1. Chúa Kytô Đấng trung gian duy nhất
Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô quang Kiệt
I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Ga 17, 1-11a
II. TẤM BÁNH CHIA SẺ
Bài Tin mừng hôm nay tràn ngập tâm t́nh yêu mến của Chúa Giêsu. Đó là tâm t́nh yêu mến với Đức Chúa Cha, Đấng mà Chúa Giêsu luôn gắn bó, luôn kết hiệp chặt chẽ, luôn vâng phục. Và hôm nay trước giờ phút sắp hoàn thành nhiệm vụ. Chúa Giêsu mong ước được về với Đức Chúa Cha. Tâm t́nh yêu mến cũng hướng Chúa Giêsu về các môn đệ. Chúa thương các ông c̣n ở lại trần gian với bao nguy cơ ŕnh rập. Nên Chúa cầu nguyện cho các ông và xin Đức Chúa Cha thương nâng đỡ các ông.
Xuyên qua những lời cầu nguyện, những tâm t́nh tha thiết của Chúa Giêsu, ta thấy Người đă hoàn thành vai tṛ trung gian giữa Thiên Chúa và con người ở 3 khía cạnh.
Chúa Giêsu là trung gian chuyển cầu. Con người chưa biết Thiên Chúa nên cũng chưabiết cầu nguyện. Và chắc chắn là lời cầu nguyện của con người, nếu có, cũng không xứng đáng dâng lên trước toà Thiên Chúa, v́ con người quá hèn lại c̣n tội lỗi nữa. Trong hoàn cảnh ấy, Chúa Giêsu đă là một trung gian thế giá không những dâng lời cầu nguyện của con người lên Thiên Chúa mà c̣n đích thân cầu nguyện cho con người. Hôm nay, người tha thiết nói với Đức Chúa Cha: “Con cầu nguyện cho họ”. Người không chỉ cầu nguyện cho các môn đệ yêu dấu, mà c̣n cầu nguyện cả cho những kẻ thù ghét hành hạ, giết chết Người. Trên thập giá, lúc gần tắt hơi, Người c̣n cầu nguyện: “Lạy Cha, xin Cha tha cho họ, v́ họ lầm không biết”.
Chúa Giêsu là trung gian nối kết. Chúa Giêsu là Thiên Chúa làm người. Là Thiên Chúa, Người ngang hàng với Thiên Chúa, hiểu biết về Thiên Chúa. Là con người, Người đă sống như một con người với tất cả những buồn vui sướng khổ. Là Thiên Chúa, nên Người có thểgiới thiệu Thiên Chúa cho con người như Người nói: “Con đă cho họ biết danh Cha… v́ con đă ban cho họ lời mà Cha đă ban cho con”. Là con người nên Người thông cảm với con người, có thể là đại diện, là trung gian cho con người với Đức Chúa Cha. Người đă nối kết Thiên Chúa với con người. Người là nhịp cầu nối đất trời với đất. Nhất là qua cuộc cứu chuộc, Người đă phá đổ bức tường ngăn cách, xoá bỏ thù hận, hoà giải con người với Thiên Chúa.
Chúa Giêsu là trung gian cứu độ. Chúa Giêsu xuống trần gian để cứu độ loài người. Để cứu độ loài người, Chúa Giêsu hoàn toàn vâng phục thánh ư Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá. Người đă nêu gương tâm t́nh hiếu thảo để chuộc lại sự bất hiếu của loài người. Người đă nêu gương vâng phục để chuộc lại sự bất tuân của loài người. Người đă hoàn thành nhiệm vụ tôn vinh Chúa Cha như Người nói: “Phần con, con đă tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công tŕnh Cha đă giao cho con làm”. Người đă mở ra con đường cứu độ để từ nay tất cả những ai muốn được cứu độ phải đi t́m con đường ấy. Đó là chu toàn nhiệm vụ Thiên Chúa trao phó cho mỗi người trong cuộc sống trần gian. Đó là sống tâm t́nh hiếu thảo với Đức Chúa Cha. Tâm t́nh hiếu thảo được biểu lộ qua sự hoàn toàn vâng phục thánh ư Chúa Cha, cho dù phải đau khổ, phải chết. Con người Chúa Giêsu là con đường duy nhất. V́ dù ta có chu toàn nhiệm vụ, vâng phục Thánh ư Chúa Cha trong mọi sự, ta cũng chỉ được ơn nghĩa qua Chúa Giêsu, nhờ công ơn Chúa Giêsu mà thôi.
Tạ ơn Chúa Cha đă ban cho ta Chúa Giêsu Kitô, Đấng yêu thương mặc khải cho biết Chúa Cha. Tạ ơn Chúa Giêsu Kitô đă chấp nhận thân phận loài người để ở giữa chúng ta, hoàn toàn thông cảm với thân phận yếu đuối con người chúng ta. Tạ ơn Chúa Giêsu Kitô đă mở cho ta con đường đi về với Chúa Cha, để cho ta được sự sống đời đời.
III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU
1)Bạn có tâm t́nh gắn bó với Đức Chúa Cha như Chúa Giêsu không?
2) Bạn ư thức vai tṛ trung gian của Chúa Giêsu như thế nào?
3) Bạn sẽ làm ǵ để sống niềm tin tưởng vào Chúa Giêsu như Đấng Trung Gian duy nhất?
