CÁC BÀI SUY NIỆM LỄ CHÚA BA NGÔI (Năm A)
Lời Chúa: Xh. 34, 4b-6.8-9; 2Cr. 13, 11-13; Ga. 3, 16-18
1. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt
3. Thiên Chúa Ba Ngôi: t́nh yêu tuyệt hảo
4. Thiên Chúa t́nh yêu – ĐTGM. Ngô quang Kiệt
5. Chịu trách nhiệm về sự hiện diện của Đức Kitô
6. Mặc khải bất ngờ của Phúc Âm
1. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
“Thiên Chúa đă yêu mến thế gian đến nỗi ...": Công tŕnh cứu rỗi được nối kết với nguyên lư tối hậu của nó là t́nh yêu của Thiên Chúa đối với thế gian. Việc sai phái Chúa Con, như là dấu tích t́nh yêu của Thiên Chúa, đă được lựa 4,9-10.16.19 làm nổi bật. Tư tưởng này, tiềm tàng trong Tin Mừng thứ tư, đă được khai triển trong chương 13 và các chương kế tiếp.
“V́ Thiên Chúa không sai Con đến trong thế gian để xử án thế gian": Câu này xác định mục đích sứ mệnh của Chúa Con đối với thế gian: không phải để xét xử, nhưng để cứu rỗi thế gian (Ga 4,42; 1Ga 4,14). Nhưng tại sao Chúa Giêsu lại quả quyết trong 9,39: “Chính để xét xử mà Ta đă đến trong thế gian”. Thưa điều Thiên Chúa muốn là cứu rỗi thế gian; tuy nhiên việc Chúa Con đến nhất thiết gây nên quyết định chọn lựa dứt khoát của con người, sự chọn lựa này làm nên việc xét xử. Quyết định chính yếu ấy của tất cả đời người, chính là việc gắn bó vào "Con Một của Thiên Chúa" (c.18) bằng đức tin, hay trái lại là sự chối từ không chịu tin. Câu 18 dịch sát chữ là "Kẻ tin vào Người th́ không bị án xử (trong các câu 17-18, BJ cả 3 lần đều dịch "luận phạt", trong lúc bản Hy lạp là "án xử"); kẻ không tin th́ đă bị “xét xử rồi". Án xử thành ra không tự Chúa Con mà đến, nhưng tự thế gian đă không chịu đón nhận ơn cứu độ mà Chúa Kitô đem tới cho. Thế gian khép ḷng trước t́nh yêu của Chúa Cha tỏ hiện trong việc sai phái Chúa Con, nó loại bỏ Đấng Trung gian duy nhất là Đấng có thể đưa nó đến sự sống. Thành ra, v́ ích kỷ, thế gian đă chọn lựa ở lại trong sự chết. Một án quyết sẽ có thể long trọng công bố, xác nhận t́nh trạng này (x. cuộc phán xét cánh chung vào ngày Quang lâm trong các Tin Mừng Nhất lăm) nhưng sẽ không thay đổi t́nh trạng đó nữa.
KẾT LUẬN
Không được chần chừ lần lựa hoặc giả điếc làm ngơ trước mặc khải trực tiếp nhất, hồng ân cứu độ cao quư nhất và t́nh yêu tuyệt đối này của Thiên Chúa. V́ hăy nhớ rằng cái chết của Chúa Giêsu mặc cho mọi phản ứng của con người ư nghĩa cánh chung đích thực của nó.
Ư HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Niềm tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi có được là nhờ niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô. Mọi giáo huấn về Thiên Chúa đều được chứa đựng trong con người của Chúa. Từ đó việc tin vào Chúa Con đă hàm chứa việc tin vào Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, vào Thiên Chúa Ba Ngôi. V́ thế Tin Mừng đă nói: “Phàm ai tin vào Người th́ không phải hư đi nhưng được sự sống đời đời”. Sự kiện trong ngày lễ Thiên Chúa Ba Ngôi, Giáo Hội chọn một bản văn có chủ ư nhấn mạnh tầm quan trọng của niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô, cho thấy khởi điểm lộ tŕnh và mục đích của niềm tin đă được bao hàm trong việc gắn bó sống động vào Chúa Kitô. Ai đến với Chúa Kitô th́ cũng đến với Chúa Cha và được như thế là nhờ ơn Chúa Thánh Thần.
2) Nhưng đây c̣n một vấn nạn khác mà Tin Mừng muốn trả lời: Thiên Chúa cứu thế gian bằng cách nào? bằng cách sai Con của Ngài đến trong thế gian. Thế nhưng ngày nay Chúa Kitô đến trong thế gian bằng con đường đặc biệt nào? Bằng Giáo Hội. Do đó Giáo Hội có sứ mệnh làm cho Chúa Kitô hiện diện trong thế gian. Giáo Hội phải thông đạt một sự hiện diện đích thực chứ không chỉ giảng dạy, đưa ra học thuyết, giáo huấn mà thôi. Thiên Chúa Ba Ngôi đă tự trở nên gần gũi với nhân loại trong con người Chúa Giêsu Kitô, Đấng được mặc khải trong Giáo Hội và nhờ Giáo Hội.
3) Kẻ tin vào Chúa Giêsu đến nỗi sẵn sàng chia sẻ số phận tử nạn và phục sinh của Người, th́ được vào trong mầu nhiệm sống động của Thiên Chúa. Điều này giải thích tại sao sứ điệp của các sứ đồ, ở thời đầu Giáo Hội, không phải là một bài giáo lư về Thiên Chúa Ba Ngôi, nhưng là lời loan báo về Chúa Giêsu Kitô. Suốt ḍng lịch sử Giáo Hội, và nhất là qua các Công Đồng, Giáo Hội sẽ cố gắng công thức hoá cho ḿnh một tư tưởng về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhưng việc chính của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội (trong mỗi người chúng ta) là làm sao cho Giáo Hội trở thành và măi măi là kẻ tin vào Chúa Giêsu Kitô.
4) "Ai tin vào Con Người th́ chẳng bị án xử ; ai không tin th́ đă bị án xử rồi v́ đă chẳng tin". Đây là nghịch lư của một sự tự do chỉ có thể chọn lựa giữa sự sống và cái chết. Không có nhiều cách sống, nên không thể có sự chọn lựa giữa nhiều giả thuyết khác nhau. Hoặc được tất cả hoặc mất tất cả. T́nh yêu của Chúa Cha biểu lộ trong Chúa Con và kích động trong ta nhờ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, xem ra bi thảm v́ có tính cách quyết định. T́nh yêu không phải là cái ǵ có thể chọn lựa tuỳ ư giữa bao cái khác. Nó là sự sống của con người. Sự tự do mà Thiên Chúa ban cho con người là tiếng mời gọi diệu kỳ nhất, mời gọi đi đến với t́nh yêu, đồng thời cũng là khả năng huỷ diệt nguy hiểm nhất. Nhiều kẻ đă sợ tự do; có lẽ họ thích đừng phải đương đầu với một chọn lựa như thế, v́ họ coi sự chọn lựa đó dă man hơn là dịu dàng và tế nhị. Tuy nhiên, chính khi tự do yêu thương mà con người thực sự là người. Nếu không có sự chọn lựa ấy (với nhiều khía cạnh bi thảm của nó) th́ con người chỉ c̣n là một người máy đă bị quy định trước. Nhưng đối với ai lựa chọn theo Chúa Giêsu, đối với ai nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng, "đă tin vào Danh Con Một Thiên Chúa" th́ thật hạnh phúc dường nào! Tất cả trở thành b́nh an và vui sướng trong sự hiệp thông mà Chúa Thánh Thần đă thực hiện.
Người Đông phương chúng ta thường thích giữ im lặng trước những mầu nhiệm của vũ trụ, của con người và nhất là của Thượng Đế.
