không có cha, từ ngữ này cũng được dùng để chỉ đám môn sinh, đám học tṛ bị mất thầy, mất đi những lời dạy bảo của người thầy thân yêu. Lúc Socrates chết, Plato nói về các môn sinh của Socrates rằng: "Họ nghĩ họ sẽ phải sống mồ côi suốt quăng đời c̣n lại như những đứa con mất cha, và họ chẳng biết phải làm ǵ". Nhưng Chúa Giêsu bảo các môn đệ rằng, trường hợp của họ th́ không như thế, Ngài phán: "Ta sẽ trở lại".
Ngài nói về sự phục sinh và việc Ngài luôn luôn có mặt bên họ sau khi phục sinh. Họ sẽ thấy Ngài v́ Ngài sẽ sống, và v́ chính họ cũng sẽ sống. Chúa muốn nói là họ sẽ sống thuộc linh. Lúc này họ bối rối và tê liệt bởi thảm cảnh đang tới gần, nhưng sẽ có ngày mắt họ sẽ mở ra, tâm trí họ hiểu được, ḷng họ bừng sáng, chừng đó họ sẽ thật sự nh́n thấy Ngài. Đó đúng là điều đă xảy ra sau khi Chúa Giêsu từ cơi chết sống lại. Sự phục sinh của Ngài biến thất vọng thành hi vọng, khi đó họ mới biết rơ không chút nghi ngờ rằng Ngài là Con Thiên Chúa .
Qua những lời này, Gioan đề cập đến những ư tưởng chẳng bao giờ rời xa tâm trí ông:
1) Trước nhất và trên hết: có t́nh yêu thương. Với tông đồ Gioan, t́nh yêu thương là căn bản của mọi sự. Thiên Chúa yêu thương Chúa Giêsu , Chúa Giêsu yêu thương Thiên Chúa, Thiên Chúa yêu thương loài người, Chúa Giêsu yêu thương loài người, loài người yêu thương Thiên Chúa qua Chúa Giêsu , loài người yêu thương nhau. Trời với đất, con người với Thiên Chúa , và con người với con người, tất cả đều buộc chặt vào nhau bằng sợi dây yêu thương.
2) Một lần nữa, Gioan lại nhấn mạnh sự cần thiết của việc vâng lời. vâng lời là bằng chứng duy nhất của t́nh yêu thương. Khi Chúa Giêsu sống lại, Ngài đă hiện ra cho những người Ngài yêu mến, chứ không cho các đạo sĩ, các thầy thông giáo hay những người Do thái thù ghét Ngài.
3) T́nh yêu vâng lời và tin cậy sẽ đưa đến hai điều. Một là sự an toàn tuyệt đối. Vào ngày toàn thắng khải hoàn của Chúa Cứu Thế , những người yêu thương vâng lời Ngài sẽ được an toàn giữa một thế gian tan nát. Hai là nhận được mạc khải ngày càng đầy đủ hơn. Sự mạc khải của Thiên Chúa là điều đắt giá. Bao giờ cũng có một căn bản đạo đức trong sự mạc khải. Chúa Giêsu chỉ bày tỏ Ngài cho những người vâng giữ các giới răn của Ngài. Chẳng hề có kẻ ác nào nhận được mạc khải của Thiên Chúa . Kẻ ác có thể được Thiên Chúa xử dụng, nhưng chẳng bao giờ được thông công với Ngài. Thiên Chúa tự mạc khải, tự tỏ ra cho người t́m kiếm Ngài. Chỉ có những người dù thất bại mà vẫn biết vươn lên, mới được Thiên Chúa cúi xuống để tiếp xúc. Sự tương thông với Thiên Chúa và sự mạc khải của Thiên Chúa tùy thuộc vào t́nh yêu thương, và t́nh yêu thương tùy thuộc vào sự vâng lời. Càng vâng lời Thiên Chúa chúng ta càng hiểu biết Ngài, và người nào đi trong đường lối của Thiên Chúa nhất định là đang được cùng đi với Thiên Chúa
11. Thầy sẽ xin Đấng an ủi đến
Cuốn phim có tựa đề: "Đời vẫn đẹp" do Roberto đạo diễn và thủ diễn đă xứng dáng tham dự giải Oscar. Cuốn phim đă nêu lên câu chuyện của một người Do Thái cùng với vợ và đứa con trai nhỏ đă bị Đức Quốc Xă đưa vào trại. Nhờ tài khôi hài, ông đă giữ vững tinh thần của đứa con cho tới khi quân đội đồng Minh đến giải thoát.
Cuốn phim hẳn gợi lại kinh nghiệm của một bác sĩ trong ba năm lưu đầy lại Ba Lan và nhiều trại tập trung khác của Đức Quốc xă đă giúp cho vị bác sĩ chuyên gia tâm lư này khám phá được một chân lư quan trọng trong cuộc sống của con người. Chân lư đó là trong những hoàn cảnh nghiệt ngă đau thương nhất của con người vẫn có thể tồn tại, nếu họ có niềm tin và t́m được ư nghĩa của cuộc sống.