William Allen White, một chủ bút nổi tiếng của tờ báo "Emporia Gazette", là một thành phần nhiệt thành của Đảng Dân Chủ. Một lần ông phải đi tham dự một buổi họp mặt của Đảng Cộng Ḥa với tư cách là một phóng viên chính trị. Khi buổi họp khai mạc, người chủ hội đă mời ông White dâng lời nguyện chung. William Allen White đă từ chối ngay, "Không, tôi sẽ không cầu nguyện ở nơi đây bởi v́ hai lư do. Thứ nhất là bởi v́ tôi không được huấn luyện để cầu nguyện nơi chung. Thứ hai là bởi v́ tôi không muốn Chúa biết tôi hiện diện ở nơi đây."
Sự tiến triển đời sống tâm linh của chúng ta bị hạn hẹp ở những phạm vi nào mà chúng ta cố ư để trốn tránh Thiên Chúa. Chúng ta cần phải biết rằng khi chúng ta càng biết đem Chúa vào từng lănh vực của cuộc sống chúng ta th́ mối t́nh của chúng ta sẽ càng khăng khít hơn, và chúng ta sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện của Ngài bên ta một cách thiết thực hơn.
Chúng ta có lẽ c̣n nhớ câu chuyện "Người đàn bà góa dâng cúng hai xu". Chúa Giêsu ngồi bên thùng dâng cúng của Đền Thờ, và Ngài nh́n thấy nhiều người bỏ vào thùng rất nhiều tiền. Tuy nhiên, điều Ngài nhận thấy là cho dù người ta có bỏ vô thùng dâng cúng rất nhiều, nhưng họ chỉ dâng cho Thiên Chúa những của dư, hoặc là họ làm như thế bởi v́ họ đi t́m danh vọng. Món quà họ dâng cho Chúa không có chút thành tâm nào cả. Có lẽ một số trong chúng ta ngày nay cũng đang hành động như số người này.
Đến khi Chúa Giêsu nh́n thấy người đàn bà góa chỉ bỏ vô thùng dâng cúng có hai xu th́ Ngài đă ca ngợi tấm ḷng của bà ấy. Dĩ nhiên, đồng tiền dâng cúng là một điều cần thiết để giúp xây dựng cộng đoàn và làm cho nó tồn tại, thế nhưng, không phải v́ đó mà chúng ta lạm dụng việc này để đạt một mục đích khác. Chúng ta bỏ tiền vô nhà thờ, nhưng chúng ta nên làm việc này với một tâm t́nh như người đàn bà góa. Bà đă làm với tất cả tấm ḷng chân thành và yêu mến của bà. Chính v́ ḷng mến của bà mà bà đă không quản ngại dâng cho Chúa tất cả những ǵ bà có.
Có lẽ khi xét ḿnh, chúng ta sẽ thấy rằng ở một lănh vực nào đó, chúng ta nói với Chúa rằng "Xin Chúa tránh chỗ này trong cuộc sống của con! Đây là điều bí mật của con! Xin Ngài đừng đụng tới..." Kết quả là chúng ta đuổi Chúa ra khỏi những nơi quan trọng trong cuộc sống của chúng ta, và đồng thời chúng ta cũng ngăn cản ơn thánh xuống trên chúng ta.
Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đă cầu nguyện với Chúa Cha rằng, "Phần Con, Con đă tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công tŕnh Cha đă giao cho Con làm. Tất cả những ǵ của Con đều là của Cha, tất cả những ǵ của Cha đều là của Con" (Ga 17, 4.10).
Chúng ta hăy nói với Chúa rằng, "Lạy Chúa, đây là tất cả cuộc sống của con, tất cả mọi hành vi trong ngoài của con, kể cả tiền bạc của cải! Con yêu Chúa! Con muốn bộc lộ t́nh yêu của con đối với Chúa! Tất cả những ǵ con có đều bởi Chúa ban cho con!"
Nhiều người trong chúng ta thường phản ứng như thế này:
Họ lớn tiếng ca ngợi vàcảm tạ Thiên Chúa khi gặp được những may mắn và thành công, nghĩa là khi cuộc đời mỉm cười với họ.
Thế nhưng, họ lại vội vă xúc phạm và nguyền rủa Thiên Chúa khi gặp phải những bất hạnh và khổ đau, nghĩa là khi cuộc đời trở thành một gánh nặng đè xuống trên vai họ.
C̣n chúng ta th́ sao?
Chúng ta nên nhớ rằng ḿnh là người môn đệ của Đức Kitô bị đóng đanh. V́ thế, những gian nan và thử thách, những khổ đau và buồn phiền, những bắt bớ và cấm cách chỉ là chuyện thường t́nh, không bao giờ thiếu vắng trong cuộc sống của chúng ta.
Tuy nhiên, điều quan trọng và cần thiết, đó là chúng ta phải biết kết hợp những khổ đau của chúng ta với cuộc thương khó của Đức Kitô. Lúc đó, đau thương sẽ là đường lên ánh sáng, gian khổ sẽ là đường về vinh quang và thập giá sẽ là đường dẫn chúng ta tới sự phục sinh.
Thánh Phêrô đă nói với chúng ta:
- Anh em hăy vui mừng v́ được thông phần vào sự thống khỏ của Đức Kitô để khi vinh quang của Ngài tỏ hiện, anh em sẽ được vui mừng hoan hỉ.