Thực vậy, người Trung Hoa rất ít nói về trời, bởi v́ họ cho rằng ngay cả những thực tại trần thế này, chúng ta c̣n chưa hiểu biết được cho thấu đáo, phương chi là những thực tại vô h́nh.
Người Ấn Độ th́ có lẽ thích nói về Thượng Đế thật đấy, nhưng họ luôn tự nhắc nhở cho ḿnh rằng những điều chúng ta biết được về Thượng Đế, th́ cũng chỉ là như một chiếc lá giữa rừng cây bao la.
Trong khi đó, người Tây Phương, nhất là người Kitô hữu, có lẽ ít khiêm tốn hơn những người Ấn Độ và Trung Hoa, trong vấn đề này. Thực vậy, chúng ta có biết bao nhiêu sách vở viết về Thiên Chúa, biết bao nhiêu bài giảng bàn về Thiên Chúa và biết bao nhiêu định nghĩa về những tín điều.
Thế nhưng, phải thành thật mà nói: Kể từ thời thánh Augustino cho đến ngày hôm nay, chúng ta đă hiểu thêm được những ǵ về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi? Hay chúng ta cũng giống như những người lạc vào rừng, càng đi xa, càng vào sâu, th́ lại càng cảm thấy mịt mù và tăm tối. Hoặc giống như người trong sa mạc, càng đi th́ lại càng cảm thấy chỉ có cát và cát mà thôi.
Bởi thế hôm nay, khi mừng kính mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, thái độ thích hợp nhất đối với mỗi người chúng ta, đó là im lặng, khiêm tốn và thờ lạy.
Từ thái độ khiêm tốn và thờ lạy này, chúng ta đưa ra một cách thế để cảm nghiện được mầu nhiệm này, đó là t́nh yêu. Thực vậy, chúng ta không thể biết rừng, nếu đă chẳng biết cây. Cũng vậy, chúng ta không thể nào biết Thiên Chúa, Đấng chúng ta hằng kính mến, nếu chúng ta không yêu thương anh em đồng loại.
Và thật may mắn cho chúng ta v́ không cần biết hết mọi thứ cây, th́ mới hiểu được rừng. Cũng vậy, không cần phải nếm hết tất cả nước biển mới biết nước biển mặn, nhưng chỉ cần nếm một vài giọt mà thôi cũng đă đủ.
Cũng vậy, chúng ta không cần phải yêu thương tất cả mọi người trên thế gian, mới hiểu được t́nh yêu là ǵ? Và hiểu được chân lư Đức Kitô đă mặc khải cho chúng ta: Thiên Chúa là t́nh yêu. Đă hẳn Đức Kitô mời gọi chúng ta yêu thương tất cả mọi người, nhưng tất cả ở đây không có nghĩa về số lượng, bởi v́ điều đó không thể nào thực c hiện được đối với chúng ta, nhưng Chúa chỉ đ̣i hỏi chúng ta yêu thương những người chúng ta gặp gỡ trong cuộc sống của ḿnh, không ghét bỏ một ai, cũng chẳng loại trừ một ai.
Ai không yêu thương th́ không biết Thiên Chúa. Có lẽ nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là điều quá cao vời, quá rắc rối. Chuyện hiểu biết mầu nhiệm này nằm ở trong lănh vực chuyên môn của các nhà thần học, của các giám mục, linh mục và tu sĩ…C̣n ḿnh làm sao có thời giờ để mà học hỏi, có tŕnh độ đâu mà dám múa ŕu qua mắt thợ.
Nhưng chúng ta đâu có ngờ rằng: Trong lănh vực này, có khi nhà thần học, cũng như giám mục, linh mục hay tu sĩ vẫn c̣n thua xa một bà già nhà quê, nếu như bà ấy biết yêu thương hết thảy mọi người.
Bởi v́, chuyện yêu thương không nhất thiết đ̣i hỏi một trí rộng tài cao, mà chỉ đ̣i hỏi một sự nhiệt tâm và chân thành mà thôi.
3. Thiên Chúa Ba Ngôi: t́nh yêu tuyệt hảo
“Biết làm sao định nghĩa được t́nh yêu?”. Có lẽ đây không chỉ là câu hát đầy thi vị trong lănh vực t́nh yêu, mà c̣n là khắc khoải của từng người trong chúng ta. Thật thế, ai trong chúng ta cũng yêu và muốn được yêu. Tuy nhiên, không ǵ khiến chúng ta phải lúng túng cho bằng định nghĩa thế nào là t́nh yêu. T́nh yêu quả thật là một mầu nhiệm. Tại sao chỉ có con người mới biết yêu? Có lẽ chúng ta chỉ có thể trả lời câu hỏi này bằng chính mầu nhiệm của Thiên Chúa mà thôi.
Vào cuối đời ḿnh, khi suy niệm về cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, thánh Gioan Tông Đồ đă phát biểu như sau: “Thiên Chúa là T́nh Yêu”. Đây quả là công thức độc nhất vô nhị của Kitô giáo; trước và sau Kitô giáo, có lẽ không một tôn giáo hay một triết thuyết nào đă gọi Thiên Chúa là T́nh Yêu. “Thiên Chúa đă yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một của Ngài cho thế gian”. Gọi Thiên Chúa là T́nh Yêu, bởi v́ Thiên Chúa vừa tỏ ḿnh cho chúng ta một cách gần gũi, thân thiết, lại vừa là một mầu nhiệm mà chúng ta không bao giờ hiểu thấu được. V́ yêu thương chúng ta, Thiên Chúa đă tỏ ḿnh qua người Con Một của Ngài, Người Con ấy đă sống kiếp sống của con người và đă chết một cách đau thương nhục nhă để nói với chúng ta rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. T́nh yêu nào cũng muốn được bộc lộ, người yêu nào cũng muốn tỏ t́nh. Bằng cuộc sống và cái chết của Chúa Giêsu, Thiên Chúa đă thực sự tỏ t́nh với con người: Ngài đă tỏ t́nh và yêu thương cho đến cùng. Chính v́ thế, Ngài đă sai phái Thánh Thần đến để khai sinh Giáo Hội. Thánh Thần chính là T́nh yêu nối kết Chúa Cha và Chúa Con. Thiên Chúa thông ban t́nh yêu của Ngài cho Giáo Hội, để Giáo Hội hiện diện như một dấu chứng t́nh yêu của Ngài đối với nhân loại. Giáo Hội là tiếng tỏ t́nh của Thiên Chúa đối với con người.
Mừng kính Chúa Ba Ngôi hôm nay, Giáo Hội muốn nhắc nhớ chúng ta chân lư ấy. Tỏ ḿnh cho chúng ta, Thiên Chúa muốn nói với chúng ta rằng Ngài là Ba Ngôi Vị, Ngài là T́nh Yêu. Đó là mầu nhiệm cơ bản nhất, từ đó Giáo Hội được xuất phát và xây dựng; Giáo Hội vừa là h́nh ảnh vừa là thể hiện Chúa Ba Ngôi. Nhưng mầu nhiệm Ba Ngôi không chỉ là nền tảng của Giáo Hội, mà c̣n là ánh sáng chiếu dọi vào bí ẩn của con người. Thật thế, chỉ trong Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta mới hiểu rơ được ơn gọi và định mệnh của con người. Nếu Thiên Chúa là t́nh yêu và nếu con người được tạo dựng nên giống h́nh ảnh Thiên Chúa, th́ một cách tất yếu, con người chỉ thực sự là người khi biết yêu thương. Phẩm giá của con người được xây dựng trên chính t́nh yêu. Ai chối bỏ t́nh yêu, ai gieo rắc hận thù, người đó cũng chối bỏ con người và chối bỏ chính Thiên Chúa; trái lại ai sống trong t́nh yêu, người đó cũng sống trong Thiên Chúa.
