Các bài suy niệm LỄ CHÚA LÊN TRỜI (Năm A)
Lời Chúa: Cv 1, 1-11; Ep 1,17-23; Mt 28,16-20
Các bài suy niệm Chúa Nhật 7 PHỤC SINH (Năm A)
Lời Chúa: Cv 1, 12-14; 1 Pr 4, 13-16; Ga 17, 1-11a
1.Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt…………………… ...2
4. Và đây thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”
11. Tầy ở cùng anh em mọi ngày
HIỆN RA TẠI GALILÊ VÀ BAN SỨ MỆNH PHỔ QUÁT
GIẢI THÍCH BẢN VĂN
- 11 tông đồ: Ta biết Đức Giêsu có tất cả 12 tông đồ. Nhưng trong biến cố thụ nạn, Giuđa đă hư mất và sau đó đă tự vẫn; các tông đồ kia th́ chạy trốn tán loạn. Bây giờ, trước lúc về trời, Đức Giêsu đă tập họp số c̣n lại được 11 người. Họ là h́nh ảnh của Giáo Hội. Giáo Hội là những người được Chúa tập họp lại, đúng ư nghĩa của chữ Hy Lạp Ekklêsia.
- Xứ Galilêa: Địa điểm tập họp sao không phải là Giêrusalem, nơi từ trước tới giờ vẫn được coi là trung tâm của niềm tin? mà lại là Galilêa là vùng có nhiều người lương? Hẳn là Đức Giêsu có chủ ư: Giáo Hội theo quan điểm của Matthêu phải là Giáo Hội truyền giáo, Giáo Hội của thế giới.
- Lên núi: Matthêu không quan tâm đến vị trí địa dư chính xác cho bằng quan tâm đến ư nghĩa thần học của vị trí ấy. V́ thế đừng mất công t́m hiểu xem "núi" này là núi ǵ. Ngày xưa Môisen đă gặp Thiên Chúa trên núi; rồi Êlia cũng đi t́m gặp Thiên Chúa trên núi; Đức Giêsu cũng biến h́nh trên núi; Hiến Chương Nước Trời cũng được Đức Giêsu công bố trên núi. Các dữ kiện Thánh Kinh trên cho thấy "núi" là nơi Thiên Chúa công bố luật. Vậy cũng như ngày xưa Thiên Chúa gặp Môisen "trên núi" để ban Luật cho dân Israel, th́ nay Đức Giêsu cũng hẹn gặp 11 tông đồ trên núi để ban Luật mới cho Giáo Hội, Israel mới.
- Thờ lạy: Chỉ một ḿnh Thiên Chúa là Đấng đáng thờ lạy (xem Mt 4,10 trích Đnl 6,13). Vậy khi các tông đồ thờ lạy Đức Giêsu phục sinh th́ có nghĩa là các ông nh́n nhận Ngài là Thiên Chúa.
- Vẫn c̣n nghi nan: Giáo Hội mà Đức Giêsu tập họp tuy là Giáo Hội đă tin Ngài là Thiên Chúa nên đă "thờ lạy" Ngài, nhưng đức tin vẫn c̣n yếu kém, vẫn là "những kẻ hèn tin" (xem 6,30; 8,26; 14,31; 16,18).
- Đức Giêsu lại gần: Nếu dịch thật đúng, phải là "Đức Giêsu đến với họ". Nếu như Matthêu cố t́nh dùng động từ "đến" th́ ngụ ư của Matthêu là Đức Giêsu thực hiện đúng tước hiệu mà Cựu Ước vẫn gán cho Đấng Messia, "Đấng đang đến" (Celui qui vient) (xem Đaniel 7,13; Tv 118,26; Mt 21,9; 23,39). Trước ṭa án xét xử Ngài, chính Đức Giêsu đă xưng ḿnh bằng tước hiệu đó (Mt 26, 54).
- Được mọi quyền: Trong Đaniel 7,14 "Con Người" (Đấng Messia) sẽ được Thiên Chúa ban cho mọi quyền. Như vậy, ở đây Đức Giêsu tự giới thiệu ḿnh chính là Con Người Messia.
- Vậy các con hăy đi: Đức Giêsu sai các tông đồ (Giáo Hội) đi truyền giáo. Nên chú ư rằng ở chương 10, Đức Giêsu cũng đă sai như thế, nhưng các ông chưa đi, khi đó chính Chúa Giêsu đi và các ông đi theo. Bây giờ lúc Đức Giêsu sắp về trời rồi, th́ chính thức tới lúc Giáo Hội phải ra đi truyền giáo.
- Ở khắp muôn dân: Tính đại đồng của Giáo Hội. So sánh với 10,5 ("Đừng vào nhà lương dân ....."), ta thấy câu nói này khó mà tưởng tượng nổi ngay buổi b́nh minh của Phục sinh. Sách Tông đồ Công vụ cho thấy các tông đồ đă tốn hàng chục năm trời mới mở được chân trời hướng về phía lương dân, và măi 20 năm sau, công đồng Giêrusalem mới quyết định hướng truyền giáo ấy. Cho nên câu nói này không phải là câu nói của Đức Giêsu lúc ấy, mà đúng hơn là câu nói của Đức Giêsu sống trong Giáo Hội sau công đồng Giêrusalem (TđCv 15,5-12).
- Thanh tẩy họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần: Giáo đoàn Matthêu đă có một nề nếp phụng vụ đàng hoàng với phép Rửa nhân danh Ba Ngôi. Lúc ban đầu người ta chỉ biết làm phép rửa nhân danh Đức Giêsu. Các thư của Phaolô cũng cho thấy những bước ḍ t́m chậm chạp của niềm tin vào Ba Ngôi.
- Dạy bảo người ta: Matthêu tỏ ra quan tâm đến "mục vụ trí năng": phải hiểu những ǵ ḿnh tin (Mt 18,15-18), cho nên Matthêu nhấn mạnh lời Đức Giêsu dặn Giáo Hội phải "dạy bảo".
- Thầy ở với các con: Chỗ dựa và nơi an toàn duy nhất của Giáo Hội là Đức Giêsu. Ở đây Ngài tự xưng ḿnh là Emmanuel. Lưu ư: khi hiện ra cho Giuse, Thiên sứ đă bảo tên đứa con của Maria sẽ là Emmanuel, vậy mà khi đứa trẻ ấy sinh ra th́ Giuse lại đặt tên là... Giêsu! Bây giờ Đức Giêsu đă phục sinh mới thực là Emmanuel, Ngài đă sống lại rồi và sẽ măi măi ở với Giáo Hội "hết mọi ngày tới khi tận thế".
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
“Đi Galilê": Ở đây tầm quan trọng của Galilê có tính cách thần học: Đấng Phục sinh gặp lại các môn đồ ḿnh tại địa điểm hoạt động chủ yếu của Người trên trần gian (nhất là theo Matthêu và Marcô); điều đó giả thiết có sự liên tục giữa Chúa Kitô tại thế với Chúa Kitô phục sinh, sự liên tục mà câu 20a nhấn mạnh cách minh nhiên ("dạy họ giữ những ǵ Thầy đă truyền cho các con"). Cuộc Phục sinh ban cho lời vị Thầy xứ Galilê một uy quyền vô song; thay v́ làm các môn đồ quên lời Chúa Giêsu Nagiaret để thế bằng thứ kinh nghiệm cao hơn về một cách thức hiện diện mới, cuộc Phục sinh thúc họ tuân giữ những ǵ Người đă truyền cho. Nếu thánh sử đă chẳng có ư niệm về mối tương quan giữa Chúa Giêsu-giảng dạy với Chúa Kitô-phục sinh ấy, có lẽ ông đă không mất công thu thập vào tác phẩm của ḿnh tất cả những lời Chúa Giêsu mà ông đă "giữ" lại cho giáo đoàn của ông. Tóm lại, ở đây Matthêu muốn nhấn mạnh sự đồng nhất giữa "Chúa Giêsu của lịch sử” và "Chúa Giêsu của niềm tin".
“Mọi quyền năng đă được ban cho Ta": Công thức này rơ ràng ám chỉ đến những ǵ nói về Con Người trong Đanien 7,14: "Vương quốc, vinh dự đă được ban cho Người, và mọi dân nước, ngôn ngữ sẽ phục vụ Người". Chúa Giêsu hoàn tất lời Người đă hứa trước Công nghị (26,64): "Từ đây các ngươi sẽ thấy Con Người ngồi bên hữu Quyền năng". Đấng đă ban một uy quyền như thế cho Chúa Giêsu, đương nhiên phải là Chúa Cha (“đă được ban": thể thụ động chỉ hoạt động Thiên Chúa: passif divin).
“Dạy họ tuân giữ": dịch sát chữ; "dạy dỗ họ" (didaschontes). Sự nghiệp của Chúa Giêsu đă được Matthêu tŕnh bày như một việc dạy dỗ, giảng thuyết, chữa lành bệnh tật (4,23 và 9,35). Chúa Gỉêsu đă truyền cho các môn đồ chữa lành bệnh tật trong 10, 1.8 và rao giảng trong 10,7; lệnh dạy dỗ được để dành cho đến cuối Tin Mừng, có lẽ v́ Matthêu nghĩ rằng phận vụ dạy dỗ là quan trọng nhất trong Giáo Hội.