Đứng trước những khổ đau, thay v́ hậm hực tức tối, chúng ta phải biết nh́n nó bằng cặp mắt đức tin. Tư tưởng sau đây của một tu sĩ Ấn độ rất đáng cho chúng ta suy nghĩ:
- Khi người đàn bà ṿ chiếc áo của ḿnh rồi đập nó trên ḍng nước, th́ bà ta không có ư vùi dập nó, trái lại, bà muốn nó được trắng hơn, sạch hơn để mặc trong những ngày lễ. Cũngvậy, khi Thiên Chúa thử thách con người và tẩy rửa nó bằng nước mắt, th́ Ngài cũng muốn nó được trở nên giống Ngài hơn.
Chúng ta khóc lóc và tuyệt vọng khi mất đi một người thân yêu. Thế nhưng, khi mất đi một sự c̣n quí giá hơn cả những người thân yêu, th́ tại sao chúng ta lại không khóc lóc: đó là khi chúng ta mất đi chính bản thân chúng ta.
Cha Chevrier đă viết như sau:
- Chính những khổ đau đă tôi luyện chúng ta trở nên những con người thực sự.
Hay như tục ngữ cũng đă nói:
- Lửa thử vàng, gian nan thử đức.
Có một vị thừa sai ở Bắc cực, ngày kia đă cằm một tượng thánh giá lớn trong tay để hôn. Nhưng v́ trời quá lạnh khiến cho vị thừa sai ấy không c̣n làm chủ được những hành động của ḿnh nữa.
V́ tê cóng khiến tay bị run, nên vị thừa sai ấy đă để cho tượng thánh giá đập vào môi và tạo nên một vết thương chảy máu.
Đây quả là một h́nh ảnh đẹp và có ư nghĩa.
Thực vậy, chúng ta phải hoàn tất công cuộc khổ nạn của Đức Kitô. Ngày hôm nay, Ngài không c̣n đổ máu, nhưng đến lượt chúng ta: môi niệng, thân thể, trái tim cũng như tâm hồn chúng ta phải đổ máu.
Bởi đó, hăy bước đi với Chúa trên con đường thập giá, để nhờ đó chúng ta sẽ được chia sẻ phần vinh quang phục sinh với Ngài.
Vào một buổi tối thứ bẩy, thầy giáo cùng với đội bóng của nhà trường đáp máy bay trở về sau một cuộc thi đấu. Thế nhưng máy bay bị trục trặc nghiêm trọng, phải đáp xuống khẩn cấp. Trong lúc hoảng hốt, một em học sinh đă kêu to. Xin thầy hướng dẫn chúng em cầu nguyện, tất cả chúng em đều sợ hăi lắm. Thầy giáo liền cầu nguyện lớn tiếng thay cho mọi người. Mấy phút sau, máy bay đáp xuống an toàn, không phát nổ và không có ai bị thương.
Tối hôm sau, thầy giáo đến nhà thờ cùng với gia đ́nh và dâng lễ tạ ơn. Và trước khi đi ngủ, ông đă đóng cửa pḥng và qú gối cầu nguyện:
- Lạy Chúa, mặc dầu con không biết được kế hoạch và ư định của Chúa, nhưng kể từ nay, con sẽ nhấn mạnh cho đám thanh thiếu niên được con huấn luyện biết rằng: C̣n có điều quan trọng cho cuộc đời hơn là chỉ biết chơi bóng đá. Và giúp họ biết rằng Chúa đă dành cho cuộc đời chúng con một mục đích.
Từ câu chuyện trên và dựa vào nền tảng Kinh Thánh, chúng ta thấy có ba h́nh thức cầu nguyện.
Thứ nhất là cầu nguyện riêng, nghĩa là cầu nguyện một ḿnh, giống như ông thầy giáo đă làm trong pḥng riêng của ḿnh trước khi đi ngủ.
Thứ hai là cầu nguyện theo nhóm, nghĩa là khi chúng ta cùng với gia đ́nh hay bè bạn thân tín cầu nguyện chung với nhau, giống như ông thầy giáo cùng với các em đă làm khi chiếc máy bay lâm nạn.
Cuối cùng là cầu nguyện cộng đồng, nghĩa là khi chúng ta cầu nguyện cùng với cộng đồng Kitô hữu rộng lớn hơn, giống như trường hợp ông thầy và gia đ́nh đi dâng lễ tạ ơn.
Trong cuộc đời, Chúa Giêsu cũng đă cầu nguyện dưới ba h́nh thức này. Trước hết Ngài đă cầu nguyện một ḿnh. Sau một ngày vất vả, th́ ban đêm, Ngài thường lên núi hay t́m một nơi thanh vắng để cầu nguyện, tâm sự, kết hiệp với Chúa Cha.
Tiếp đến Ngài cũng đă cầu nguyện trong những nhóm nhỏ, như với gia đ́nh, với bè bạn. Các gia đ́nh Do Thái thường có thói quen cầu nguyện chung với nhau. Và gia đ́nh của Chúa Giêsu hẳn không nằm ngoài thói quen đó…
Rồi Ngài cũng thường cầu nguyện với các môn đệ. Phúc âm thánh Luca kể lại: Ngài đem Phêrô, Gioan và Giacôbê theo Ngài lên núi để cầu nguyện.