Lễ Chúa Ba Ngôi không chỉ là một lời ca tụng t́nh yêu Thiên Chúa, mà c̣n là một tuyên xưng về phẩm giá con người. Thiên Chúa phú bẩm cho con người khả năng yêu thương; Ngài tỏ ḿnh cho con người để con người cũng nhận ra được phẩm giá cao cả của ḿnh. Mỗi ngày, từ lúc khởi đầu một ngày mới cho đến lúc trở lại giường ngủ, chúng ta không ngừng tuyên xưng mầu nhiệm của t́nh yêu Thiên Chúa và phẩm giá cao cả của con người. Mầu nhiệm ấy gắn liền với Thập Giá Chúa Giêsu mà chúng ta vẽ trên người. Qua cái chết trên Thập Giá, không những Chúa Giêsu tỏ bày cho chúng ta mầu nhiệm của Thiên Chúa, Ngài c̣n vạch ra cho chúng ta con đường đi vào mầu nhiệm ấy, đó là con đường của yêu thương. Chúa Giêsu đă yêu thương và yêu thương cho đến giọt máu cuối cùng; Ngài đă tỏ cho chúng ta thấy bộ mặt của Thiên Chúa; Ngài đă dạy cho chúng ta biết thế nào là yêu thương.
4. Thiên Chúa t́nh yêu – ĐTGM. Ngô quang Kiệt
I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Ga. 3, 16-18
II. TẤM BÁNH CHIA SẺ
Một bạn trẻ hỏi tôi: “Thưa Cha, tại sao đạo Phật khi xây chùa th́ chọn những nơi rừng núi thâm u, xa hẳn thị thành, c̣n đạo Công Giáo khi xây nhà thờ lại chọn những nơi dân cư đông đúc, phồn hoa đô hội?” Tôi trả lời: “Bạn quả là có con mắt nhận xét. Việc xây cất chùa chiền, nhà thờ như vậy, thực ra, phát xuất từ quan niệm nền tảng của đạo. Đạo Phật là đạo xuất thế. Đức Phật v́ thấy những cảnh khổ ở đời trong sinh, lăo, bệnh, tử nên đă t́m môït con đường mong giải thoát chính ḿnh và nhân loại khỏi cảnh khổ năo ở đời. V́ thế Ngài đă từ giă cung đ́nh, rũ sạch bụi trần, xa lánh phồn hoa. Trái lại đạo Công Giáo là đạo nhập thế. Thiên Chúa thấy con người trầm luân khổ ải nên chạnh ḷng thương, đă sai Con Một là Chúa Giêsu xuống trần để cứu độ chúng sinh. Chúa Giêsu xuống trần không chỉ là nhập thế, mà c̣n hoá thân một người nghèo sống giữa người nghèo, người tội lỗi để đưa mọi người về với Chúa, đó là nhập thể. Có thể nói đạo Công Giáo diễn tả việc Thiên Chúa đi t́m con người.
Thiên Chúa đi t́m con người v́ Thiên Chúa yêu thương con người. Không yêu thương th́ chẳng việc ǵ phải đi t́m. Đi t́m tức là có quan tâm. Xa vắng th́ nhớ. Thấy khổ v́ thương. V́ thương, v́ yêu nên phải cất bước đi t́m.
Không phải Thiên Chúa chỉ yêu thương khi con người gặp đau khổ. Thực ra Thiên Chúa đă yêu thương con người từ trước, từ khi chưa có con người. V́ Thiên Chúa là t́nh yêu thương.
Thiên Chúa là t́nh yêu. T́nh yêu th́ không thể sống đơn độc nên phải có Ba Ngôi. V́ yêu thương không chỉ là cho đi nhưng c̣n là nhận lănh. Muốn cho đi, phải có đối tượng để nhận lănh. Muốn nhận lănh cũng đ̣i phải có người sẵn sàng cho đi. V́ Thiên Chúa là t́nh yêu, nên Thiên Chúa là Ba Ngôi để có thể cho đi và nhận lănh.
Thiên Chúa là t́nh yêu tuyệt hảo nên sự cho đi và nhận lănh ở nơi Ba Ngôi Thiên Chúa cũng đạt đến mức tuyệt hảo. Thiên Chúa Cha trao ban cho Chúa Con tất cả những ǵ ḿnh có, nên Chúa Con là h́nh ảnh hoàn hảo của Chúa Cha, đến nỗi Chúa Giêsu có thể nói: “Ai thấy Thầy là xem thấy Cha Thầy, Thầy và Cha là một”. V́ yêu, Chúa con dâng lại cho Chúa tất cả những ǵ ḿnh nhận lănh. Việc hiến dâng này ta thấy rơ trong thái độ khiêm tốn, tự hạ, vâng phục vô biên của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha. Chúa Giêsu đă vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Chúa Giêsu đă quả quyết: “Không có t́nh yêu nào lớn lao hơn t́nh yêu của người dám hy sinh mạng sống v́ bạn hữu”. Và Người đă v́ Chúa Cha mà hiến mạng sống.
Thiên Chúa là t́nh yêu tuyệt đối. T́nh yêu ấy không chỉ đóng kín nơi bản thân ḿnh. Cũng không chỉ dừng lại ở một đối tượng hạn hẹp. Nhưng vượt mọi ranh giới, lan toả đến mọi góc biển chân trời. Ba Ngôi Thiên Chúa là một bầu trời t́nh yêu hạnh phúc. Nhưng t́nh yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa không chỉ thu gọn trong cộng đoàn Ba Ngôi, mà lan toả đến khắp vũ trụ, ấp ủ cả thế giới, nâng niu cả sinh linh vạn vật. Ba Ngôi là một ḷ lửa t́nh yêu. Ḷ lửa tinh luyện t́nh yêu càng ngày càng phong phú, là nguồn mạch của mọi t́nh yêu trên đời.
Mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi như thế không xa vời. Trái lại rất gần gũi, thiết thân với đời sống chúng ta, là nguồn mạch sự sống của ta, là khuôn mẫu ta phải noi theo, là cùng đích ta phải đạt tới.
Ta ra đời là do t́nh yêu của Thiên Chúa. Có thể nói nhân loại là kết tinh của t́nh yêu Thiên Chúa. Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đă nói: “Ta hăy tạo dựng con người giống h́nh ảnh Ta”. Thiên Chúa là t́nh yêu. Con người giống Thiên Chúa v́ có trái tim biết yêu thương. Cây cỏ không có trái tim biết yêu thương. Cầm thú không có khả năng yêu thương. Chỉ có con người mới có khả năng yêu thương v́ con người giống Thiên Chúa.
Nhưng t́nh yêu ở nơi con người chưa hoàn hảo v́ c̣n chen lẫn nhiều ích kỷ, hận thù, ghen ghét. V́ thế con người c̣n phải thanh luyện cho t́nh yêu ngày càng thêm tinh tuyền, thêm quảng đại, thêm phong phú. Càng yêu thương con người càng nên giống Thiên Chúa. Càng quảng đại con người càng gần với trái tim Thiên Chúa. Càng quên ḿnh con người càng tham dự vào sự sống Thiên Chúa.
Được sinh ra trong t́nh yêu nên con người phải sống bằng t́nh yêu. Như thế con người mới sống trọn định mệnh đời ḿnh. Như thế con người mới đạt được cùng đích đời ḿnh là sống hạnh phúc trong t́nh yêu muôn đời của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Lạy Ba Ngôi Thiên Chúa, là nguồn mạch t́nh yêu, là sự sống sung măn, là thiên đàng hạnh phúc, con đă được sinh ra trong t́nh yêu của Chúa. Xin cho con biết sống t́nh yêu hy sinh theo gương Chúa Giêsu Kitô, để con được kết hợp với Chúa, sống chan hoà hạnh phúc trong t́nh yêu muôn đời của Chúa.