“Những ǵ Thầy đă truyền cho các con”: Mấy chữ này phát xuất trực tiếp từ Cựu Ước (Xh 7,2; 29,35; Đnl 1, 41; 4, 2 ...); chúng tương ứng với thành ngữ của Gioan: "giữ lệnh truyền của Người" (Ga 14, 15; 15, 10; 1 Ga 3, 22tt . . . ). Trong Matthêu, từ “giảng dạy" mang một màu sắc luân lư; không phải là dạy dỗ những bí mật kỳ diệu của một thứ kiến thức bí truyền như người Essêni, cũng chẳng phải là dạy người ta lư luận đúng về sự vật và về chính ḿnh, nhưng tiên vàn là rao giảng, loan truyền, làm cho người ta nhận biết Chúa Kitô và lời Người giải thích thánh ư Chúa Cha. Sứ mệnh Kitô hữu do đó không nhắm mục đích cho người ta "biết" (một sự hiểu biết thuần lư) một Chúa Kitô hoàn toàn thiêng liêng, nhưng là một Chúa Kitô như ta thấy trong Tin Mừng, một Chúa Kitô đang mời gọi mọi người "nghe theo" lời Người giải thích luật Thiên Chúa.
“Thầy ở với các con": Đoạn kết của Tin Mừng đối đáp lại phần mở. Nơi phần mở, Chúa Giêsu được tŕnh bày như là Đấng có tên là Emmanuel, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta (1,23) từ lúc mới sinh. Đúng là một lối đóng khung vĩ đại, phô bày tất cả chiều kích phổ quát của con người Chúa Giêsu trên toàn lịch sử nhăn loại, đồng thời đánh dấu việc Người nhập thể vào thời gian và không gian.
KẾT LUẬN
Công cuộc vĩ đại: mang ánh sáng đến cho mọi dân nước không thể là công cuộc của con người. Tin Mừng, mỗi lần đề cập đến sự yếu tin của các sứ đồ đă cho thấy họ bất lực đến chừng nào. Nhưng trong công cuộc trên, các môn đồ không bị bỏ rơi một ḿnh với các phương tiện yếu đuối của riêng họ. Chính Chúa đỡ nâng, cứu giúp họ: “Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế”. Cái nh́n nhắm rất xa, đến những thế kỷ tương lai của một lịch sử dài đang bắt đầu. Chân trời nằm nơi cái biên giới mà thời hiện tại sẽ được thay bằng một thời mới. Thời cánh chung trước khi tái giáng cách hữu h́nh 'để phán xét’, Con Người sẽ ở với môn đồ ḿnh để nâng đỡ hoạt động của họ. Người đang hiện diện và hoạt động giữa họ cách thiêng liêng, chẳng những khi họ tụ họp quanh bàn tiệc, tưởng niệm cái chết của Người, và ăn uống thần lương, nhưng luôn măi và khắp nơi. Cộng đoàn cứu độ mới không chỉ tuyên xưng Chúa trong khắp vũ trụ, song chính Chúa đang hiện diện giữa cộng đoàn.
Ư HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Ngay từ đầu bài Tin Mừng hôm nay ta nghe nói đến 11 môn đồ chứ không phải 12 như thường lệ. Như vậy ta thấy ngay trong ngày Thăng Thiên, lúc Chúa Giêsu xuất hiện nơi chóp đỉnh vinh quang của Người và lúc các môn đồ nhận lănh ủy nhiệm trọng đại nhất, cái hạt nhân đầu tiên của Giáo Hội vẫn mang trong ḿnh thương tích gây nên do sự bội phản của Giuđa. Sẽ luôn như thế, cho đến tận cùng thời gian. Dù thánh thiện đến đâu, Giáo Hội cũng là một dân tội lỗi, là Hôn Thê đầy t́ vết mà Phu Quân chỉ sẽ làm cho hoàn toàn thanh khiết trong ngày thế mạt (Kh 19, 7-8; 21,2).
2) Chúa Giêsu muốn gặp các môn đồ ḿnh tại Galilê để cho họ thấy: dù đă trở nên Chúa vinh quang, Người vẫn là Giêsu Nagiaret mà họ đă thân quen. Chúa Giêsu luôn như thế, chỉ t́nh trạng của Người thay đổi thôi. Không có hai Giêsu: Giêsu thợ mộc (Mc 6,3) và Chúa Kitô hiển vinh đă lên trời. Chỉ có một Chúa Giêsu, Giêsu Kitô, Giêsu-Kitô nhân-thần. Vận mạng chúng ta giống vận mạng của Chúa Giêsu, Đầu chúng ta. Chúng ta cũng chỉ có một cuộc sống gồm hai t́nh trạng: t́nh trạng trần thế và t́nh trạng vinh hiển mai sau. Cái thống nhất hai t́nh trạng thành một chính là t́nh yêu. Trên trời, chúng ta vẫn tiếp tục làm điều chúng ta đă tập lúc c̣n tại thế là Yêu. Và nếu ngay bây giờ, trong Galilê thường nhật của chúng ta, chúng ta đă là môn đồ của Chúa Giêsu-thợ mộc, th́ sau này chúng ta mới có thể hy vọng được thống trị với Chúa Kitô vinh hiển.
3) Đấng lên trời luôn luôn là chính Đấng đến với chúng ta, gặp chúng ta trong cuộc sống Kitô hữu của mọi ngày. Sở dĩ Người đă lên trời cách hữu h́nh và thôi tỏ ḿnh cho các môn đồ trong h́nh hài thể xác, là để từ đây luôn hiện diện từng giây phút cách vô h́nh với họ. Nhờ trở nên thân xác vinh hiển, Chúa Giêsu không c̣n bị giới hạn vào một điểm không gian và thời gian. Từ đây Người có thể gặp chúng ta, tất cả và mỗi người, bất cứ giờ nào, nơi đâu. Nhờ Phục sinh và Thăng thiên, Chúa Giêsu hiện diện như vậy với mọi người trong lịch sử nhân loại. Chúng ta chỉ cần lợi dụng sự hiện diện vô h́nh nhưng thực sự ấy của Chúa Giêsu để sống với Người trong mọi giây phút đời ta: Và Người vẫn đến với ta, dù ta hoài nghi, dù ta chểnh mảng phục vụ Người; dù ta tội lỗi đến đâu, Người biết ta vẫn có thiện chí trong đáy tâm hồn, vẫn ao ước phụng sự Người, vẫn muốn sám hối đổi đời. Dù ta bất tín bất trung, người vẫn mời gọi ta trở nên sứ giả Tin Mừng trong môi trường sống.
4) "Hăy thâu nạp môn đồ khắp muôn dân": Không phải chỉ có vấn đề học giáo lư như học bản cửu chương, phương pháp gia chánh hay cách sử dụng máy móc ... Điều chủ yếu là đi vào trong mối tương giao thân mật và cá nhân với Chúa Kitô, là thực sự trở nên môn đồ, anh em (28, 10), bạn hữu của Người (Ga 15, 15). Và con đường tốt nhất để đi vào t́nh thân ái ấy với Chúa Giêsu là bắt chước Người, là trở nên như Người: hoàn toàn tận hiến cho Chúa Cha và nhân loại, là yêu mến. Chính lúc yêu mến mà ta hoàn tất điều Chúa Giêsu truyền dạy, v́ tất cả giáo huấn của Người chỉ thu gọn vào điểm này: "Giới luật của Thầy là các con hăy yêu thương nhau” (Ga 13, 14).
I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt 28,16-20
II. TẤM BÁNH CHIA SẺ
Có lẽ nhiều người ngạc nhiên tự hỏi: sao trong bài Phúc Âm lễ Thăng Thiên hôm nay, chẳng thấy nói ǵ đến trời, đến bay lên? Thắc mắc như vậy là hợp lư. Ta vẫn quen gọi hôm nay là lễ Chúa Giêsu lên trời. Và theo quan niệm b́nh dân, không gian chia làm ba tầng. Tầng dưới đất là âm ty, địa ngục, dành cho người chết. Tầng mặt đất mà ta đang sống là dương gian. Và tầng trên mặt đất là trời. Chúa Giêsu đă sống trên mặt đất, khi chết Người bị chôn trong ḷng đất, đi vào cơi âm ty. Sống lại, Người trở lại mặt đất. Và hôm nay Người được đưa lên trời, bay lên đám mây, ngự bên hữu Chúa Cha.
Đó chỉ là một lối diễn tả b́nh dân. Thực ra, trời đâu phải là một nơi chốn. Con người có thân xác, bị giới hạn trong không gian, cần một nơi chốn để cư ngụ. Thiên Chúa không bị giới hạn trong không gian th́ đâu c̣n bên tả bên hữu ǵ nữa.
Vậy, tại sao ta nói Chúa Giêsu lên trời? Lên trời ở đây có ư nghĩa ǵ?
Trời không phải là một nơi chốn, nhưng là một trạng thái, trong đó Ba Ngôi Thiên Chúa sống chan hoà yêu thương. Sự sống của Thiên chúa không giống sự sống của cây cỏ. Cũng không giống như sự sống của động vật hay loài người. Đó là sự sống thần linh. Sự sống vượt không gian, vượt thời gian, không c̣n bị lệ thuộc vào điều kiện vật chất. Sự sống không c̣n bị hao hụt, giảm thiểu bởi đau đớn, bệnh tật, đói khát. Đó là sự sống viên măn tràn đầy. Được tham dự vào sự sống ấy là một hạnh phúc vô song. Đó chính là thiên đường. Lên trời hay lên thiên đàng như vậy không phải là thay đổi nơi chốn nhưng là thay đổi sự sống. Đó là chuyển đổi sự sống hữu hạn của con người sang sự sống vô hạn của Thiên Chúa. Đó là rời bỏ thế giới hữu hạn của loài người để bước vào thế giới vô hạn của Thiên Chúa. Đức Giêsu lên trời có nghĩa là Đức Giêsu về với Thiên Chúa, sống với Thiên Chúa, sống cuộc sống Thiên Chúa. Lên trời không phải lên theo chiều cao trong không gian vật lư. Nhưng là lên theo cấp độ sự sống, là sống cao hơn, mạnh mẽ hơn, tràn đầy hơn.