Sau cùng, Ngài đă cầu nguyện chung với cộng đoàn. Phúc âm đă nhiều lần nói rằng: Theo lệ thường, Chúa Giêsu đến hội đường vào ngày Sabbat để cầu nguyện. Từ mẫu gương của Chúa Giêsu, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy trong sách Tông đồ Công vụ, các môn đệ đầu tiên cũng đă cầu nguyện như thế. Chúng ta gặp thấy Phêrô cầu nguyện một ḿnh, rồi các môn đệ tụ tập nhau thành từng nhóm nhỏ cầu nguyện, và cuối cùng chúng ta gặp thấy họ nhóm họp thành cộng đoàn để cầu nguyện như khi cử hành nghi thức bẻ bánh.
C̣n chúng ta th́ sao? Cho đến ngày hôm nay, chúng ta đă cầu nguyện như thế? Chúng ta đă thực sự gặp gỡ, tâm sự và tṛ chuyện với Chúa trong những giây phút cầu nguyện hay chưa?
Bài Phúc âm hôm nay, trích từ “Cuộc nói chuyện cuối cùng” của Chúa Giêsu với các môn đệ ở Bữa Ăn Tiệc Ly, và thường được gọi là “Lời cầu nguyện của Đức Giêsu, Thầy cả Thượng phẩm”. Trong Cựu Ước, những thầy thượng phẩm thường dâng lời cầu nguyện với công thức: trước hết, cầu nguyện cho chính họ, rồi cho những người thân nhân, và sau cùng cho toàn thể cộng đoàn Israel.
Theo cùng một công thức, Chúa Giêsu đă cầu nguyện cho chính Ngài, rồi sau đó cho các môn đệ của Ngài, và sau cùng cho tất cả mọi người tin tưởng vào Ngài. Bài Phúc âm hôm nay chỉ gồm phần Chúa Giêsu cầu nguyện cho chính Ngài và một phần cầu nguyện cho các môn đệ. Chúng ta nhận thấy có hai điểm nổi bật:
1) Chúa Giêsu vô cùng yêu mến Cha trên trời của Ngài: Các nhà chú giải Thánh Kinh đếm được trong Phúc âm của Gioan, Chúa Giêsu dùng chữ “Abba, Cha” để chỉ về Thiên Chúa ít nhất 170 lần. Riêng trong toàn thể lời cầu nguyện này, chữ “Abba, Cha” đă được dùng tới 59 lần. Và trong tất cả các thư của thánh Phaolô đều mở đầu bằng việc tuyên xưng Thiên Chúa là Cha.
2) Chúa Giêsu cũng vô cùng yêu mến các môn đệ của Ngài: Trong lời cầu nguyện này, Ngài đă nhắc đến họ 49 lần.
Trong ngôn ngữ Do Thái cổ Aramaic, tiếng “Abba” là một từ rất đặc biệt dùng diễn tả sự thân mật yêu thương, nồng nàn nhất. Đặc biệt v́ h́nh thức tự nhiên của nó, không khách sáo, không kiểu cách, không h́nh thức. Đây là một mạc khải đầy ngạc nhiên mà Chúa Giêsu đă cho chúng ta biết. Ngài mời gọi chúng ta kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, một người Cha yêu mến và săn sóc chúng ta.
T́nh yêu đó được diễn tả trong chương tŕnh sáng tạo và cứu chuộc con người. Trong bài giáo lư “Thiên Chúa là T́nh Yêu” vào dịp mừng Năm Thánh 2000, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă viết: “Chân lư Thiên Chúa là t́nh yêu làm nên đích điểm của tất cả những ǵ đă được mạc khải, “qua các tiên tri và trong những ngày sau hết này qua Người Con”… T́nh yêu vẫn là một diễn đạt của quyền toàn năng đối diện với sự dữ, với tội lỗi của các thụ sinh. Chỉ có t́nh yêu toàn năng mới có thể rút được sự lành từ sự dữ, sự sống mới từ tội lỗi và sự chết thôi. T́nh yêu như một quyền lực ban sự sống và làm sinh động. T́nh yêu hiện diện trong toàn thể mạc khải”.
Đức Thánh Cha đă nhấn mạnh đến t́nh yêu Thiên Chúa khi loài người chuẩn bị bước sang ngàn năm Thứ Ba với tâm thức đầy kiêu căng và tự phụ của ḿnh. Hơn bao giờ hết, con người ngày nay tỏ ra chống lại với một Thiên Chúa của t́nh thương. Họ có khuynh hướng muốn loại trừ t́nh yêu Thiên Chúa ra khỏi đời sống và ra khỏi cơi ḷng của con người.
Đang khi con người càng ngày càng muốn đặt niềm tin vào chính ḿnh và vào thế giới vật chất, th́ họ cũng càng ngày càng gặp nhiều vấn đề nan giải. Bạo lực, chiến tranh, nghèo đói, bất công, thù hận… dường như đă gia tăng theo sự phát triển của nền văn minh hiện đại mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă gọi là nền “văn hóa của sự chết”!
Con người ngày nay đă cố t́nh muốn quên đi diễm phúc tinh thần cao cả và vinh quang khôn lường được làm con cái Thiên Chúa, để mặc vào những ảo ảnh phù vân của vật chất và trần gian như Đức cố Hồng Y John Henry Newman đă nhận xét:
“Sự giàu có là vị thần vĩ đại của ngày nay: rất nhiều người, tầng tầng lớp lớp người tự nhiên tôn vinh vị thần này. Người ta đo hạnh phúc bằng cái thước của tài sản, và người ta đo sự đáng kính cũng bằng cái thước này… Người ta xác tín như vậy v́ tin rằng có tiền th́ làm ǵ cũng được. Như vậy sự giầu có là một trong những thần tượng của ngày nay. Một thần tượng khác nữa là danh vọng… Được danh tiếng, được người ta biết đến ḿnh, có tiếng vang trên thế giới (đó là danh tiếng trên báo chí), đă được người ta coi là một sự thiện, là sự thiện tối cao, và một điều được người ta thật sự tôn quư”.