III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU
1) Thiên Chúa là t́nh yêu. Bạn cảm nhận được t́nh yêu của Thiên Chúa thế nào?
2) Bạn có là h́nh ảnh t́nh yêu của Thiên Chúa chưa?
3) Bạn làm ǵ để sống mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi?
5. Chịu trách nhiệm về sự hiện diện của Đức Kitô
Đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi đi qua đức tin vào Chúa Giêsu Kitô. Mọi giáo huấn về Thiên Chúa chất chứa nơi con người của Chúa. Do đó sự liên kết đức tin vào Chúa Con đă chứa đựng hành vi tin vào Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Bởi thế Phúc Âm có thể nói: “Mọi người tin vào Ngài không phải chết, nhưng có được sự sống đời đời”. Việc Giáo Hội chọn một đoạn có chủ ư nhấn mạnh tầm quan trọng của đức tin vào Chúa Giêsu Kitô trong ngày lễ Chúa Ba Ngôi, chứng tỏ rằng khởi điểm, tiến tŕnh và đích điểm của tác động tin toàn diện chứa đựng trong việc liên kết toàn diện với Đức Kitô. Ai đến cùng Đức Kitô là đến cùng Chúa Cha, nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần. Nhưng đây là một câu hỏi khác mà Phúc Âm mang lại câu trả lời: Thiên Chúa cứu độ thế gian bằng cách nào? Bằng cách sai Con Người đến. Thế ngày nay Đức Kitô đến trong thế gian bằng đường lối ưu tiên nào? Qua Giáo Hội. Do đó Giáo Hội có sứ mạng làm cho Đức Kitô hiện diện với thế gian. Giáo Hội phải thông truyền một sự hiện diện chứ không phải chỉ giảng dạy những lời nói, một giáo thuyết, một huấn giới. Thiên Chúa Ba Ngôi đă tự hạ xuống ngang tầm con người nơi ngôi vị Đức Giêsu Kitô, được tỏ lộ bởi và trong Giáo Hội. Người đặt ḷng tin tưởng nơi Đức Giêsu cho đến mức chia sẻ định mệnh chết và sống lại với Ngài, được tham dự vào mầu nhiệm linh động của Thiên Chúa. Điều này giải thích tại sao lời giảng của các tông đồ lúc khai nguyên Giáo Hội không phải là một sách giáo lư về Ba Ngôi chí thánh nhưng là lời loan báo Đức Giêsu Kitô. Qua ḍng lịch sử của ḿnh, nhất là qua các Công Đồng, Giáo Hội cố gắng diễn tả gẫy gọn một sự suy tư về mầu nhiệm Tam Vị. Nhưng công tŕnh chính yếu của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội (và trong mỗi người chúng ta) là làm sao cho Giáo Hội tin và tiếp tục tin vào Chúa Giêsu Kitô. Hai câu hỏi:
1) Đâu là trung tâm đức tin của chúng ta?
Chúng ta có thể tự đặt câu hỏi ấy đối diện với một số người đương thời đang dấn thân vào những hy vọng nhân loại dựa trên những ư thức hệ. Phúc Âm có phải là một ư thức hệ như bao nhiêu cái khác và các Kitô hữu có phải là những người ủng hộ một phong trào nhằm tạo một nhân loại hạnh phúc hơn về mặt trần thế? Không có ǵ xa lạ với đức tin chân thật hơn điều đó. Trung tâm đức tin là con người Đức Giêsu Kitô. Ước vọng một thế giới tốt đẹp hơn nơi người Kitô hữu được gọi là ḷng khao khát ơn cứu độ, khao khát được giải thoát khỏi sự dữ và sự chết, về mặt vật chất và tinh thần. Việc này chỉ có thể thực hiện được bằng sự liên kết hồn xác với Chúa Con, nhờ Ngài mà thế gian được cứu. Đức tin của chúng ta chỉ hữu hiệu cho việc cứu độ thế gian trong mức chúng ta thông hiệp với Chúa Giêsu, trung tâm đức tin của chúng ta.
2) Sứ điệp của chúng ta là ǵ?
Người ta chỉ truyền bá có giá trị những ǵ người ta sống. Để Chúa Giêsu trở thành nguyên cực ơn cứu độ, nghĩa là gặp gỡ Thiên Chúa trong tự do, chân lư, cuộc sống hằng cửu. Giáo Hội cần phải tỏ bày Ngài ra cho mọi người. Giáo Hội là chính mỗi người chúng ta. Mọi tín hữu đều mang trách nhiệm phần ḿnh làm cho Đức Kitô hiện diện với người ta, bằng lời cầu nguyện hay bằng hành động, bằng việc dâng hiến một đau khổ hay bằng ảnh hưởng của hoạt động, bằng sự hy sinh thầm kín hay bằng việc loan báo lời Chúa. Mỗi tín hữu có sứ mạng làm sao cho Giáo Hội thông đạt tới thế giới sứ điệp ơn cứu độ nơi Chúa Giêsu Kitô.
6. Mặc khải bất ngờ của Phúc Âm
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. T́nh yêu của Chúa Cha trong Con,Đức Giêsu Kitô, được biểu lộ.
Trong năm A này, sách bài đọc đă mượn bài Phúc âm trong chương 3 của thánh Gioan, phần cuối của cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và Nicôđêmô. Dựa vào giai thoại "con rắn đồng" (Ds 21,4-9), Đức Giêsu đi đến cử hành tế lễ treo trên thập giá như là đỉnh cao của mặc khải về t́nh yêu, tiếng nói đầu tiên và cuối cùng của ư định của Thiên Chúa: "Thiên Chúa đă yêu thương thế gian đến nỗi đă ban Con Một ḿnh: v́ thế ai tin vào Ngài sẽ không chết nhưng được sống đời đời. Cụm từ "Con Một" gợi lên lễ hiến tế của Abraharn (Gen 22,2-12). C̣n về việc "Nâng cao Con Người lên" (Ga 3,14) nơi thánh Gioan, bao gồm vừa là cái chết của Đức Kitô trên thập giá vừa là sự tôn vinh Người bên hữu Chúa Cha, và theo X.lon Dufour, "bao gồm rộng hơn nữa, cả hành tŕnh của Ngài ở trần gian" (Đọc Tin Mừng thánh Gioan Tom I, Ed. du Seuil p.306-307). Thánh giá này là nguồn sống của tín hữu, không phải do khía cạnh hiến tế và đổ máu, nhưng theo A. Marchadour, là cách diễn tả cuối cùng của t́nh yêu Thiên Chúa". Ông viết tiếp: "Không như một vài người nh́n thánh giá như là nơi diễn tả cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, khi Chúa Cha từ bỏ Chúa Con để chuộc tội loài người. Ở đây, Con và Cha hiệp thông với nhau trong cùng một t́nh yêu đối với thế gian (Tin Mừng Gioan, Centurion, p.69). Dự án t́nh yêu nhưng không của Thiên Chúa Cha mà Đức Giêsu mặc khải, mang tính phổ quát: "cho thế gian", chứ không chỉ dành riêng cho một ít người. X.lon Dufour nhận xét: "Ba câu này liên kết mật thiết với nhau, hai câu đầu nói lên động cơ (3,16) và mục đích (3,16-l7) của ơn Chúa hay việc Cha sai Con Một ḿnh. Trong chương tŕnh này, lần thứ nhất, hai lần Thiên Chúa là "chủ từ”. Thiên Chúa được coi là nguồn gốc của hành động cứu rỗi, v́ t́nh yêu cao cả ngất ngây của Ngài. Ở trung tâm của tất cả, nhất là trung tâm vai tṛ của Con Người và con đường dẫn tới thập giá, người ta t́m thấy Thiên Chúa yêu thương thế gian. Sự khẳng định đó coi Thiên chúa và t́nh yêu của Ngài như là thực tại nền tảng và tuyệt đối ... T́nh yêu đi trước tất cả, như trong lời mở đầu của thánh Gioan ánh sáng thiên linh đă hiện hữu v́ con người trước khi có tối tăm. Thiên Chúa t́nh thương chỉ có một mục đích là cứu rỗi và ban sự sống (O.C. p.305-306).