Chính v́ thế, Chúa Giêsu lên trời không phải giă từ thế giới, để đi vào xa vắng mịt mù. Nhưng Người không đi vào một hiện hữu mới để hiện diện mănh liệt hơn. Không c̣n bị kềm chế trong không gian, giờ đây Người hiện diện ở khắp mọi nơi. Không c̣n bị lệ thuộc vào một thân xác, giờ đây Người có thể hiện diện dưới nhiều h́nh thức khác nhau.
Người ở đó trong những trang Sách Thánh đầy lời lẽ nhiệm mầu để dạy cho ta biết con đường về với Thiên Chúa. Người ở đó trong bí tích Thánh Thể huyền diệu để nuôi linh hồn ta, để kết hợp với ta, để giúp ta đủ sức mạnh đi hết con đường trần gian khổ. Người ở đó trong những người anh em đồng tâm nhất trí cùng nhau dâng lời cầu nguyện lên Chúa Cha. Người ở đó trong những anh em bé nhỏ nghèo hèn đang chờ chúng ta mở rộng trái tim, mở rộng ṿng tay nhân ái. Người ở đó trong những người hiến thân phục vụ anh em, trong những người hy sinh bản thân ḿnh cho công b́nh, cho chân lư, cho một thế giới tươi đẹp hơn. Người có mặt trên khắp mọi nơi nẻo đường, trong tất cả mọi cảnh ngộ của cuộc đời. Người có mặt trong mọi thời gian đúng như Người đă hứa: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.
Bây giờ th́ chúng ta đă hiểu: Trời không phải là một nơi chốn xác định, là một không gian vật lư có thể cân đo đong đếm. Nhưng trời là Thiên đàng, là chính sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, là chính Thiên Chúa Ba Ngôi.
Bây giờ chúng ta đă hiểu lên trời không phải là bay bổng lên không gian. Nhưng là chuyển đổi cấp độ sự sống, hay là bước vào sự sống siêu nhiên của Thiên Chúa.
Bây giờ th́ chúng ta đă hiểu, lên trời không phải là vắng mặt, là xa vắng nhưng lại là một hiện diện vô cùng phong phú, vô cùng mănh liệt, ở bên cạnh tất cả mọi người, ở mọi nơi và ở mọi thời.
Chúa Giêsu là người mở đường cho nhân loại. Người tiến về một thế giới sự sống viên măn, cao cả để cho ta thêm niềm tin tưởng rằng: vận mệnh của Người cũng sẽ là vận mệnh của ta. Ta cũng sẽ được cùng Người bước vào sự sống thần linh vĩnh cửu, miễn là ta đi vào con đường của Người: con đường khiêm nhường phục vụ. Miễn là ta vâng giữ lời Người truyền dạy: Hăy yêu tha nhân như chính bản thân ḿnh.
Lạy Đức Giêsu, xin hăy nâng ḷng con lên khao khát những sự trên trời. Amen.
III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU
1) Bạn có cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Giêsu trong đời sống hằng ngày?
2) Bạn làm cách nào để mọi người cảm thấy Chúa Giêsu đang hiện diện mănh liệt trong thế giới?
3) Bạn làm ǵ để xây dựng Nước Trời?
Có người kia nhặt được trứng đại bàng, đem về cho ấp chung với trứng gà. Đại bàng con nở ra cùng với đàn gà con. Ngày ngày đại bàng con theo gà mẹ bới đất t́m sâu như một chú gà con thực thụ. Một hôm đang bới giun, đại bàng con kinh hăi khi thấy một con chim khổng lồ bay lượn trên không. Đôi cánh hùng vĩ giang rộng như cánh buồm. Đường bay lượn uy dũng mà đẹp đẽ. Nó hỏi các anh chị em gà: “Con chim ǵ mà ghê gớm thế nhỉ”? Gà mẹ trả lời: “Chim đại bàng đấy. Đại bàng thuộc về trời, c̣n chúng ta thuộc về đất. Đại bàng bay lượn trên mây, c̣n chúng ta chỉ biết bới đất t́m giun thôi”. Đại bàng con không hề biết nó thuộc ḍng giống đại bàng. Suốt đời nó sống như loài gà, và sẽ chết như gà.
Có nhiều người nghĩ thế giới chỉ bó gọn trong trái đất và con người chỉ thuộc về mặt đất. Nhưng không phải thế. Hôm nay, Đức Giêsu lên trời là một bằng chứng cho niềm hy vọng của ta.
Việc Đức Giêsu lên trời bảo cho ta biết rằng ngoài đất c̣n có trời. Ngoài cơi nhân sinh nhỏ hẹp c̣n có cơi thần linh bao la. Ngoài cuộc sống trần gian mau qua c̣n có cuộc sống thiên đàng vĩnh cửu.
Đức Giêsu về trời là niềm hy vọng cho ta. Mai sau ta cũng sẽ được về trời với Người. V́ chính Người đă hứa: “Thầy đi để dọn chỗ cho anh em, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó với Thầy”.
Đức Giêsu đă liên kết ta thành một thân thể với Người. Người là đầu. Chúng ta là chi thể. Đầu tiến đến đâu th́ chi thể cũng sẽ tiến đến đấy.
Đức Giêsu dạy ta biết rằng ta là con của Thiên Chúa Cha, Đấng ngự trên trời. Con sẽ được ở trong nhà cha mẹ. Chúng ta sẽ được ở nhà Cha trên trời là tự nhiên.
Tuy nhiên Đức Giêsu chỉ về trời sau khi đă hoàn thành nhiệm vụ Đức Chúa Cha trao phó cho Người ở trần gian. Nhiệm vụ đó là loan báo cho mọi người biết Chúa là Cha yêu thương mọi người. Nhiệm vụ đó là làm chứng về t́nh yêu thương của Cha đối với mọi người.
Hôm nay, trước khi về trời, Đức Giêsu uỷ thác nhiệm vụ đó lại cho ta. Ta phải tiếp nối sứ mạng của Đức Giêsu loan Tin Mừng yêu thương cho mọi người. Đem niềm hy vọng đến cho kiếp người.
Với niềm hy vọng đó, người Kitô hữu chân đạp đất nhưng ḷng vẫn hướng về trời cao. Niềm hy vọng đó giải thoát ta khỏi nô lệ vào mặt đất nhờ đă biết rơ vật chất chỉ là phương tiện sẽ mau chóng qua đi. Niềm hy vọng đó nâng cuộc sống con người lên v́ từ nay ta hiểu rằng định mệnh loài người không phải như loài súc vật, nhưng ngang hàng với thần linh. Niềm hy vọng đó làm cho cuộc sống của có ư nghĩa, v́ Chúa tạo dựng nên con người không phải để con người tàn lụi đi theo qui luật của vật chất mà để con người phát triển, tồn tại đến vô biên, không phải bị kết án vào những đau khổ vất vả trần gian, nhưng đă được tiền định hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng. Niềm hy vọng đó cho ta thêm động lực phục vụ tha nhân tận tâm hơn v́ đó chính là sứ mạng Chúa trao phó. Niềm hy vọng đó khuyến khích ta tích cực xây dựng xă hội tốt đẹp hơn, v́ đó chính là điều kiện cho ta được vào Nước Trời.
Lạy Chúa, xin giúp con chu toàn nhiệm vụ ở trần gian để sau này con được về trời với Chúa. Amen.
Gợi ư chia sẻ
1) Ham hố tiền bạc, danh vọng, chức quyền, khoái lạc làm đời sống ta nặng nề, không vươn lên cơi tâm linh được. Bạn thấy ḿnh bị nặng nề về ham mê nào?
2) Đời sống là một nỗ lực bay lên cao. Có khi nào bạn cảm thấy ḿnh thoát khỏi những ràng buộc tầm thường để nhẹ nhàng bay lên không?
3) Đời sống là một bổn phận phải chu toàn. Bạn nghĩ ǵ về điều này?
I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Kết thúc mà lại khởi đầu
Phụng vụ bài đọc năm A về lễ Thăng Thiên mời gọi ta suy niệm những câu cuối cùng của Phúc Âm thứ nhất. Đoạn văn kết thúc Phúc Âm Matthêu này đặc biệt gợi nhớ đến hai chương đầu của Phúc Âm.
- Thực vậy, khi viết “Phúc Âm về thời niên thiếu”, thánh Matthêu muốn mời gọi ta coi việc Đức Giêsu giáng sinh tại Belem, thành vua Đavít là ứng nghiệm lời tiên tri về một Đấng “Emmanuel": Đấng “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (Is 7), c̣n các Đạo sĩ đến từ phương Đông tiêu biểu cho những người tiên phong của Dân Ngoại đang đi đến niềm tin vào Đức Kitô: “Họ THẤY Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền SẤP M̀NH THỜ LẠY NGƯỜI”.
- Ở đoạn kết thúc, rơ ràng là thánh sử, đă lấy lại cũng những lời lẽ trên để thuật lại cuộc gặp gỡ lần cuối cùng của Đấng Phục Sinh với các môn đệ của Người ở Galilê: “Khi THẤY Người, các ông SẤP M̀NH THỜ LẠY Người”. Rồi Đức Giêsu trao cho các ông sứ mệnh đến với “MUÔN DÂN” và long trọng tuyên bố rằng: “THẦY Ở CÙNG CÁC CON” mọi ngày cho đến tận thế”.