Diễm phúc được làm con cái Thiên Chúa được Giáo Hội diễn tả như sau: “Thiên Chúa đă đặt chúng ta ở thế gian này để nhận biết Ngài, phụng sự Ngài và yêu mến Ngài, và như vậy chúng ta sẽ được lên thiên đàng. Vinh phúc cho ta được dự phần vào bản tính thần linh và được tham dự vào sự sống vĩnh cửu. Với cuộc sống vĩnh cửu, con người bước vào vinh quang của Chúa Kitô và được hưởng sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa”.
Thiên Chúa không chỉ mời gọi chúng ta tham gia vào t́nh yêu và hạnh phúc của Ba Ngôi Thiên Chúa, nhưng Ngài c̣n nỗ lực kiếm t́m chúng ta như t́m kiếm một con chiên lạc. Công cuộc kiếm t́m này khởi sự với sự Nhập Thể của Con Thiên Chúa. Thiên Chúa đi t́m con người v́ họ đă được dựng nên theo h́nh ảnh Ngài, giống như Ngài. Bởi từ đời đời Ngài đă yêu thương họ. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă diễn tả như sau:
“Thiên Chúa đi t́m kiếm con người là sở hữu đặc biệt của Ngài bằng một đường lối không giống như các tạo vật khác. Con người là sở hữu của Thiên Chúa bởi việc yêu thương chọn lựa: Thiên Chúa t́m kiếm con người theo tấm ḷng hiền phụ rung cảm của ḿnh”.
Cha Anthony De Mello đă ghi lại cảm nghiệm làm con cái Thiên Chúa của ngài như sau: “Tôi sống mối quan hệ rất tốt với Chúa. Tôi tṛ chuyện với Ngài, cầu xin, chúc tụng, tạ ơn Ngài. Nhưng tôi cứ có cảm giác khó chịu là Ngài muốn tôi nh́n vào mắt Ngài. Nhưng tôi không nh́n. Tôi chỉ nói và nh́n ra nơi khác nếu tôi cảm thấy như thể Ngài đang nh́n tôi. Tôi thường xuyên nh́n ra nơi khác như thế, v́ tôi sợ ! Tôi nghĩ rằng cặp mắt Ngài sẽ tố giác tôi về những tội lỗi nào đó chưa chừa được ! Hoặc là cặp mắt đó sẽ đ̣i hỏi tôi phải làm điều ǵ đó. Cuối cùng, một ngày kia, tôi thu hết can đảm và nh́n lên. Không có tố giác ! Chẳng có đ̣i hỏi ! Cặp mắt ấy chỉ muốn nói: “Cha yêu con !” Tôi nh́n lại nữa. Cũng vẫn lời nhắn nhủ ấy: “Cha yêu con !” Tôi bước ra ngoài, và như thánh Phaolô xưa, tôi khóc”.
Trong cuốn “Abba, Lạy Cha !” khi suy niệm về kinh Lạy Cha, Đức Cha Bùi Tuần chia sẻ: “Chúa Giêsu nói: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”. Thiên Chúa là Cha, không phải chỉ là Cha của Chúa Giêsu, mà cũng là Cha của tôi, của bạn, của chúng ta. Cha trên trời của chúng ta có vô vàn vẻ đẹp. Nhưng có một đặc điểm mà thánh Phaolô đă cho là rất đẹp, rất quan trọng, rất cần nêu lên, đó là ḷng thương xót – Deus Dives in Misericordia – Thiên Chúa giầu ḷng thương xót. Đó là một h́nh ảnh rất đúng và cũng rất dễ hiểu về Thiên Chúa”.
Khi khẩu súng máy mới bắt đầu được phát minh, đă có một vấn đề xảy ra. Nếu khẩu súng máy bắn liên tục trong một thời gian sẽ làm nóng đỏ ṇng súng lên và gây ra kẹt đạn. Trong một số trường hợp, ṇng súng có thể bị nổ tung ra. Lúc ban đầu đă có hai biện pháp đơn giản được đưa ra để giải quyết vấn đề này: hoặc là thay đổi ṇng súng khác, hay tạm ngưng bắn trong một thời gian nào đó.
Sự dồn dập và căng thẳng của cuộc sống vật chất đang đè nén trên tâm hồn con người giống như ṇng súng đă bị nóng đỏ lên, cần phải làm cho nó mát lại hoặc được nghỉ ngơi. Con người cần phải trở về nguồn sức mạnh thần linh thực sự của ḿnh và nhận biết t́nh yêu Thiên Chúa như Chúa Giêsu đă mời gọi: “Sự sống đời đời đó là nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đă sai đến, là Giêsu Kitô”.