2. Kêu gọi câu trả lời tự do của chúng ta “bây giờ”
Nhưng không, vô điều kiện, phổ quát, t́nh yêu Chúa Cha tỏ hiện trong Con Một, đ̣i hỏi một câu trả lời tự do của con người. Sự hiện diện của Chúa Giêsu, Đấng mặc khải t́nh yêu Chúa Cha, đ̣i hỏi mọi người ‘bây giờ phải chọn lựa, một sự chọn lựa sẽ quyết định cho số phận của ḿnh’.
Với kẻ kết hiệp trong đức tin, với Thiên Chúa t́nh yêu được bày tỏ trong Đức Giêsu Kitô, với kẻ tin "nhân danh Con Một", th́ được hiệp thông với "sự sống đời đời”. Từ hôm nay họ được dẫn vào sự duy nhất vĩnh viễn và trong sự thân mật hoàn hảo của Chúa Cha và Chúa Con: “Như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, xin cho chúng nên một với Ta” (Ga 17). C̣n với "ai không muốn tin" th́ đă bị luận phạt rồi, v́ không tin vào Con Thiên Chúa". X. lon Dufour nhấn mạnh: "sự sống đời đời và án phạt không dành cho ngày sau hết mà thôi (phán xét chung thẩm): cả hai được thể hiện trong hiện tại khi gặp gỡ Đức Kitô. Tin vào Ngài tức th́ "có sự sống", trái lại, từ chối không tin là tự định đoạt cho ḿnh phải chết" (O.C. p.308-309).
BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Sống và yêu theo nhịp Chúa Ba Ngôi” (J.N. Bezencon, trong, "Babor p.131-132).
Mặc khải về Chúa Ba Ngôi không chỉ là sự bổ sung vào ư niệm chung về Thiên Chúa. Sẽ không đủ nếu chỉ thêm thắt vào ư niệm về Thiên Chúa của các tôn giáo khác. Mặc khải về Chúa Con và Chúa Thánh Thần để từ đó khám phá ra Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô. So với tôn giáo độc thần của Do Thái mà một Chúa Ba Ngôi là sự hoàn thành, ư niệm Chúa Ba Ngôi của người Kitô hữu là cả một cuộc cách mạng trong sự hiểu biết về Thiên Chúa. V́ thế trong kinh Tin Kính của Kitô giáo, không có một đoạn đầu chung chung nói về Thiên Chúa trong những từ mà chúng ta có thể chia sẻ với anh em Do Thái giáo hay Hồi giáo. Chức làm Cha của Thiên Chúa, quyền năng vô biên của Ngài, hành động sáng tạo của Ngài, quyền làm Chúa của Ngài trên vũ trụ phải được đọc dưới ánh sáng của Đức Giêsu và thập giá của Ngài. Đức tin Kitô giáo, đức tin vào Chúa Ba Ngôi, không chỉ khác bởi nội dung của nó, như thể là trong danh mục các chân lư phải tin, chỉ cần thêm vào, cho là ở đâu đi nữa, một chương về Ba Ngôi là đủ. Chính đức tin đă khác biệt rồi, khác trong chính kết cấu, trong năng động. Đức tin cách nào đó, đảo ngược: khi tôi nói tôi xây dựng cuộc sống tôi trên Ngài, trước hết tôi muốn nói trong Ngài là nguồn suối, Ngài tin ở con người và phó thác cho tôi, ràng buộc ḿnh với chúng ta, và tuỳ may rủi, Ngài chọn xây dựng tất cả dự tính t́nh yêu của Ngài, và chia sẻ, dựa trên sự đáp trả tự do và mong manh của chúng ta: Đức tin của chúng ta, tiếng Amen của chúng ta là câu trả lời như tiếng dội của ḷng tin của Thiên Chúa. Nói Ngài là Cha là mẹ (đứa trẻ nói: Thiên Chúa là người Cha, thương yêu như người mẹ) điều đó muốn nói chính Ngài luôn luôn đi bước đầu. Huấn giáo (catécalèse) không có điểm xuất phát nào ngoài phát minh làm chóng mặt rằng một ai đó đă tin tôi đến nỗi làm cho tôi sống: "Con là con Ta, trong con Ta đặt tất cả t́nh yêu”. Bởi thế ngay lập tức, đức tin ấy là tin vào Chúa Ba Ngôi. Dựa vào huấn giáo là đặt ḿnh ở điểm chính xác nơi mà Lời của Thiên Chúa có thể t́m thấy tiếng dội trong con người. Đó là đi vào kinh nghiệm làm con của Đức Giêsu. Cuối cùng huấn giáo là huấn giáo về Chúa Ba Ngôi v́ đời sống Kitô giáo là tin vào Chúa Ba Ngôi: ở chỗ để Thánh Thần chiếm đoạt, đến nỗi nên một với Đức Giêsu mà Chúa Cha hằng sinh ra. Từ đó huấn giáo các bí tích mà người Kitô giáo học sống sự hiệp thông Ba Ngôi là rất quan trọng. Đó là dịp để quảng diễn các kinh trong sách nghi lễ, với điều kiện là đừng bắt đầu cách loại bỏ những ǵ mà tất cả những ai được giáo huấn (catéchisés) cho rằng không hiểu. Một nhóm nhỏ làm công tác giáo huấn làm ta nghĩ đến bức tượng thánh Icône của André Roublev, ba thiên thần được Abraham đón tiếp, truyền thống công nhận đó là h́nh ảnh tiên báo về Chúa Ba Ngôi. Tất cả Giáo Hội, tất cả mọi tế bào của Giáo Hội, là h́nh ảnh của Chúa Ba Ngôi nếu như mỗi người đều hướng về kẻ khác trong sự chia sẻ và trong sự hiệp thông. Trong một êkip làm công tác huấn giáo, trong đó mỗi người đều biết đón nhận những ǵ mà người khác nói và làm ở đó, những lúc thinh lặng và cầu nguyện thật là những giây phút hiệp thông, một cái ǵ đó sống, đồng thời cũng có giá ăn mặc khải mầu nhiệm của Thiên Chúa như là cái nh́n nhau giữa các thiên thần của bức tượng thánh của Roublev. Sự tuần hoàn của t́nh yêu trong Ba Ngôi Thiên Chúa, được anh em Hy Lạp gọi là "Périchorèse" (một thứ vũ ṿng quanh, cũng có gốc với từ chorégraphie). Thiên Chúa không bất động. Và v́ Ngài luôn luôn là chuyển động và chia sẻ chính Ngài, Ngài là chuyển động hướng về chúng ta. Huấn giáo là nơi mà trẻ con, chúng biết chúng không bao giờ ở yên, được mời gọi đi vào chuyển động điệu múa Ba Ngôi, học sống và yêu với nhịp điệu của Cha, Con và Thánh Thần...".
2. “Giáo Hội nói những ǵ Giáo Hội làm" (Pour dire le Credo, Cerf).