J. Radermakers chú giải: “Ở đây chúng ta thấy con người Đức Giêsu dầu mang dấu vết của một con người được sinh ra ở một thời điểm và sinh sống ở một nơi chốn nhất định, vẫn có cả một sự bao trùm lớn lao, trải rộng đến mọi chiều kích của toàn thể lịch sử nhân loại” ("Au fie de l'Evangile selon saint Mathieu, Viện Nghiên cứu Thần học, Bruxelles, 1974, trang 362).
2. Khi hồi kết thúc loan báo một khởi sự mới
Sau Phục sinh, Đức Giêsu hẹn gặp lại các môn đệ Người, không phải ở Giêrusalem, thủ đô và là thành thánh như trong Phúc Âm Luca, mà là ở “Galilê” miền đất vẫn bị mọi người nh́n bằng nửa con mắt, là “nơi qui tụ dân” là biểu tượng của thế giới ngoại giáo (Mt 4,12-23).
Giáo Hội... phải rời bỏ Giêrusalem mà về mặt địa lư cho tới lúc ấy vẫn được coi là trung tâm đức tin, nơi có Thiên Chúa hiện diện, để đi tới miền vốn được coi là “Galilê của dân ngoại”. Một Giáo Hội được định nghĩa ngay là một “Giáo Hội v́ mọi người": đó chính là sứ mệnh của Giáo Hội, điều mà không bao lâu sau Đức Giêsu sẽ nói rơ ràng” (Cahiers - Evangiles” số 9, trang 6).
Nơi Đức Giêsu truyền cho các môn đệ đi tới, là một “ngọn núi” vốn là nơi rất thích hợp cho việc Chúa mạc khải. Một lần nữa ở dân cũng như trải dài suốt Phúc Âm của Ngài, thánh Matthêu đều tŕnh bày Đức Giêsu như một Môsê mới ban Luật của Người cho dân tộc mới của Thiên Chúa.
Cl. Tassin chú giải: “Như trong một cuốn phim, người ta lần lượt thấy xuất hiện những ngọn núi: núi quỷ cám dỗ khi chỉ cho Đức Giêsu xem thấy các nước trần gian, núi Bát Phúc, nơi Thầy công bố hiến chương Nước Trời, và Núi Hiển Dung nơi vinh quang Con Người được tỏ hiện; nổi bật hơn cả vẫn là cảnh âm u tịch mịch của núi Nê-bô, nơi Môsê phải nói lời giă biệt trước khi dân tiến vào Đất Hứa” ("Phúc Âm thánh Matthêu, NXB. Centurion, trang 303).
- Khi thấy Đức Giêsu, các môn đệ liền “sấp ḿnh thờ lạy Người” trong một cử chỉ vừa tôn kính theo đạo giáo, mà cũng có tính cách phụng thờ, y như các đạo sĩ đă làm khi thấy hài nhi với thân mẫu là bà Maria (2,2.8.11); cũng như các môn đệ đă bày tỏ khi ở trong thuyền lúc sóng to gió cả, và đó cũng là cử chỉ của người phụ nữ xứ Canaan vậy (15,25).
Nhưng ḷng tôn thờ của các ông c̣n vương vấn “sự hoài nghi”, mối hoài nghi này, theo như J. Radermakers nhận xét chí lư, chính là người bạn đồng hành không thể tách biệt của một ḷng tin đang lần bước”.
- Đấng tỏ ḿnh ra cho các môn đệ ("Đức Giêsu đến gần"), Đấng mà các ông sấp ḿnh thờ lạy ấy, chính là Đức Chúa hiển vinh. Một khi đă được vinh thăng, được trao ban quyền tối cao xét xử toàn cầu ("Thầy đă được trao toàn quyền trên trời dưới đất") th́ giờ đây Người có lư khi sai các môn đệ của ḿnh đi khắp thế giới để làm cho vương quyền ấy được thực hiện.
Những lời Người ban bố cho họ đánh dấu sự khai trương một giai đoạn mới trong sứ mệnh của Người, sứ mệnh mà từ này trở đi Người sẽ vẫn tiếp tục nhờ Giáo Hội.
+ “Anh em hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”. Suốt thời gian thừa hành sứ vụ công khai, Đức Giêsu đă phải tự ư giới hạn hoạt động của Người đối với “các chiên lạc của nhà Israel”. Từ nay những biên giới ngăn cách do không gian và thời gian đều bị băi bỏ v́ Người có thể thực thi trọn vẹn sứ mệnh Người Tôi Tớ của Thiên Chúa đúng như Matthêu đă loan báo, khi mượn lời sấm của Isaia 42,1-4: “Và môn dân sẽ đặt niềm hy vọng nơi danh Người” (Mt 12,18-21). Dân ngoại có mặt ngay từ buổi đầu của Phúc Âm th́ cuối cùng vẫn thấy ḿnh là những con người được Tin Mừng nhắm tới. Đức Giêsu trao phó cho Giáo Hội Người sứ mệnh truyền giáo khắp hoàn cầu này.
Cl. Tassin c̣n muốn lưu ư ta rằng: “Điểm nhấn mạnh không ở tại động từ “Đi” hay ở tại sứ mệnh chinh phục địa lư, mà cốt ở việc mở ra cho hết mọi nhóm người không phân biệt một ai. Bởi lẽ Đức Giêsu đă được “trao toàn quyền” th́ mọi người đều phải thần phục quyền bính của Người. Đối với Matthêu, truyền giáo là ǵ? Thưa là: những môn đệ làm cho những người khác trở thành môn đệ; là những người nam cũng như nữ cảm nghiệm sâu sắc rằng giáo huấn của Đức Giêsu biến đổi chính cuộc đời của họ, họ chia sẻ kinh nghiệm này với các người khác, dạy bảo cho những người ấy tuân giữ mọi giới luật của Đức Giêsu mà thực ra chỉ tóm gọn lại trong một luật là t́nh yêu” (O.C., trang 304).
+ “Làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Truyền giáo không phải là tuyên truyền một ư thức hệ, dù là cao siêu tuyệt vời, mà là chủ trương không ngừng xây dựng một cộng đồng: cộng đồng của những con người nhờ chịu phép rửa mà muốn sống gắn bó mật thiết với nhau bởi cùng thuộc về một Thiên Chúa là “Cha, Con và Thánh Thần”.
+ “Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đă truyền cho anh em”. Truyền giáo không thể chỉ thu gọn lại trong việc kêu gọi người ta trở lại rồi bỏ mặc đấy. Giáo Hội sẽ phải giúp đỡ những tân ṭng ngày qua ngày sống hoà nhập với cuộc đời mới mà họ đă bước vào.
J. Radermakers đưa ra nhận xét sau: “Chính Phúc Âm nh́n toàn bộ là một giáo huấn về cuộc sống, được hiểu như dấu chỉ của bí tích trong phép rửa tội và được triển khai cách hài hoà trong cuộc sống đời thường; đời sống luân lư trong cộng đồng Kitô hữu chẳng qua là sống Tin Mừng bằng việc làm cụ thể” (O.C., trang 365).
+ “Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Đây là lời tuyên bố cuối cùng và cũng là điểm cao nhất của lời Chúa phán v́ là lời hứa bảo đảm một sự hiện diện tích cực và hữu hiệu vô bờ bến. Cuối Phúc Âm của ḿnh, thánh Matthêu mới cao rao rằng lời thiên thần hứa với Giuse đă hoàn toàn ứng nghiệm nơi Đức Giêsu: “Người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”.
J. Potin kết luận: “Đức Giêsu không xa ĺa Giáo Hội của Người. Mặc dầu ta không trông thấy Người, Người vẫn hiện diện ở mọi nơi mà Giáo Hội sẽ lan rộng tới, cho đến tận thế. Theo thánh Matthêu, Đức Giêsu không biến mất lên trời. Nhưng lời nói cuối cùng của Người cũng là câu sau chót của Phúc Âm, hứa rằng: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Vả lại trước đây há chăng Người đă chẳng tuyên bố: “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, th́ có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,20). Đấng Phục Sinh không ở lại trên núi Galilê, Người đi theo các tông đồ của Người trên mọi nẻo đường trần gian” ("Jésus, l'histoire vraie” NXB Centurion, 1994, trang 516).
II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Bài kết thúc Phúc Âm thánh Matthêu thực ra là một sự khởi đầu, một sự khai mở (Đức Cha L. Daloz, trong “Le Règne de Dieu s'est approché”).