Trong quyển sách “The Gift of Peace”. Đức cố Hồng Y Joseph Bernadin đă kể về t́nh yêu của cha ngài đối với con cái. Khi ngài vừa lên 4 tuổi, cha ngài đă bị bệnh ung thư, và trải qua một cuộc giải phẫu ở vai trái. Một hôm đến nhà người bạn chơi, vô t́nh ngài bị ngă từ lan can hiên nhà rơi xuống đất, rồi khóc thét lên… Ngay lập tức, cha ngài nhẩy qua lan can phóng xuống đất, bồng ngài lên và hỏi: “Con có sao không?” Nằm gọn trong cánh tay của cha rồi, ngài mới nhận thấy máu đỏ từ vết thương mới mổ ở vai đă chảy ra, ngấm qua những lớp băng, ướt vai áo sơ mi trắng ngắn tay của cha. Người cha đă không kể ǵ đến vết thương mới mổ, mà chỉ lo cho tính mạng của người con. Thật là một t́nh yêu hy sinh đến quên ḿnh v́ con cái của một người cha nhân ái.
Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên trời cũng yêu thương con cái vô cùng, như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă dùng lời Thánh Kinh mà nói rằng: “Chân lư, được mạc khải nơi Chúa Kitô, về Thiên Chúa là “Người Cha giầu ḷng Thương Xót”, cho chúng ta thấy Ngài đặc biệt gần gũi với con người, nhất là khi con người chịu đau khổ, bị đe dọa ở ngay giữa cuộc hiện hữu và phẩm vị của ḿnh”.
Hôm nay là Chúa Nhật và là tuần cuối cùng của Mùa Phục Sinh 50 ngày. Chủ đề "Thày là sự sống" của Mùa Phục Sinh từ Chúa Nhật IV Phục Sinh vẫn tiếp tục nơi bài Phúc Âm của Chúa Nhật VII Phục Sinh hôm nay. Bài Phúc Âm hôm nay là phần đầu của Lời Nguyện Tiệc Ly. Lời Nguyện Tiệc Ly của Chúa Giêsu được Giáo Hội chia ra làm ba phần cho ba bài Phúc Âm của ba Chu Kỳ Phụng Vụ A, B và C, thuộc Chúa Nhật VII Phục Sinh hằng năm. Theo nội dung của ḿnh, có thể nói, Lời Nguyện Tiệc Ly là đoạn Phúc Âm Tâm Điểm của riêng Bốn Phúc Âm và của chung Toàn Bộ Thánh Kinh. V́ đoạn Phúc Âm này cho thấy Toàn Diện Mạc Khải Thần Linh về Dự Án Cứu Độ cũng như Công Cuộc Cứu Độ của Thiên Chúa. Ư chính của Lời Nguyện Tiệc Ly này là "sự sống đời đời", một sự sống được Con thông ban cho Giáo Hội (phần nhất), một Giáo Hội ở thế gian song không thuộc về thế gian (phần hai), để Giáo Hội được hiệp nhất nên một với Cha và Con cho thế gian nhờ Giáo Hội mà được sự sống (phần ba).
V́ tính cách quan trọng của Lời Nguyện Tiệc Ly này, chúng ta hăy cùng nhau t́m hiểu từng câu một:
"Lạy Cha, đă đến giờ rồi! Xin hăy tôn vinh Con Cha để Con Cha cũng được tôn vinh Cha, v́ Cha đă ban cho Người quyền bính trên toàn thể nhân loại, để Người ban sự sống đời đời cho những ai Cha đă trao cho Người. (Sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha sai là Giêsu Kitô)".
"Đă đến giờ rồi!" Đây là giây phút tuyệt đỉnh của Lời Nhập Thể trong tất cả thời gian sống trên trần thế của Người, đến nỗi, nếu không có giây phút này, cũng không cần đến giây phút Nhập Thể, cũng không có giây phút Tạo Dựng, không có ǵ cả.
"Xin hăy tôn vinh Con Cha để Con Cha cũng được tôn vinh Cha": Sở dĩ "giờ" khắc Chúa Giêsu nói đến ở đây vô cùng quan trọng như vậy, là v́ đó là giây phút Thiên Chúa Thần Hiển. Không phải là một cuộc thần hiển như những cuộc thần hiển biểu hiện trong Cựu Ước, như cuộc thần hiển ở bụi gai cháy mà không bị thiêu rụi (x Ex 3:2), hay cuộc thần hiển trên núi Sinai trước khi Thiên Chúa ban Thập Giới (x Ex 19:16). Mà chính là một Thực Tại Thần Linh Hiện Thực, một cuộc Thần Hiển tỏ hiện tất cả Nội Tâm của Thiên Chúa. Ở chỗ, Cha tôn vinh Con và Con tôn vinh Cha. Cha tôn vinh Con, ở chỗ, Cha chứng tỏ Con thực sự là Con của Cha, thực sự là Đấng Ngài sai. Và Con tôn vinh Cha, ở chỗ, Con chứng tỏ rằng Con được Cha sai, Con từ Cha mà đến. Và Cuộc Thần Hiển Thực Tại Thần Linh về việc Cha Con tôn vinh nhau này được thực hiện qua Biến Cố Vượt Qua, như đă chia sẻ ở Chúa Nhật VI Phục Sinh Năm A: "Cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu Kitô thực sự là việc 'Thày đi để dọn chỗ cho các con', một biến cố là tuyệt đỉnh Mạc Khải Thần Linh: 'Thày ở trong Cha' qua việc Tử Giá, dấu chứng tỏ Người được Cha sai; và 'Cha ở trong Thày' qua việc Phục Sinh, dấu Cha chứng tỏ Chúa Kitô đúng là 'Đấng Cha sai'".