Bác sĩ đă quan sát những phản ứng khác nhau của các bạn tù của ông, có những người trước khi vào tù được mọi người trọng vọng ngưỡng mộ, thế nhưng bỗng chốc lộ nguyên h́nh là những kẻ hèn hạ có thể bán đứng anh em v́ một chút lợi lộc nhỏ mọn. Một số khác thoạt tiên thể hiện bản lĩnh của những nhà lănh đạo thế nhưng liền sau đó thất vọng và ngă gục chỉ trong vài ngày. Trái lại, cũng không thiếu những người ít được mọi người chú ư đến, âm thầm chịu đựng cho đến cùng và c̣n sống.
T́m hiểu sự khác biệt giữa các hạng người trên đây, bác sĩ khám phá ra rằng, chính mục đích và ư nghĩa của cuộc sống là sức mạnh làm cho con người tồn tại trong những điều kiện tột cùng khốn khổ của cuộc sống. Trong kinh nghiệm bản thân, bác sĩ cho biết chính t́nh yêu đối với vợ ông đă giúp cho ông tiếp tục t́m thấy ư nghĩa và lẽ sống trong tận đáy của hoả ngục. Mặc dù không biết vợ ḿnh bị giam giữ ở đâu, c̣n sống hay đă chết rồi, bác sĩ đă chia sẻ kinh nghiệm như sau:
Không có ǵ có thể tách tôi ra khỏi t́nh yêu, khỏi những ư nghĩ và h́nh ảnh người vợ yêu dấu của tôi. Cho dẫu người ta có báo tin rằng vợ tôi đă chết th́ tôi sẽ không bao giờ ngưng chiêm ngắm h́nh ảnh của nàng, hay ngưng thôi không chuyện văn với nàng nữa. Càng lúc tôi càng cảm nghiệm được h́nh ảnh của vợ tôi vẫn luôn ở bên cạnh tôi, th́ chính t́nh yêu đối với vợ đă mang lại hy vọng và sức mạnh giúp cho bác sĩ chịu đựng mọi nghịch cảnh và tồn tại cho đến ngày được giải cứu khỏi trại tập trung. Khám phá được ư nghĩa của cuộc sống, đây hẳn không phải là một điều xa xỉ hay phụ thuộc trong cuộc sống con người, mà là một nhu cầu c̣n quan trọng hơn cả cái ăn thức uống của con người.
Ư nghĩa lẽ sống người Kitô hữu chúng ta chính là Chúa Kitô. Đây là một điều mà một lần nữa Giáo Hội muốn nhắc nhớ chúng ta: Kitô giáo chúng ta không phải là một ư thức hệ, cũng không phải là một hệ thống luân lư chỉ gồm những điều phải tuân giữ, lại càng không phải là một xă hội thuộc thể chế chính trị nào đó.
Kitô giáo thiết yếu là một Con Người, Con Người đó hôm qua, hôm nay và măi măi vẫn là một. Con Người đó luôn luôn hiện diện trong Giáo Hội và trong cuộc sống của mỗi người chúng ta, đó chính là Đức Giêsu Kitô, Ngài là sức sống của mỗi người chúng ta.
Một vị thánh hiền, một bậc vĩ nhân qua đi trong lịch sử nhân loại và để lại sự nghiệp của ḿnh; nhưng với Chúa Kitô lại khác, Ngài không hiện diện với một xác chết được tẩm liệm, Ngài cũng không hiện diện qua những di tích Ngài để lại, Ngài cũng chẳng để lại sự nghiệp nào, Ngài đă chết và Ngài đă sống lại và chính v́ đă sống lại cho nên Ngài vẫn có đó. Ngài hiện diện một cách sống động nơi đây trong giây phút này đây. Đó là niềm tin, là sức sống, là lịch sử của Giáo Hội từ hơn 2000 năm qua, và đó cũng là lẽ sống của không biết bao nhiêu người tín hữu đă đi trước chúng ta. Trong Ngài, Họ đă t́m thấy cuộc sống để có thể vui sống và nhất là kiên tŕ cho đến cùng giữa những thử thách và bách hại.
Tất cả đều đă sống niềm tin của thánh Phaolô như Ngài đă viết trong thư gởi giáo đoàn Rôma như sau: "Ai có thể tách tôi ra khỏi t́nh yêu Chúa Kitô? Phải chăng là gian truân, khắc khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo...".
Đây là một niềm xác tín mà Giáo Hội mời gọi chúng ta hâm nóng lại khi cho chúng ta tắng nghe Tin Mừng của Chúa Nhật VI Phục Sinh hôm nay. Trong bài diễn văn từ biệt các môn đệ trước khi đi vào cuộc Tử Nạn và Phục Sinh, Chúa Giêsu, mời gọi họ chuẩn bị tinh thần để đón nhận cách thế hiện diện mới của Ngài.