“Bài kết thúc Phúc Âm thánh Matthêu thực ra là một sự khởi đầu, một màn khai mở: đó là khai trương công cuộc truyền giáo toàn cầu. Phải suy niệm, và nh́n ngắm mới thấy rơ việc truyền giáo là con tim đang đập trong lồng ngực Giáo Hội có tác dụng kích thích Giáo Hội. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các tông đồ, và qua các ông, cho chung tất cả mọi môn đệ, Đức Giêsu thành người sống đương thời với chúng ta: Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế... Việc gặp gỡ Mười Một Tông đồ là điều có liên hệ chặt chẽ với mầu nhiệm Phục sinh. Trước khi đi vào cuộc khổ nạn Người đă báo trước: Sau khi sống lại, Thầy sẽ đến Galilê trước anh em. Sau khi Phục sinh, Người nói lại sứ điệp ấy với các phụ nữ đứng bên mồ và triệu tập các môn đệ: “Các bà hăy về báo cho anh em Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó”. V́ nhờ mầu nhiệm Phục sinh của Đức Kitô, sự phục sinh nhân loại mới có thể được thực hiện. Khi sai các môn đệ... Đức Giêsu phục sinh là cội nguồn của việc truyền giáo. Quyền năng Thiên Chúa đă cho Người sống lại trở nên quyền năng cứu độ cho mọi dân tộc. Chúng ta nhận biết quyền năng ấy, và chỉ có ḷng tin mới tiếp nhận được thôi (cũng như 11 tông đồ) các ông gặp Đức Giêsu trên núi, là nơi vốn xảy ra những cuộc hiển linh của Chúa, như ở núi Sinai hay ở núi Hiển Dung. Thái độ của các tông đồ lúc ấy diễn tả ḷng tin của ta: tôn thờ mà lại do dự: khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Cảnh tượng thật long trọng, giống như một cuộc hành lễ, chứ không c̣n là buổi gặp gỡ thân t́nh như những lần hiện ra trước đây. Là v́ lần gặp gỡ này xác định nền tảng, h́nh thức và chân trời cho sứ mệnh truyền giáo vậy.
Nền tảng ấy là quyền hành mà Đức Giêsu nhận được: Thầy đă được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Không phải là quyền của kẻ có sức mạnh trong tay và thống trị, mà là ách êm ái và gánh nhẹ nhàng. Không phải là quyền chiếm đoạt như Tên Cám dỗ đă đề nghị cho Người. Nhưng là quyền của t́nh yêu không để bị khuất phục. Đó là sức mạnh của sự phục sinh được khơi nguồn trong Đức Giêsu và nhờ Người sức mạnh ấy làm thay đổi cả thế giới. Những nỗ lực truyền giáo, tinh thần can đảm để không ngừng thực thi sứ mệnh, tất cả đều nhờ sức mạnh ấy mà t́m được chỗ dựa bảo đảm. Sức mạnh này không phải do ta khôn ngoan, tài khéo, tận tuỵ mà có được... anh em hăy đi! Đó là một lệnh truyền. Từ buổi đầu cho đến nay, lệnh sai đi này vẫn vang lên không ngừng, vẫn luôn luôn gợi ra những sáng kiến mới lạ, những cuộc lên đường mới, một đà tiến mới tới miền xa xăm hay rất gần mà chúng ta đều mắt thấy tai nghe qua suốt ḍng lịch sử.
Bởi lẽ chân trời truyền giáo là tất cả mọi quốc gia, và hạn kỳ là cho đến tận thế. Việc truyền giáo chẳng bao giờ cùng về mặt địa lư cũng như về lịch sử. Ta tham gia vào công việc này ngay ở nơi ta đang ở và thời đại ta đang sống. Mỗi người lănh phần trách nhiệm của ḿnh, nhưng mỗi người không phải chịu trách nhiệm về tất cả. Quan tâm thôi, không đủ; mà phải hành động. Mỗi người chúng ta được sai đến ở nơi ḿnh đang ở; ta không thể chỉ là người hưởng ơn cứu độ, mà cũng c̣n là dụng cụ Chúa dùng để ơn cứu độ của Đức Giêsu Kitô đạt tới những kẻ khác, những người ta đang sống với, những người ta được sai đến với họ ở cận kề bên ta hay ở xa ta. Nhiệt t́nh do Đức Giêsu phục sinh ban cho vẫn có trong con tim của mọi cuộc đời Kitô hữu. Đời sống này trở nên suy nhược khi bóp nghẹt nhiệt t́nh này bằng lối sống vị kỷ, khép kín. Cần phải biết sống chia sẻ để khởi xơ cứng và chết. Cũng vậy, Giáo Hội không thể ở thể tĩnh. Giáo Hội được sai đi...
H́nh thức việc truyền giáo cũng được chỉ rơ ràng: Làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đă truyền cho anh em. Chúng ta nhận thấy có ba mặt: loan báo Tin Mừng để khơi dậy được những con người môn đệ, tham dự vào mầu nhiệm Phục sinh bằng việc lănh nhận phép Rửa và các bí tích, sống đời sống mới bằng cách thi hành các điều Chúa truyền. Truyền giáo là tất cả như thế đó. Không có ba yếu tố này, công việc ấy không đầy đủ, và chẳng một yếu tố nào trong ba làm nên được công chuyện bởi lẽ “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên ḥn núi cao”. Quả thực, đây là một thách đố đặt ra cho Giáo Hội, v́ rằng mọi dân tộc đều có quyền chia sẻ mầu nhiệm Phục sinh, đón nhận ơn cứu độ của Đức Giêsu để được biến đổi và trở nên mới. Như thế các dân tộc ấy cũng hội nhập vào mầu nhiệm sự sống Thiên Chúa: “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Qua việc truyền giáo của các tông đồ, Đức Giêsu vẫn theo đuổi công việc Người đă khởi sự trong mầu nhiệm Phục sinh của Người; Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. Ta c̣n sợ hăi ǵ nữa, một khi có Đức Giêsu phục sinh đang ở cùng chúng ta.
2. “Là dịp để ta canh tân lại quyết định làm môn đệ trung thành của Đức Kitô” “Célébrer” (Nguyện san của Trung tâm Quốc gia về Mục vụ Phụng vụ) số 258 trang 42.
“Thiên Chúa vẫn luôn luôn là Emmanuel”, vẫn là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”.Việc Người-lên-trời không hẳn là một sự ĺa bỏ. Phải học hỏi để nhận ra điều này dầu không trông thấy Người như các môn đệ đă thấy xưa. Chúa lên trời nhắc nhở ta sống thân phận của một người tin và yêu: tin rằng Người vẫn đang có mặt, và thực hành yêu thương để làm cho Người được hiện diện. Lễ này phải là dịp để ta canh tân lại quyết định trở thành những môn đệ trung tín của Đức Kitô: những môn đệ vững tâm v́ Người vẫn có mặt bên ta “mọi ngày”, những môn đệ sẵn sàng đáp lại tiếng gọi sai đi truyền giáo cho “muôn dân” của thời đại hôm nay”.
Chúng ta không có một chỉ dẫn nào về vị trí ngọn núi xứ Galilêa, nơi Chúa Giêsu hẹn các môn đệ. Bài tường thuật của thánh Matthêu được viết theo dàn bài thông thường của các cuộc hiện ra. Chúa Giêsu tỏ ḿnh, Ngài đánh tan sự nghi ngờ, Ngài ban một sứ mạng cho các môn đệ. Bài Phúc Âm hôm nay bao phủ một sự phong phú ư nghĩa đặc biệt. Chúa Giêsu trao cho các môn đệ mệnh lệnh rao giảng Phúc Âm, uỷ thác cho các ông quyền làm phép rửa tội, Ngài hứa tiếp tục có mặt bên các ông. Chúa Giêsu c̣n hiện diện với Giáo Hội, thay mặt ở đây bởi mười một tông đồ, đặc biệt trong bí tích rửa tội và trong công cuộc truyền bá Phúc Âm.
1) Chúa Giêsu hiện diện trong phép rửa tội.
Ta biết rằng người chịu phép rửa tội được tham dự vào mầu nhiệm hiệp thông với sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu. Phép rửa tội đặc biệt là bí tích của sự kết hợp vượt qua với Đức Kitô, v́ phép ấy cho ta đạt tới sự sống qua khỏi sự chết. Điều ấy chỉ thành sự thật nhờ tin vào Chúa Giêsu. Chúng ta sẽ không biết ǵ cả về Ba Ngôi Thiên Chúa nếu không có Chúa Giêsu tỏ bày cho chúng ta. Đối với các tông đồ đă như thế, đối với chúng ta cũng như vậy. Chúa Giêsu c̣n hiện diện để dạy dỗ chúng ta bằng cách nào? Người hướng dẫn chúng ta đến phép rửa tội ra sao? Và sự hiện diện của Ngài tỏ ra đặc biệt gần gũi và tác động nơi linh hồn người chịu phép rửa tội như thế nào? Để trả lời những câu hỏi ấy cần viện đến sự kiện Giáo Hội và đến mầu nhiệm bên trong của đời sống Kitô hữu. Chúa Giêsu hiện diện để dạy dỗ người ta bởi Giáo Hội của Ngài. Chính Giáo Hội là điểm gặp gỡ giữa Đức Kitô và loài người và chính ở điểm gặp gỡ ấy nảy sinh đức tin. Do đó ta thấy tầm quan trọng của việc theo sát những vị có sứ mạng uỷ quyền giảng dạy trong Giáo Hội, những vị thừa kế các tông đồ. Mặt khác, qua ân sủng bí tích rửa tội, Đức Kitô tiếp tục nơi chúng ta công cuộc mặc khải Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Ngược lại, ḷng sẵn sàng tuân theo Chúa Thánh Thần và đón nhận Chúa Cha giúp ta tiến tới trong việc hiểu biết Chúa Con. Đây là một cái ǵ sống động không thể diễn tả bằng lời nói được. Đức tin vào Chúa Giêsu Kitô cho chúng ta cảm nhận được thực tại sống động của bí tích rửa tội.
2) Đức Kitô hiện diện trong công việc truyền bá Phúc Âm.