Nh́n Giáo Hội trong những ǵ Giáo Hội là, không phải là chuyện dễ dàng đâu. Giáo Hội loan báo Phúc âm, Tin Mừng của Đức Kitô v́ hạnh phúc con người, và Giáo Hội làm cho con người sống các bí tích mà Đức Kitô đă truyền lại, đặc biệt và ngay từ đầu, Giáo Hội làm cho con người sống bí tích Thanh Tẩy. Giáo Hội hiện hữu là thế đó, nghĩa là như một cộng đồng của những ai, nam cũng như nữ, chấp nhận t́nh yêu Chúa Cha và liều ḿnh sống đời sống của Ngài. "Hăy đi khắp muôn dân thu tập các môn đệ, làm phép rửa cho họ" (Mt 28,19). Nhiều khi chúng ta cho lời nói của Giáo Hội có tầm quan trọng (sự can thiệp của Đức Thánh Cha, các tuyên bố của các giám mục) hơn là việc làm của Giáo Hội, và chúng ta có cảm tưởng Giáo Hội là một tổ chức để nói, một bà già rất đáng kính nói hơi nhiều. Phải rồi Giáo Hội nói, và Giáo hội phải làm thế để nói lại với loài người vẻ đẹp của lời dạy của Đức Giêsu, và giúp họ thay ḷng đổi dạ. Nhưng trong chân lư sâu thẳm của ḿnh, trước hết Giáo Hội hành động, và khi suy nghĩ đến hành động của ḿnh, Giáo Hội nói và khám phá ra những ǵ Giáo Hội đă làm. Như thế Giáo Hội kiểm tra lại sự thật của hành động ḿnh, và cắt nghĩa giá trị của hành động ấy. Giáo Hội làm phép rửa, một hành động huyền bí cho phép con người nhận ra ḿnh được Cha yêu thương và được hợp nhất với Đức Giêsu, nhờ ơn sức mạnh của Thánh Thần của Đức Giêsu…,được trở nên chứng nhân của t́nh yêu phổ quát của Cha. Chúng ta luôn phải tái khám phá ra vẻ đẹp và sự quan trọng của phép Rửa mà chúng ta đă lănh nhận. Và trong dây liên kết chặt chẽ với hành động chịu phép rửa mà Giáo Hội đă đề ra kinh Tin Kính, để cho mọi người sẽ chịu phép rửa, cùng nhau nhận ra kho tàng họ được chia sẻ không do công lệnh ǵ của họ. Phải luôn lặp lại lời thánh Phaolô: "Nhờ ơn thánh mà anh em được cứu chuộc, anh em chẳng có công trạng ǵ trong đó cả, chỉ là một ơn huệ của Thiên Chúa" (Ep 2,8). Kinh Tin Kính là bản đồ đi đường chỉ cho chúng ta thấy vẻ đẹp của thế giới mới trên bờ bến mà bí tích rửa tội đă đưa chúng ta tới. Việc tuyên xưng đức tin bắt đầu trong ngây ngất (của tâm hồn) và trong lời kinh tạ ơn.
3. “Hội Thánh của Thiên Chúa Ba Ngôi”. (B.Franck, trong "La Croix", 12/2/1995, p.27).
Nếu Giáo Hội thật là một hiệp thông (koinonia), nếu từ cơ bản Giáo Hội là "dân Thiên Chúa”, "thân thể Đức Kitô và đền thờ Chúa Thánh Thần, nếu Thiên Chúa Ba Ngôi vừa là nguồn gốc vừa là khuôn mẫu của sự sống của Giáo Hội, nếu những người chịu phép (giáo sĩ, giáo dân, tận hiến) phải được đào tạo theo mẫu những liên hệ nối kết Ba Ngôi Thiên Chúa, khi ấy Giáo Hội phải cố gắng phản ảnh lên trái đất, giữa các Kitô hữu, những mối liên hệ b́nh đẳng hỗ tương và bác ái, mối liên hệ giữa Cha, Con và Thánh Thần. Giữa Ba Ngôi, không có trên cũng không có dưới, không có Đấng quyết định và Đấng thi hành quyết định, Ba Ngôi với nhau, hoạt động với nhau sống với nhau mà vẫn giữ được căn tính của ḿnh và Ngôi vị riêng biệt, tuy mỗi Đấng có một sứ mệnh đặc trưng có một không hai.
Giáo Hội tự ḿnh muốn và tự nói ḿnh là "bức tượng thánh của Ba Ngôi". Giáo Hội phải luôn cố gắng hướng tới để trở nên cái mà ḿnh phải là, chứ không phải luôn làm biến dạng khuôn mặt Ba Ngôi mà Giáo Hội tự cho ḿnh là h́nh ảnh.
Phải mất ba thế kỷ, các Công đồng của Giáo Hội mới định nghĩa chính xác Ba Ngôi. Nhưng ngay từ lúc khởi đầu, mọi sự đă được đem đến trong Tin Mừng, đặc biệt là Tin Mừng của Thánh Gioan. Cuộc đàm thoại với Nicôđêmô mà chúng ta đọc hôm nay là một đoạn trích ngắn, thật sự đă làm cho chúng ta khám phá một điều ǵ đó chủ yếu: “tranh luận" hẳn là không đi tới đâu, phải đi theo Đức Giêsu và dấn thân với Người. ông Nicôđêmô đại diện cho các môi trường trí thức Do Thái ông là bậc thầy trong dân Israel (Ga 3,10)... Tuy nhiên ông không hiểu! trước tiên Ba Ngôi không phải là một vấn đề hóc búa của trí tuệ mà một thực tại đơn giản: Thiên Chúa là t́nh yêu! Và t́nh yêu này mang một khuôn mặt: Đức Giêsu trên thập giá. Gioan là tông đồ duy nhất đă dám đối mặt với cảnh tượng ấy của t́nh yêu điên rồ của Thiên Chúa, khi tham dự vào bi kịch trên đồi Golgotha, cả cuộc đời Ngài, thánh Gioan đă suy niệm trước Đức Giêsu “được gương cao” khỏi mặt đất trước mắt Ngài. Thánh Gioan đă nói với chúng ta sự suy niệm ấy. Đồng thời nó cũng là chân lư sâu xa nhất về căn tính của Đức Giêsu.
“Thiên Chúa yêu đến nỗi..."
Trước khi đi xa hơn trong câu này, tôi để cho những chữ ấy thấm vào người tôi.
Vậy ra đây là vấn đề t́nh yêu. Và một t́nh yêu sẽ làm những chuyện điên rồ người ta đă đoán ra điều đó trong trạng từ "đến nỗi"...
Israel biết rằng Thiên Chúa yêu thương. Toàn bộ Cựu ước là một chung cư về điều đó. Bài đọc đầu tiên cho chúng ta nghe lại mặc khải với Môsê trong sa mạc Sinai:"Ta là Đức Chúa Giavê, Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín" (Xh 34,4-9). Vâng, toàn bộ Kinh Thánh đều biết t́nh yêu của Thiên Chúa nhưng không một ai có thể đoán được t́nh yêu ấy đi tới mức nào?
"Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi..."
Từ thế gian mà trong tiếng Hy Lạp là “kosmos", trong Tin Mừng Thánh Gioan thường có nghĩa xấu, ở đây cần biết rằng thế gian, toàn vũ trụ được Thiên Chúa yêu thương. Thiên Chúa yêu thương thế gian mà Người đă làm ra. Người ta thương yêu cái ǵ ḿnh đă làm ra. Nhưng cần biết rằng Thiên Chúa yêu thương mọi người. Thiên Chúa đă yêu thương một ‘anh nọ’ và một ‘chị kia’. Và tôi đặt những khuôn mặt cụ thể được yêu thương hoặc không... trên những từ ấy. Thiên Chúa đă yêu thương anh X. đến nỗi... Thiên Chúa yêu thương chị Y đến nỗi.
'Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đă ban..."