"V́ Cha đă ban cho Người quyền bính trên toàn thể nhân loại, để Người ban sự sống đời đời cho những ai Cha đă trao cho Người". Sở dĩ có Cuộc Thần Hiển Vượt Qua vô tiền khoáng hậu, Cuộc Thần Hiển của "giờ" khắc quan trọng nhất trong lịch sử tạo vật nói chung và lịch sử loài người nói riêng này cần phải thực hiện, cần phải xẩy ra, là v́ Thiên Chúa muốn cho "toàn thể nhân loại" được thông hưởng Sự Sống Thần Linh của Ngài trong Con Ngài là Lời Nhập Thể. "Quyền bính trên toàn thể nhân loại" đây không phải là khả năng thông ban "sự sống đời đời", mà là tư cách "quyền bính" của Con Ngài khi nhập thể, tức tư cách đóng vai "là trưởng tử của tất cả mọi tạo vật" (Col 1:15), "là trưởng tử của một đàn em đông đúc" (Rm 8:29), "là đầu của thân thể Giáo Hội" (Col 1:18). Và đó là lư do thành phần đầu tiên và trên hết Con cho tham hưởng "sự sống đời đời" đây chính là "những ai Cha đă trao cho Người". Điển h́nh là thành phần tông đồ chứng nhân tiên khởi, nền tảng của Giáo Hội Chúa Kitô (x Eph 2:20), thành phần sẽ được trực tiếp lănh nhận "sự sống đời đời" từ Người, cũng là thành phần cần phải thông ban "sự sống đời đời" này cho "toàn thể nhân loại".
"(Sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha sai là Giêsu Kitô)". Phải, "toàn thể nhân loại" nói chung, và thành phần "những ai Cha đă trao cho Con" nói riêng, được thông hưởng "sự sống đời đời" đây tức là được Lời Nhập Thể ban cho họ có một Kiến Thức Thần Linh, để nhờ đó họ có thể "nhận biết": Cha là Thiên Chúa và Con là Đấng Thiên Sai, hay có thể "nhận biết" Thực Tại Thần Linh "Thày ở trong Cha và Cha ở trong Thày", một Thực Tại được Chúa Giêsu mạc khải ở Phúc Âm Chúa Nhật V Phục Sinh Năm A, một Thực Tại được hiện thực bằng Cuộc Vượt Qua của Lời Nhập Thể, một Biến Cố Thần Hiển Cha tôn vinh Con, Con tôn vinh Cha.
"Con đă tôn vinh Cha trên mặt đất này, bằng cách chu toàn những ǵ Cha đă bảo Con làm. Giờ đây, Cha ơi, xin hăy ban cho Con vinh hiển ở bên Cha, vinh hiển Con có nơi Cha trước khi thế gian được tạo thành. Con đă tỏ danh Cha cho những người Cha đă trao cho Con trên thế gian. Những người Cha đă trao cho Con này là của Cha; họ đă giữ lời Cha. Giờ đây họ nhận biết rằng tất cả những ǵ Cha đă ban cho Con đều từ Cha mà đến. Con đă kư thác cho họ sứ điệp Cha đă trao phó cho Con, và họ đă nhận lấy sứ điệp này. Họ đă thực sự biết rằng Con từ Cha mà đến, họ tin rằng chính Cha là Đấng đă sai Con".
"Con đă tôn vinh Cha trên mặt đất này, bằng cách chu toàn những ǵ Cha đă bảo Con làm". Đúng thế, đường lối duy nhất để Lời Nhập Thể có thể chứng thực ḿnh là Đấng Thiên Sai đó là "chu toàn những ǵ Cha đă bảo Con làm". Và chính khi "chu toàn những ǵ Cha đă bảo Con làm" là "Con đă tỏ Cha ra" (Jn 1:18), tức đă làm cho Cha được nhận biết "trên trái đất này". Ở chỗ, đă cho riêng Dân Chúa nhận biết rằng "Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất", một Vị Thiên Chúa của Giao Ước, của Lời Hứa, và cũng là Vị Thiên Chúa đă trung thành giữ những ǵ Ngài hứa, trung thành với giao ước của ḿnh, bất chấp việc con người trắng trợn và liên lỉ bất trung, như Lịch Sử Cứu Độ của dân Do Thái trong Cựu Ước cho thấy.
"Giờ đây, Cha ơi, xin hăy ban cho Con vinh hiển ở bên Cha, vinh hiển Con con có nơi Cha trước khi thế gian được tạo thành". Chính v́ "Con đă tôn vinh Cha trên trái đất này, bằng cách chu toàn những ǵ Cha đă bảo Con làm" như thế mà Con cũng tỏ cho thế gian thấy rằng Con chính là Con Cha. "Vinh hiển ở bên Cha, vinh hiển Con có nơi Cha trước khi thế gian được tạo thành" " là ở chỗ đó, là ở chỗ Con là Con Cha, "là phản ảnh vinh quang Cha, là hiện thân đích thực của bản thể Cha" (Heb 1:3). Một "phản ảnh vinh quang" và "một hiện thân" mà khi "hóa thành nhục thể" (Jn 1:14), Con đă thể hiện rơ ràng qua việc "chu toàn những ǵ Cha đă bảo Con làm".