Trước hết cần nhớ rằng, bổn phận truyền bá Phúc Âm thuộc mọi môn đệ của Đức Kitô, nghĩa là thuộc mọi người chịu phép rửa tội với những phương tiện riêng (bắt đầu bằng kinh nguyện). Chúa hiện diện nơi công việc của các tông đồ Ngài bằng hai cách chính. Trước hết Ngài hiện diện nơi công việc của người chiến sĩ Phúc Âm bằng sự hiện diện nơi chính người chiến sĩ. Như vậy có nghĩa là người chiến sĩ cần phải để tâm gặp gỡ riêng Chúa ḿnh. Người môn đệ chỉ loan báo Đức Kitô cách hữu hiệu trong mức độ chính ḿnh sống thân thiết bên trong và riêng biệt với Chúa. Sau đó hăy nhớ lời dạy quan trọng: nơi nào nhiều người tụ họp lại nhân danh Ta, có Ta ở giữa họ. Chúa hiện diện với các môn đệ khi họ đoàn kết. Thiếu đoàn kết giữa các Kitô hữu là nguyên do chính của việc thiếu hữu hiệu trong công việc truyền bá Phúc Âm. Đừng nói chi đến sự chia rẽ bi đát giữa các Giáo Hội. Hăy nghĩ đến mức độ chúng ta trong cách suy nghĩ, trong lời nói, trong các quyết định, trong cách hành động, chúng ta có lo lắng liên kết và hiệp nhất với các anh em tín hữu gần gũi nhất với chúng ta không? (xứ đạo, khu xóm, xưởng làm, phong trào Công Giáo Tiến Hành…). Nếu có, Đức Kitô hiện diện nơi công việc tông đồ của chúng ta.
Từ “Thăng Thiên" có thể mang một sắc thái xấu đối với các Kitô hữu, nếu chúng ta để cho trí tưởng tượng biểu thị một cách vật lư điều mà thực ra là một mầu nhiệm vô cùng của đức tin. Bản văn của Matthêu khác với bản văn của Luca, không nói với chúng ta về sự thăng thiên (lên trời) nhưng về sự hiện diện mới thánh sử mời gọi chúng ta không nên cử hành ngày này như “sự ra đi của một người thân yêu mà người ta đưa ra phi trường trước khi phi cơ cất cánh”. Vậy chúng ta hăy quên đi mọi sự tưởng tượng của chúng ta và lắng nghe Đức Giêsu: Không nói về sự ra đi, Người nói về sự hiện diện khắp mọi nơi! “Thầy ở cùng anh em mọi ngày...” Vậy chúng ta hăy lắng nghe trang cuối cùng của Tin Mừng thánh Matthêu. Đó là bảng tóm tắt bài tường thuật, tất cả các từ ngữ đều chuyển tải ư đó. Chúng ta hăy suy niệm về tất cả các từ ấy
Mười một môn đệ.
Họ gồm có “mười một" và chỉ mười một thôi! Rất ít đối với một trách nhiệm to lớn. Mười một chứ không phải mười hai, như chúng ta đă quen từ lúc bắt đầu Tin Mừng. Quả thực, đây là một Giáo Hội rất nghèo nàn, một nhóm quá nhỏ, bị cắt cụt bởi v́ một người trong số họ đă bỏ hàng ngũ. Không phải chỉ hôm nay mới có những người bỏ rơi đồng đội.
"Mười một môn đệ". Matthêu gọi họ là “môn đệ" thay v́ là "tông đồ” điều đó là có dụng ư. Ở đây, họ không ở vị trí của những người được giao cho một quyền bính đặc biệt. Hoàn toàn đơn giản, môn đệ là điều kiện chung của mọi người đi theo Đức Giêsu, là bạn hữu của Người. Môn đệ ư? Bạn, tôi chúng ta... Bạn có phải là một môn đệ không? Bạn hăy nhớ rằng Giuđa đă làm lỡ một cuộc hẹn gặp .
Đi tới miền Galilê...
Nhấn mạnh trên địa điểm hẹn gặp này là điều có ư nghĩa đối với Matthêu; thánh sử đă không ngần ngại cho địa điểm ấy là nơi xảy ra sự xuất hiện chính thức, để tôn cao giá trị của miền Galilê... và không nói đến những lần hiện ra ở Giêrusalem trong các tường thuật Tin Mừng khác.
Galilê! Nơi hẹn gặp đă được Đức Giêsu chỉ định sau bữa ăn cuối cùng: "Sau khi chỗi dậy, Thầy sẽ đến Galilê trước anh em" (Mt 26,32). Ở ngôi mộ trống, thiên thần đă nhắc lại cuộc hẹn gặp: "Các bà hăy mau về nói với các môn đệ Người rằng Người đi Galilê trước các ông và ở đó các ông sẽ được thấy Người” (Matthêu 28,7). Galilê! Miền đất mà Matthêu đă chú ư mang lại ư nghĩa tượng trưng ngay từ đầu sứ vụ của Đức Giêsu trong tỉnh đó khi dẫn lời ngôn sứ: Hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại... những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi! (Mt 4,15; Is 8,23 - 9,l).
Galilê! Tỉnh xanh tươi và ngọt ngào: Xứ sở của sự sống! Galilê! Tỉnh của nhiều sắc dân trộn lẫn, xứ sở mà các người thanh khiết ở Giêrusalem khinh bỉ, xứ sở mở ra cho những xứ sở khác, cho những dân ngoại đây là miền đất của sự tiếp xúc, nơi ḥa trộn niềm tin với sự vô tín.
Galilê! Miền đất cội rễ của con người Giêsu Nagiarét: Người trở nên một thân thể với xứ sở này; người là một người Galilê; có giọng nói của người miền Bắc, "Từ Nagiarét, làm sao có cái ǵ hay được?" (Ga l,46). Đối với chúng ta, đó là một lời mời gọi chớ nên mơ tưởng đến một chỗ nào khác: Ờ, phải chi tôi có một tổ ấm khác! Phải chi tôi học trong một trường học khác! Phải chi các đồng nghiệp tôi thế này, thế khác; giáo xứ tôi thế nọ, thế kia! Đức Giêsu hẹn gặp bạn trong miền Galilê của chính bạn.
... Đến gần núi Đức Giêsu đă truyền cho các ông đến.
Trong toàn bộ Kinh Thánh, núi là nơi tượng trưng cho sự gặp gỡ với Thiên Chúa và cho sự mạc khải của Thiên Chúa. Ở trên cao, người ta nh́n xa, xa hơn như khi ở trong cánh đồng! Ở trên cao, người ta hít thở thoáng đăng hơn, trong lành hơn sự ô nhiễm của các thành phố! Ở trên cao, người ta cô quạnh hơn, và có nhiều khả năng hơn để lắng nghe tiếng nói của sự im lặng, thường bị nhận ch́m bởi những mớ lộn xộn của sự nhiều lời trống rỗng! Núi Sinai nơi con người gặp gỡ Thiên Chúa duy nhất lần đầu tiên. Núi các mối Phúc Thật (Mt 5,1). Núi của sự biến h́nh (Mt 17,1). Núi chữa bệnh (Mt 15,29). Núi cầu nguyện (Mt 14,23). Núi hóa bánh ra nhiều (Mt 15,32) làm thế nào mà sự sống lại không được biểu lộ trên núi chứ? (Mt 28,16).
C̣n bạn? Phải chăng bạn có những cuộc hẹn gặp trên núi nơi mà Đức Giêsu ra lệnh cho bạn đến gặp Người?
Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi.
Bái lạy. Hoài nghi. Hai từ này bề ngoài hoàn toàn đối lập nhau, nhưng Matthêu tập họp chúng trong cùng một câu. Vâng, cũng trên ngọn núi ấy, có chỗ cho thực tại đáng sợ ấy: Sự hoài nghi, bái lạy là sự chiến thắng trên hoài nghi. Đức tin là một hành động tự đo, rất khác với những điều hiển nhiên buộc phải chấp nhận của b́nh diện khoa học. Tin Mừng rất khiêm tốn, không có ǵ là bực dọc và hứng khởi vô lư. Mọi tường thuật các lần xuất hiện sau khi sống lại đều có một nét chung: Đức Giêsu sống lại không "hiển nhiên"... người ta ngần ngại thừa nhận điều đó.
Bạn đang t́m kiếm và hoài nghi, vậy bạn hăy thử bái lạy, thờ phụng Người.
Đức Giêsu đến gần, nói với các ông.
Tôi chiêm ngắm hành động này trong nội tâm trong một trường hợp duy nhất khác, Matthêu ghi nhận động tác tiếp cận ấy mà Đức Giêsu đă thực hiện. Đó là lúc Người biến h́nh. Khoảng cách của Thiên Chúa đối với con người rất lớn đến nỗi: Thiên Chúa cần phải đến với chúng ta một cách chủ quan, chúng ta không có khả năng tin tưởng. Sự khởi xướng thuộc về Thiên Chúa. C̣n phần chúng ta, chúng ta có tự do đáp lại hành động tiếp cận của Người bằng sự thờ lạy.
Trong tường thuật Phục Sinh của Matthêu, chúng ta nhận thấy sự kín đáo tột độ: Không có chi tiết cụ thể nào... Đức Giêsu chỉ đến gần và nói! Toàn bộ Tin Mừng của Matthêu có đặc tính nhấn mạnh trên những bài giảng văn Đức Giêsu: Đức Kitô của Matthêu là một Đức Kitô thuyết giảng năm bài giảng lớn đă tạo thành nhịp điệu sự tường thuật của Matthêu. Vậy, đây là lời tôn vinh và kết luận: những lời sau cùng của Người.
“Thầy đă được trao toàn quyền trên trời dưới đất..."
Công thức này khẳng định sự b́nh đẳng của Đức Giêsu với Thiên Chúa. Thật vậy, trong toàn bộ Cựu Ước, chỉ Thiên Chúa mới là "Chúa của trời đất"... vũ trụ hữu h́nh và vô h́nh.