Hai động từ này: ‘yêu’ ‘ban’ ở th́ quá khứ bất định trong ngôn ngữ Hy lạp và dịch th́ quá khứ trong tiếng Pháp (trong tiếng Việt là “đă yêu” và “đă ban”). Thiên Chúa đă yêu và đă ban. Đây là một hành động chính xác, có ngày giờ nơi chốn. Quả thật! Đức Giêsu Nagiaret con của Bà Maria, con người thật đă can thiệp vào lịch sử cách nay hai mươi thế kỷ trong một xă hội của Đế quốc La mă đồng thời đó cũng là một biến cố của hoàn vũ đă biến đổi triệt để lịch sử của nhân loại. Kinh Tin Kính của chúng ta không phải là một chuỗi các ư tưởng, nhưng là một chuỗi "sự kiện": Thiên Chúa đă sáng thế, Đức Giêsu đă được trinh thai bởi Chúa Thánh Thần; Người đă đau khổ, đă chết đă sống lại...
Phụng vụ của chúng ta không phải là những ngày lễ các ư tưởng: Chúng ta không mừng lễ công lư, t́nh huynh đệ và cả đức tin. Cách nói: "lễ đức tin tạo ra sự lẫn lộn. Tin Mừng không phải là sách bàn về học thuyết, là một "tường thuật kể lại các biến cố... mà tác giả là Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa là "chủ thể" của hành động: Người yêu... Người ban...
“ Người đă ban Con Một..”
Nếu đọc lướt qua nhanh câu này, người ta có thể chỉ nghĩ đến sự Nhập Thể: Thiên Chúa đă ban cho chúng ta Con của Người! Nhưng có một tính từ nhỏ: Con "Một" tính từ ấy xem ra có thể tầm thường với bất cứ người nào không biết Kinh Thánh. Vả lại, đối với thính giả Do Thái, hai từ ấy (Con, Con Một) nhắc đến một đoạn văn của Cựu Ước trong trí nhớ của mọi người: vị đại tổ phụ sáng lập đức tin, Abraham đă chấp nhận hiến tế con trai, con duy nhất của ông (St 22,2-22,16). Đối với Gioan điều này ám chỉ đến sự “tận hiến” trên đồi Golgotha, chứng tá cao cả nhất của t́nh yêu. Trong một câu trước, Gioan đă nói với chúng ta rằng: “Con Người phải được giương lên như con rắn đồng trong sa mạc” (Ga 3,14). Thánh Phaolô cũng đă viết: ‘Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đă trao nộp v́ hết thảy chúng ta” ( Rm 8,32). T́nh yêu ấy là vô cùng tận! sự điên rồ của t́nh yêu.
“Để ai tin vào Con của Người th́ khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”.
Thiên Chúa đă khởi xướng trước, Người đă “yêu thương đầu tiên”. Mọi sáng kiến đến từ phía Người. Nhưng như chúng ta biết rơ, để có t́nh yêu, nếu chỉ có lời tuyên bố, bày tỏ, trước những bước, dấu chỉ từ một trong hai phía chưa đủ … mà phải có sự tương ứng, đón nhận, đáp trả, … đức tin là lời đáp lại của con người đối với lời tỏ bày t́nh yêu của Thiên Chúa: người ta trao đức tin cho người khác, người ta làm cho người ấy tin tưởng, tín thác cho nhau, người ta được “đính hôn”!
Cái được mất của đức tin ấy vô cùng quan trọng: vấn đề là chết hay sống: “ai tin th́ khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời”. Đó là một song luận khắc nghiệt: hoặc là …hoặc là.. đó là một chọn lựa quyết định: trong trường hợp này người ta không sống, trong trường hợp kia người ta được sống… không có con đường trung b́nh mà là sự phân đôi triệt để khốc liệt. Hoặc người ta chấp nhận “sự ban cho của Thiên Chúa” và đi đến sự sống muôn đời là đặc tính của Thiên Chúa hoặc người ta ở lại với nhân tính của ḿnh và dĩ nhiên là phải chết. Không thể có thái độ nghiêng ngả quanh co. Phải nói “có” hoặc “không” trước sự ban cho của Thiên Chúa. Và theo nhà văn Bernanos, Xatan muốn làm chúng ta trở thành “Ông Ouinn”… là ông vừa nói “có” (oui) và không “ (nn.. non) ông nước đôi đó nói ‘có” khi bắt đầu nói “không”.
“Quả vậy Thiên Chúa sai con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ con của Người mà được cứu độ”.
Tư tưởng này của Đức Giêsu rất cách mạng. Trong đạo Do Thái cùng thời với Đức Giêsu , người ta thường loan báo rằng Thiên Chúa sẽ đến tiêu diệt thế giới tội lỗi. Các thủ bản ở Qumran chứa đầy quan niệm ấy của phái Manikêu: con cái của ánh sáng sẽ tiêu diệt con cái của bóng tối trong một cuộc chiến đấu một mất một c̣n, không khoan nhượng. Gioan Tẩy Giả gần với tâm thức đó, cũng chờ đợi một Đấng Mêsia trả thù và xét xử (Mt 3,10-12).
Nhưng quan điểm của Kitô giáo về thế gian th́ hoàn toàn quân b́nh hơn. Không phải là một quan điểm lạc quan, bịt mắt trước sự xấu ác và không nghe thấy khát vọng bao la về một “thế giới tốt đẹp hơn”… cũng không phải là quan điểm bi quan luôn luôn lặp lại rằng thế giới th́ xấu xa… nhưng là một quan điểm “cứu độ” thừa nhận sự xấu ác của thế gian nhưng không phải lên án nó, nhưng để cứu nó! Đức Giêsu cứu thế thật tuyệt vời!
C̣n chúng ta th́ sao? có phải chúng ta là những môn đệ của Đức Giêsu ấy không? chúng ta có yêu thương thế gian như Thiên Chúa không? nghĩa là bằng sự đấu tranh chống lại điều ác và tội lỗi của thế gian để cứu độ nó. T́nh yêu thương của chúng ta có tính “cứu chuộc” không? nghĩa là trước hết phải thực hiện và sáng suốt trên những khuyết điểm và tội lỗi của anh em chúng ta (cả chúng ta nữa) bị lệch lạc méo mó nhưng chúng ta cũng phải có đủ ḷng nhân hậu để cứu giúp họ ra khỏi t́nh trạng ấy và ban cho họ cơ hội để đổi mới…
Tôi c̣n phải cầu nguyện nhiều về hai từ: ‘không nên đoán xét’ mà hăy ‘cứu’.
“Ai tin vào Con của Người th́ không bị lên án…”
Đối với Đức Giêsu, đức tin thoát khỏi sự phán xét. Như thể sự phán xét đă “hiện đại hoá” vào ngày hôm nay, và đặt vào đôi tay của con người: chính con người tự phán xét ḿnh. Và Đức Giêsu nói rằng đức tin là sự phán xét ấy: “ai tin là người được cứu, c̣n ai không muốn tin đă bị lên án rồi…”
“Nhưng kẻ không tin, th́ bị lên án rồi”.
Chúng ta thấy những lời này rất nghiêm khắc, bởi v́ chúng ta nghĩ đến bao nhiêu người không tin, trong ṿng bà con hoặc trong chính gia đ́nh chúng ta, và trong thế giới bao la đó những nền văn minh lớn hoàn toàn không có được khả năng biết Đức Giêsu. Tuy nhiên chúng ta không thể loại trừ ra khỏi Tin Mừng các công thức căn bản ở đó con người bị thúc bách phải chọn lựa “theo” hoặc “chống”…”có” hoặc “không”…tuy nhiên phải có sự phân biệt chủ yếu:
1. Khi gởi đến các Kitô hữu đă thật sự tuyên xưng đức tin, th́ lời cảnh báo nghiêm khắc ấy tức là không được chối bỏ đức tin mà ḿnh đă tuyên xưng là một lời mời gọi không ngừng lặp lại sự tuyên xưng ấy bằng cách mỗi ngày canh tân sự chọn lựa sống theo Đức Giêsu Kitô của ḿnh: nghĩa là "phó dâng đời sống ḿnh bởi t́nh yêu như Người!".