Ngài nói với các ông: "Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi. Thầy sẽ đến với các con". Quả thật, sau khi đón nhận Chúa Thánh Thần, các môn đệ cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Giêsu. Từ những con người quê mùa dốt nát và nhát đảm, các môn đệ được Chúa Thánh Thần biến đổi thành những nhà rao giảng không biết mệt mỏi, và nhất là các ngài đă dùng chính cái chết của ḿnh để làm chứng cho sự hiện diện ấy của Chúa Giêsu Phục Sinh.
Hơn 2000 năm qua sức sống được Thánh Thần thông ban cho các môn đệ đă tràn ngập thế giới, đă trở thành lẽ sống cho biết bao nhiêu người trên trần gian này. Chính nhờ sức sống ấy mà các tín hữu Kitô t́m thấy ư nghĩa của cuộc sống và sống đúng ơn gọi làm người của ḿnh. Sống công b́nh, sống bác ái, sống phục vụ, sống quên ḿnh không phải là độc quyền của người Kitô giáo, và tôn giáo nào cũng đă đề cao những giá trị ấy. Giới răn yêu thương cũng không phải là giới răn riêng của các tín hữu Kitô chúng ta. Thế nhưng, Chúa Giêsu đă ban bố giới răn ấy như một giới răn mới mẻ và là của riêng Ngài. Bởi v́ Ngài ban chính sức sống và t́nh yêu của Ngài cho các tín hữu, để họ yêu thương bằng chính t́nh yêu của Ngài. Chúa Giêsu chính là t́nh yêu, Chúa Giêsu chính là sức sống của các tín hữu. Chúng ta họp nhau trong Thánh lễ của mỗi Chúa Nhật để cầu xin Chúa Kitô bổ sức cho chúng ta, giúp chúng ta tiếp tục sống, để cho mọi người thấy rằng, Ngài thật sự là Đấng đang hiện diện và tác động trong chúng ta. Ngài chính là lẽ sống mang lại ư nghĩa cho cuộc sống của chúng ta. Ngài là sức mạnh để chúng ta tiếp tục chiến đấu, Ngài là niềm hy vọng để chúng ta tiếp tục tiến bước.
Câu hỏi gợi ư:
1. Đức Giêsu nói: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy". "Các điều răn của Thầy" ở đây là những điều răn cụ thể nào? Hăy lấy Kinh Thánh chứng tỏ điều ấy.
2. Đức Giêsu có đưa ra một tiêu chuẩn nào để dựa vào đó ta có thể biết ai là người yêu mến Thiên Chúa đích thực, là môn đệ đích thực của Ngài không?
3. Đức Giêsu hứa ban Thánh Thần cho những ai? Bạn quan niệm thế nào về Thánh Thần? Và muốn lănh nhận Thánh Thần ta phải làm ǵ?
Suy tư gợi ư:
1. "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy"
Người Kitô hữu, theo định nghĩa, là người có Đức Kitô nhờ theo Ngài và yêu mến Ngài. Người không yêu mến Ngài, không theo Ngài, th́ không có Ngài, nên không phải là Kitô hữu đích thực. Khi yêu mến Ngài, th́ ta sống trong t́nh trạng: "Anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em". Thật vậy, người ta chỉ sống trong nhau, v́ nhau, cho nhau, khi người ta yêu thương nhau thật sự. V́ thế, chúng ta chỉ sống trong Đức Kitô, và được Đức Kitô sống trong ta, khi ta yêu mến Ngài.
Nhưng làm sao yêu mến Ngài được, khi mà một cách hữu h́nh ta không hề thấy Ngài, nghe Ngài nói, động chạm đến Ngài? Ngài cho chúng ta một tiêu chuẩn để dựa vào đó mà biết ḿnh có yêu Ngài hay không: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy". Nhưng điều răn của Ngài là ǵ? Có phải là đi lễ, đọc kinh hay cầu nguyện hằng ngày? Điều ấy chắc chắn là đúng, nhưng có thể chưa phải là điều cốt yếu. Điều cốt yếu trong giới răn của Ngài đă được chính Ngài xác định rơ ràng như sau: "Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hăy yêu thương nhau" (Ga 12,34). Ngài cũng xác định luôn cả mức độ yêu: "Anh em hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương anh em" (nt). Như vậy, câu nói của Ngài "nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy" có nghĩa là "nếu anh em yêu mến Thầy, th́ anh em phải yêu thương nhau". Nói khác đi, ai yêu thương những người lân cận hay những người chung quanh ḿnh mới là người thật sự yêu mến Thiên Chúa hay Đức Giêsu. Nói cách khác nữa, ai không yêu những người gần gũi ḿnh, những người ḿnh gặp gỡ hằng ngày, người ấy không thật sự yêu mến Thiên Chúa. Thánh Gio-an đă diễn giải điều này rơ hơn nữa: "Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em ḿnh, người ấy là kẻ nói dối; v́ ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, th́ không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy" (Ga 4,20).
2. Làm sao phân biệt Kitô hữu đích thực và không đích thực?
Đức Giêsu c̣n đưa ra một tiêu chuẩn để nhận ra ai là môn đệ đích thật của Ngài: "Mọi người sẽ nhận