Công thức này, không mô tả sự Thăng Thiên bằng những từ ngữ cụ thể nhưng đ̣i hỏi phải có sự việc Đức Giêsu lên trời từ nay thống trị toàn thể vũ trụ. Dĩ nhiên, vấn đề không phải là t́m kiếm Đức Giêsu giữa những v́ tinh tú, trong "bầu trời đầy sao".
Công thức nêu lên ư niệm về toàn thể: Không có ǵ nằm ngoài quyền của Thiên Chúa. Từ nay, Đức Giêsu sống lại là Chúa Thượng của mọi tạo vật!.
Khi đọc lời chúc tụng trên bánh và rượu, Người nói "Này là Ḿnh Thầy. Này là Máu Thầy", Người chỉ mang lại cho chúng ta “dấu chỉ" về hiệu quả của quyền chủ tể của Người trên mọi phần của vũ trụ... và do đó trên mỗi người chúng ta và chúng ta thật sự trở thành nhiệm thể của Người.
Và thánh Phaolô trong bài đọc I của ngày hôm nay, cũng khẳng định quyền chủ tể ấy: Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực mà Người đă biểu dương nơi Đức Kitô, khi làm cho Đức Kitô chỗi dậy từ cơi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời. Như vậy, Người đă tôn Đức Kitô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được không những trong thế giới hiện tại mà cả trong thế giới tương lai. Thiên Chúa đă đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô!" (Ep 1,20-23). Phải, chúng ta là thân thể Đức Kitô! V́ thế mà Phaolô phải nói rằng "Thiên Chúa đă cho chúng ta cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Kitô Giêsu trên cơi trời (Ep 2,5-6).
Phụng vụ của chúng ta không chỉ cử hành các kỷ niệm của quá khứ các lễ mừng trọn năm: Phụng vụ làm cho chúng ta tham dự trước những điều kỳ diệu của thời Thế Mạt. Phaolô biết rất rơ ràng những người mà ngài viết cho họ chưa ngự trị trên cơi trời, bị bầm giập bởi thử thách, họ biết ḿnh phải chết. Tuy nhiên sự "thăng thiên của chính họ đă được tham dự trước, trong đức tin vào Đức Kitô".
Điều đó chẳng phải cho chúng ta tất cả cách sống và cách cử hành phụng vụ sao?
"Vậy anh em hăy đi và làm cho MUÔN dân trở thành môn đệ..."
Sau TOÀN quyền mà Đức Giêsu đă được trao ban, giờ đây toàn thể trường hoạt động của Đức Kitô qua thân thể Người tức là các môn đệ được nêu lên. Trước kia trên núi cám dỗ, Đức Giêsu đă từ chối nhận của xa tan "tất cả các nước thế gian và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy" (Mt 4,8-10). Giờ đây, lúc có vẻ sắp ra đi, Đức Giêsu táo bạo ấy đă nhắm đến toàn thể vũ trụ trong cuộc chinh phục một cách ḥa b́nh, qua mười một con người ấy, muôn dân, mọi quốc gia mọi con người? Đức Giêsu đang ‘nh́n’ từ tầm nh́n cao cả nhất.
Làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần..."
Một công việc vĩ đại, nhấn ch́m nhân loại vào một không gian mới: Ba Ngôi Thiên Chúa... Ba Ngôi là t́nh yêu liên ngôi vị tinh tuyền và trong suốt nhất mà chỉ Ba Ngôi mới có.. để cho dù nhiều, tất cả chỉ là một. Đó cũng chính là giấc mơ của mọi t́nh yêu.
“Dạy bảo họ tuân giữ MỌI điều Thầy đă truyền cho anh em..”
Vậy th́, đấy là toàn bộ hành động của con người phải được đặt dưới quyền chủ tể của Đấng Phục Sinh. Trước hết, làm môn đệ của Đức Giêsu không phải là một thái độ trí thức. Việc dạy giáo lư cũng vậy, trước tiên không phải là truyền thông những khái niệm, nhưng là tập luyện một cách sống bao gồm mọi khía cạnh của đời sống.
“Và đây Thầy ở cùng anh em MỌI ngày cho đến tận thế”
Sự hiện diện của Đức Giêsu Phục Sinh, không chỉ tràn ngập mọi nơi trên trần thế mà c̣n bao trùm toàn bộ thời gian! Sứ thần khi truyền tin cho Thánh Giuse lúc Tin Mừng bắt đầu đă nói: "Người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Mt 1,23). Mọi Tin Mừng của Matthêu do đó đều bao hàm trong tư tưởng ấy.
Một lời mời gọi phi thường: Nếu Thiên Chúa hiện diện mọi ngày, mọi lúc... Nếu chúng ta có thể nói rằng chính chúng ta cũng hiện diện và ở cùng Thiên Chúa? Thi hào Tagore nói rằng "ước ǵ đời sống của con như một cây sáo trúc, để Ngài có thể làm đầy bằng âm nhạc".
Mỗi ngày hôm nay, mỗi giây phút của đời tôi có thể trở nên rực sáng bởi t́nh bầu bạn ấy của Đức Giêsu! Ôi, Lạy Chúa Giêsu...
Một người đàn ông khi c̣n sống chuyên môn làm nghề quảng cáo, đến lúc chết ông ta xuống gặp ngay Diêm vương. Diêm vương ân cần bèn hỏi: “Muốn ở thiên đàng hay ở hỏa ngục”. Người đàn ông ngập ngừng đáp: “Chưa thấy thiên đàng hay hỏa ngục như thế nào th́ làm sao mà chọn”. Diêm vương bàn dẫn ông ta đến một nơi và chỉ cho thấy cảnh thiên đàng: đó là một nơi mát mẻ, yên lặng, người người dịu dàng đi lại, nói chuyện nhẹ nhàng, chơi cờ thanh thản… Đoạn dẫn đến một nơi gọi là hỏa ngục th́ thấy vui nhộn hơn, có những đám ăn nhậu với đủ thứ thức ăn và rượu ngon, có cả văn nghệ với nhạc rập ŕnh, có các cô đào trẻ đẹp múa hát… Sau khi đă nh́n thấy hai nơi rồi, ông ta mau mắn trả lời: “Ở thiên đàng buồn quá, tôi thích chọn hỏa ngục vui sướng hơn”. Thế là Diêm vương sai hai thằng quỉ ném ông ta vào hỏa ngục. Vừa đến nơi ông ta la hoảng lên v́ nóng quá, chả có ăn nhậu, văn nghệ ǵ ráo trọi, mà chỉ thấy toàn lũ quỉ đen, nham nhở đang vui thích hành hạ các tội nhân. Ông ta sừng sững sờ quay lại hỏi Diêm vương: “Thế hỏa ngục lúc năy Ngài cho tôi thấy nó ở đâu?”. Diêm vương khoái chí cười ha hả đáp: “Ngu ơi là ngu, quảng cáo mà mày!”.
Đời là thế đấy! đúng là “sinh ư tử nghiệp” “sống sao thác vậy”. Nói một cách rơ ràng hơn th́ người đàn ông trong câu chuyện đă bị “gậy ông đập lưng ông” v́ khi c̣n sống ông ta đă dùng mánh khóe, xảo thuật để quảng cáo đánh lừa người khác làm lợi cho ḿnh. Đến khi chết đi, ông ta vẫn mang ḍng máu tham lam, ham lợi đó nên đă bị Diêm vương cao tay hơn dùng chính lối quảng cáo đánh lừa ông ta là vậy. Nhưng nếu suy rộng ra th́ đây cũng là một mẫu người tiêu biểu cho lối sống của nhiều người thời nay.
Hơn bao giờ hết, người thời nay với lối sống xô bồ, đua tốc độ với thời gian, lấy vật chất làm động lực sống, coi hưởng thụ khoái lạc làm mục tiêu hành động nên đă sử dụng môn quảng cáo như là một tuyệt chiêu để tranh sống và sinh tồn ở đời. Do đó, người ta đua nhau tổ chức cuộc sống ḿnh đặt trên cơ sở lấy ngắn thay cho dài hạn, lấy lợi trước mắt quên tác hại sâu xa, lấy bên ngoài quan trọng hơn bên trong, lấy xác hơn hồn. Tất cả những sai lầm nguy hiểm trên đương nhiên ai cũng chưa biết, nhưng người ta vẫn cứ sống, vẫn cứ coi thường.
Hôm nay cũng như bao lần khác, chúng ta cùng nhau mừng lễ Chúa lên trời. Và mỗi lần như thế chắc chắn Chúa vẫn kêu mời mỗi người chúng ta hăy nghĩ và đặt lại hướng đi cuộc đời của ḿnh cho đúng. Hay nói cách khác Chúa muốn chúng ta, nhân cơ hội kỷ niệm biến cố Ngài về trời, sáng suốt nhận ra được đâu là mục đích chính của đời sống tại dương thế. Thảm thương thay! không hiểu tại sao mọi người chúng ta h́nh như cứ mải mê cố t́nh hoặc khờ khạo coi nhẹ sự sống đời đời.