"Con đă tỏ danh Cha cho những người Cha đă trao cho Con trên thế gian. Những người Cha đă trao cho Con này là của Cha; họ đă giữ lời Cha. Giờ đây họ nhận biết rằng tất cả những ǵ Cha đă ban cho Con đều từ Cha mà đến". Vẫn biết Con có "quyền bính trên toàn thể nhân loại", nhưng, trước hết và trên hết, "Con đă tỏ danh Cha cho những người Cha đă trao cho Con trên thế gian". Bởi v́, "Những người Cha đă trao cho Con này là của Cha", tức thành phần Cha "lôi kéo" (Jn 6:44), hay Cha "cho phép" (Jn 6:65), mới có thể "giữ lời Cha", tức mới có thể "đến cùng" Con (là Lời Cha), hay mới có thể "chấp nhận" (Jn 1:12) Lời Nhập Thể: "Giờ đây họ nhận biết rằng tất cả những ǵ Cha đă ban cho Con đều từ Cha mà đến" là như thế. Hay họ nhận biết Con từ Cha mà đến, Con "là hiện thân đích thực của bản thể Cha" cũng vậy.
"Con đă kư thác cho họ sứ điệp Cha đă trao phó cho Con và họ đă nhận lấy sứ điệp này. Họ đă thực sự biết rằng Con từ Cha mà đến, họ tin rằng chính Cha là Đấng đă sai Con". Cũng chính v́ "những người Cha đă trao cho Con trên thế gian" biết chấp nhận Con như thế mà "Con đă kư thác cho họ sứ điệp Cha đă trao phó cho Con và họ đă nhận lấy sứ điệp này". Nghĩa là, "họ đă thực sự biết rằng Con từ Cha mà đến, họ tin rằng chính Cha là Đấng đă sai Con". V́ "sứ điệp Cha đă trao phó cho Con" để "Con kư thác cho họ" cũng chính là nội dung của những ǵ họ nhận biết, những ǵ họ tin, đó là "Con từ Cha mà đến và Cha là Đấng đă sai Con".
"Con cầu nguyện cho những người này - Con không cầu cho thế gian, song cho những người Cha đă trao cho Con, v́ họ thực sự là của Cha. (Như tất cả mọi sự thuộc về Con đều là của Cha thế nào th́ tất cả những ǵ thuộc về Cha đều là của Con). Chính ở nơi họ mà Con được vinh hiển. Con không c̣n ở thế gian này nữa, nhưng những người này c̣n ở thế gian khi Con về cùng Cha".
"Con cầu nguyện cho những người này - Con không cầu cho thế gian, song cho những người Cha đă trao cho Con, v́ họ thực sự là của Cha". Sở dĩ "Con cầu nguyện cho những người này", mà "không cầu cho thế gian", không phải là v́ thế gian đáng ghét, hay thế gian không đáng được cầu nguyện cho, nhưng dầu sao thế gian nói chung vẫn không cao qúi bằng "những người Cha đă trao cho Con, v́ họ thực sự là của Cha", đồng thời cũng là của Con nữa: "mọi sự của cha cũng là của con" (Lk 15:31) là như thế: "(Tất cả mọi sự thuộc về Con đều là của Cha thế nào th́ tất cả những ǵ thuộc về Cha đều là của Con như vậy)". Một lư do nữa làm Con hết sức qúi trọng "những người Cha đă trao cho Con", chẳng những qua việc cầu nguyện cho họ, mà c̣n tỏ Danh Cha cho họ, kư thác sứ điệp của Cha cho họ, nghĩa là cho họ tất cả những ǵ Con có, là v́ "chính ở nơi họ mà Con được vinh hiển", mà Con được nhận biết Con từ Cha mà đến, Con chính là Con Cha, một vinh hiển Con đă có nơi Cha trước khi thế gian được tạo thành: "Từ ban đầu đă có Lời; Lời ở nơi Thiên Chúa và Lời là Thiên Chúa" (Jn 1:1).
"Con không c̣n ở thế gian này nữa, nhưng những người này c̣n ở thế gian khi Con về cùng Cha". Câu cuối cùng này trong Lời Nguyện Tiệc Ly ở phần thứ nhất cho Chúa Nhật VII Phục Sinh Năm A hôm nay là một câu kết theo kiểu lưng chừng, chưa trọn nghĩa, c̣n cần phải được tiếp nối… nơi bài Phúc Âm cho Chu Kỳ Phụng Vụ Năm B của cùng Chúa Nhật VII Phục Sinh hôm nay.
Vấn đề thực hành sống đạo:
Nhờ Bí Tích Rửa Tội, Kitô hữu chúng ta đă thuộc về thành phần "những người Cha đă trao cho Con". Bởi thế, dù bản thân vô cùng bất xứng, chúng ta cũng thực sự trở nên hết sức cao trọng trước nhan Chúa Giêsu Kitô. Đến nỗi, dù chỉ là một con chiên lạc duy nhất trong đàn 100 con, Người cũng đi t́m nó cho bằng được, và vui mừng vác thập giá trên vai mang nó về (x Lk 15:4-5). Hay dù chúng ta có phung phá hết gia tài ân sủng được chia cho chúng ta nơi Phép Rửa, Người cũng mong mỏi chúng ta trở về với Người, và khi vừa thấy chúng ta quyết tâm từ bỏ tội lỗi, Người liền tự động chạy đến ôm chặt lấy chúng ta trong ṭa giải tội, trả lại cho chúng ta nhân đức và công nghiệp đă mất bởi tội, và mở tiệc Thánh Thể ăn mừng chúng ta sống lại (x Lk 15:11-24). Tất cả chỉ v́ chúng ta "thực sự là của Cha". Thế nhưng, đáp lại, chúng ta đă sống như ḷng Người mong đợi ở chúng ta chưa: "chính ở nơi họ mà Con được vinh hiển"?