Sở dĩ có t́nh trạng mê lầm mất phương hướng này một phần do những đ̣i hỏi của cuộc sống mang vẻ hợp pháp đă đánh lừa nhiều người khiến họ cứ tưởng ḿnh sống không đến nỗi xấu xa lắm: nào là “có thực mới vực được đạo”, nào là sống đạo cốt tại tâm, nào là phải lo đủ thứ bổn phận trách nhiệm trong gia đ́nh ngoài xă hội, nào là phải liên tục đương đầu để giải quyết biết bao công việc khó khăn. Tất cả những thứ đó có đủ mănh lực mê hoặc, ru ngủ chúng ta đến nỗi chúng ta cho việc lơ là phần thiêng đạo đức, bỏ bê việc lành, thông cảm với những yếu đuối sa ngă, khô khan nguội lạnh đôi chút đều không có ǵ phải ân hận, nuối tiếc cả.
Phần khác là do ảnh hưởng bên ngoài đầu độc. Chẳng hạn, thời nay hầu như ai cũng lấy lợi nhuận, hưởng thụ làm mục tiêu sống, trong khi kẻ nào chủ trương ăn ngay ở lành, ăn chay đền tội th́ người ta cho là dại khờ. Thêm vào đó, nhiều chủ thuyết cổ vơ lối sống tự do phóng khoáng, phi đạo đức luân lư, đả kích tôn gió khiến đức tin của một số người đâm lung lay và hoài nghi những chân lư trong đạo. Đặc biệt ma quỉ đâu chịu ngồi yên, chúng dùng mưu mô xảo quyệt, lợi dụng tối đa mọi hoàn cảnh để ra sức dụ dỗ con người nghi ngờ Chúa, quên đời sau.
Ngay cả những giây phút cùng nhau chia sẻ lời Chúa này, có những người tự bằng ḷng với cuộc sống hiện tại của ḿnh: nghĩa là họ thỏa măn những ǵ họ đang có, c̣n đạo đức chỉ là chuyện thứ yếu và chuyện đời đời lại quá xa vời, không quan tâm vội. Chính khi suy nghĩ như thế cũng đă đủ để minh chứng rằng nhiều người đang sống xa Nước Trời.
Vậy những ai xác tín rằng quê hương đích thực của đời ḿnh là ở trên trời cao th́ trước hết và trên hết hăy qui hướng tất cả mọi sự trong cuộc sống, vận dụng mọi hoàn cảnh về nơi đó để cố gắng chiếm đoạt cho bằng được dù phải trả bất cứ giá nào. Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa là phải chạy trốn khỏi cuộc sống khốn khổ này, trái lại phải vui tươi, can đảm chu toàn những trách nhiệm, bổn phận mà Chúa giao phó cho mỗi người với điều kiện đừng để cho bản thân, gia đ́nh, của cải, danh lợi làm chủ, điều kiển đến độ quên hết đời sau.
Kinh nghiệm cho hay một phần lớn thời gian trong cuộc sống là chờ đợi. Có cái phải chờ đợi mấy phút, vài giờ, một tuần, cả tháng hay vài năm. Có khi lại phải chờ đợi cả đời người. Cuộc đời có ư nghĩa và hạnh phúc hay không tùy theo thái độ của chúng ta trong lúc chờ đợi.
Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu lên trời. Đây là thời gian chờ đợi của các thánh tông đồ. Thánh Matthêu kể lại cho chúng ta biết rằng: “Khi ấy, mười một môn đệ đi về Galilêa, đến núi Chúa Giêsu đă chỉ trước”. Luca ghi lại rằng: “Và đây, chính Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đă hứa. C̣n anh em, hăy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống”. Và sách Công vụ Tông đồ cũng nói rằng: “Người đă ra lệnh cho các ông chớ rời khỏi Giêrusalem, nhưng hăy chờ đợi điều Chúa Cha đă hứa”.
Các tông đồ chờ đợi sự xuất hiện vinh quang của Thiên Chúa được biểu lộ ra cho họ qua biến cố Chúa Giêsu lên trời. Và qua lời hứa của Chúa Giêsu, các tông đồ lại chờ đợi sự hiện xuống của Đức Chúa Thánh Thần cùng với sức mạnh của Thần Khí được ban cho các ngài.
Thánh Augustinô đă giải thích lư do tại sao chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu lên trời như sau: “Vinh quang của Thiên Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô, đă được hoàn tất bởi sự sống lại và lên trời của Ngài. Vào Chúa nhật Phục sinh, chúng ta cử hành sự sống lại; hôm nay chúng ta cử hành sự lên trời của Ngài. Cả hai lễ đều thuộc về chúng ta, v́ Ngài đă sống lại để cho chúng ta một bằng chứng về sự sống lại của chính chúng ta; Ngài đă lên trời để bảo vệ chúng ta từ trên trời cao”.
Sách Giáo lư Công giáo số 661 nói rằng: “Vinh quang của sự Chúa lên trời đă gắn liền với giai đoạn của sự đi xuống của mầu nhiệm Nhập Thể. Chỉ một ḿnh Đấng đă “bởi Chúa Cha mà ra” mới có thể “trở về với Chúa Cha”: đó là Đức Kitô. “Không một ai đă lên trời bao giờ, trừ Con Người đă từ trời xuống thế”. Với sức mạnh tự nhiên của ḿnh, loài người không có đường nào để tới “nhà Cha”, tới sự sống và vinh phúc của Thiên Chúa. Chỉ một ḿnh Chúa Kitô đă có thể mở đường cho con người, “để chúng ta, những chi thể của Ngài, chúng ta có hy vọng đoàn tụ với Ngài, Đầu của chúng ta và Nguyên lư của chúng ta, ở nơi mà Ngài đă đến trước chúng ta”.
Đối với người Kitô hữu, trong khi chờ đợi để được đoàn tụ với Đức Kitô th́ chính thái độ và cách sống sẽ đưa chúng ta vào vương quốc Thiên Chúa, vương quốc của an b́nh, công chính, và hạnh phúc cho mọi người. Chúng ta phải có thái độ nào đang khi chờ đợi?
Hăy nh́n vào đời sống của các tông đồ, chúng ta sẽ học được thái độ phải có. Các ngài đă không chờ đợi ở Giêrusalem với một thái độ thụ động, tiêu cực và nhàm chán. Nhưng các ngài đă chờ đợi với niềm vui chung của toàn thể Giáo Hội, xét như thân thể của Chúa Giêsu Kitô như Luca đă diễn tả: “Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giêrusalem, ḷng đầy hoan hỷ”.
Trước hết, các ngài đă quy tụ chung lại với nhau, thờ phượng Thiên Chúa, và cầu nguyện với ḷng ước ao gặp gỡ Thiên Chúa. Các ngài và những người tín hữu tiên khởi đă tiếp tục công việc của Chúa Giêsu khởi sự qua các sinh hoạt của Giáo Hội, với đời sống cầu nguyện, cử hành các bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể, và đặc biệt qua đời sống bác ái yêu thương.
Thứ đến, các ngài chờ đợi trong tin tưởng và trung thành vào lời hứa của Chúa Giêsu. Tin tưởng và trung thành vào lời hứa của Thiên Chúa là t́m kiếm những dấu chỉ của Thiên Chúa ở mọi nơi trong đời sống của chúng ta. Đôi khi Thiên Chúa xuất hiện trong những hoàn cảnh và môi trường xem ra rất tức cười.
Nếu chúng ta không nhận ra những dấu chỉ của việc Thiên Chúa làm, chúng ta sẽ không bao giờ thấy. Tôi tự hỏi rằng đă có biết bao nhiêu người chăn chiên đă đi qua bụi cây rừng đang cháy trong câu chuyện của Môsê, và họ đă không nh́n thấy ǵ cả! Chỉ có Môsê là người tin tưởng và trung thành nên đă đón nhận được sự biểu tỏ của Thiên Chúa. Môsê đă t́m kiếm tích cực, nên mới gặp gỡ.
Chúng ta cũng có thể sẽ bỏ lỡ cơ hội gặp gỡ Thiên Chúa nếu chúng ta không t́m kiếm Ngài một cách tích cực. John Westerhoff, giảng sư của trường Duke University, trong các bài nói chuyện với sinh viên thường kể câu chuyện về một người có tên là Nostradam. Trong nhiều năm, Nostradam đă đi qua biên giới bằng con lừa kéo chiếc xe chở đầy rơm khô. Những người lính biên pḥng biết rất rơ Nostradam đang buôn lậu một cái ǵ đó. Họ chặn ông lại và lục soát kỹ lưỡng chiếc xe chở cỏ khô. Đôi khi họ c̣n lấy cỏ xuống mang đi đốt, nhưng vẫn chẳng t́m thấy sự ǵ. Sau cùng, khi ông già yếu, phải nghỉ làm công việc buôn bán này. Họ tổ chức một buổi tiệc cho ông. Những người lính biên pḥng nói với ông, “Thưa cụ Nostradam! Bây giờ cụ đă nghỉ ngơi rồi, xin cụ có thể nói với chúng tôi, cụ đă buôn lậu cái ǵ trong những năm qua”. Nostradam thản nhiên trả lời, “buôn những con lừa”. Điểm chính của câu chuyện là những thứ buôn lậu ở ngay trước mắt của họ, nhưng họ không nh́n thấy.
Sự hoạt động của Thiên Chúa cũng giống như vậy. Không phải là Ngài không có mặt trên trần gian, nhưng con người đă làm ngơ, quên đi tất cả các dữ kiện và dấu chỉ về sự hoạt động của Ngài.
Bài đọc sách Công vụ Tông đồ hôm nay cho biết: Chúa Giêsu lên trời trước mặt nhiều môn đệ vào ngày thứ 40 sau Phục sinh, tức là lần hiện ra cuối cùng với họ, và trong khoảng thời gian 40 ngày, kể từ ngày Phục sinh, Chúa Giêsu không ở liền với các môn đệ mọi giây phút, nh