2. Về phần mọi người khác, chưa bao giờ có cơ hội chọn lựa Đức Giêsu một cách thật sự có ư thức, cá nhân là trưởng thành... th́ điều mà chúng ta biết về t́nh yêu Thiên Chúa (Đấng đă sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian mà để cứu độ nó), cho phép chúng ta hy vọng rằng nhiều người trong số những người thực tế 'không theo Đức Giêsu cũng đă theo Người dù họ không biết điều đó (và quả là thiệt tḥi cho họ) bằng cách sống làm người của họ "theo Đức Giêsu Kitô" nghĩa là "phó dâng đời sống ḿnh bởi t́nh yêu như Người!"
"V́ đă không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa"
Và một lần nữa chúng ta biết chọn lựa ấy khẩn thiết như thế nào... ngay từ bây giờ. Nhưng trong một đoạn văn song song khác, Đức Giêsu sẽ nói rằng một "kỳ hạn của ân sủng" sẽ được ban cho con người, bởi v́ chỉ đến ngày sau hết mà "lời của Đức Giêsu sẽ xét xử những kẻ từ chối Người (Ga 12,47-50). Điều đó không loại bỏ sự khẩn thiết của ngày hôm nay... nhưng tất cả đời sống của chúng ta mỗi ngày là sự phán xét của chúng ta...
Để kết thúc sự suy niệm này, chúng ta biết rơ hơn tại sao trang Tin Mừng này được chọn cho ngày lễ Chúa Ba Ngôi. Trong Tin Mừng, Thiên Chúa Ba Ngôi không phải là một vấn đề mà người ta đề cập như một sự tŕnh bày lư thuyết và trừu tượng... đó là một thực tại của t́nh yêu người ta bước vào thực tại ấy để sống t́nh yêu ngay từ HÔM NAY bởi đức tin trong Đức Giêsu.
Suy Niệm
Có một điều thường khiến các bạn trẻ băn khoăn, đó là làm sao nhận ra một t́nh yêu chân thực, làm sao không bị choá mắt bởi những ảo ảnh, không bị lừa dối bởi những ngọt ngào, để rồi vỡ mộng.
Bài Tin Mừng hôm nay gợi cho ta một số tiêu chuẩn, khi mời ta nh́n vào t́nh yêu của Thiên Chúa.
T́nh yêu chân thực là t́nh yêu hiến trao: "Thiên Chúa đă yêu thế gian đến nỗi đă trao ban Con Một của Người..."
Không phải chỉ là trao một quà tặng, hay một cái ǵ ở ngoài ḿnh, nhưng là trao đi một điều thiết thân và quư báu.
Điều quư báu nhất của Thiên Chúa Cha là người Con Một của Ngài, Đức Giêsu Kitô.
Khi trao cho chúng ta Đấng bị treo trên thập giá, Thiên Chúa đă trao cho ta chính bản thân Ngài.
Ngài chấp nhận Con Ngài phải chết để nhân loại được sống.
T́nh yêu chân thực chẳng hề biết giữ lại cho ḿnh.
T́nh yêu chân thực là t́nh yêu chia sẻ, t́nh yêu mong hạnh phúc cho người ḿnh yêu: "... để bất cứ ai tin vào Người Con ấy th́ không phải chết, nhưng được sống muôn đời."
Sự sống muôn đời đă bắt đầu từ đời này.
Được sống là được đưa vào thế giới thần linh, được chia sẻ hạnh phúc của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Thiên Chúa không muốn cho ai phải trầm luân. Nếu có ai hư mất hay bị luận phạt th́ không phải là v́ Thiên Chúa độc ác, nhưng chỉ v́ Ngài tôn trọng tự do con người.
Con người có thể tin hay từ chối, mở ra hay khép lại trước sự sống được trao ban.
Thánh Gioan đă dám định nghĩa Thiên Chúa là T́nh Yêu.
Một T́nh Yêu chia sẻ chan hoà giữa Ba Ngôi: Cha trao tất cả cho Con, Con dâng tất cả cho Cha. Thánh Thần là sự thông hiệp giữa Cha và Con.
Một T́nh Yêu tràn ngập cả vũ trụ: Thiên Chúa là T́nh Yêu sáng tạo khi Ngài dựng nên con người theo h́nh ảnh Ngài; Ngài là T́nh Yêu cứu độ khi Ngài muốn thứ tha cho ta qua Đức Giêsu; Ngài là T́nh Yêu thánh hoá khi Ngài muốn ban cho ta sức sống mới trong Thánh Thần.
Chúng ta sẽ măi măi xa lạ với Thiên Chúa nếu chúng ta xa lạ với t́nh yêu.
"Ai không yêu th́ không biết Thiên Chúa" (1Ga 4,8). Ai không ở lại trong t́nh yêu th́ cũng không ở lại trong Thiên Chúa (x. 1Ga 4,16).
Ước ǵ đời ta được tưới gội bởi T́nh yêu, để mọi việc chúng ta làm đều bắt nguồn từ T́nh yêu và quy hướng về T́nh yêu.
Ước ǵ chúng ta làm chứng cho Thiên Chúa T́nh yêu bằng một đời sống hiến trao và chia sẻ.
Gợi Ư Chia Sẻ
T́nh yêu là hai từ được sử dụng khắp nơi. Điều mà người ta thường gọi là t́nh yêu, thực ra chỉ là sự chiếm đoạt của bản năng ích kỷ. Theo bạn, thế nào là t́nh yêu thực sự đáng tin? Làm sao nhận ra t́nh yêu đó?
Có khi nào bạn cầu nguyện với từng Ngôi Cha, Con và Thánh Thần không? Bạn biết ǵ về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần?
Cầu Nguyện
Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận, xin dạy con biết phục vụ âm thầm.
Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt, xin dạy con biết yêu thương tự hiến.
Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ, xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.
Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị, xin dạy con biết coi mọi người như anh em.
Lạy Chúa Ba Ngôi,
Ngài là mẫu mực của t́nh yêu tinh ṛng.
Xin cho các Kitô hữu chúng con trở thành t́nh yêu cho trái tim khô cằn của thế giới.
Xin dạy chúng con biết yêu như Ngài, biết sống nhờ và sống cho tha nhân, biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lănh.
Lạy Ba Ngôi chí thánh,
Xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa ở sâu thẳm ḷng chúng con và trong ḷng từng con người bé nhỏ.
Cách đây hàng ngàn năm, có một nhà hiền triết tài giỏi tên là Simonide. Ngày kia, nhà vua cho vời ông ta đến và hỏi:
- Thượng đế là ǵ?
Ông ta xin nhà vua cho ḿnh một ngày để suy nghĩ. Sáng hôm sau, khi nhà vua gọi tới, th́ ông ta lại xin thêm hai ngày nữa để suy nghĩ.
Và khi hai ngày đă trôi qua, ông ta lại xin thêm bốn ngày nữa. Rồi sau đó, ông ta lại xin thêm tám ngày nữa. Cứ mỗi lần nhà vua truyền cho ông ta đến, th́ ông ta lại xin hoăn với số ngày gấp đôi. Sau cùng, nhà vua bực bội, cho triệu ông ta đến và giận dữ hỏi:
- Cho tới bao giờ, nhà ngươi mới trả lời câu hỏi của ta? Thượng đế là ǵ?
Bấy giờ ông ta mới ôn tồn trả lời:
- Xin nhà vua đừng hối thúc tôi. Vấn đề thật khó khăn và tôi nghĩ rằng sẽ chẳng bao giờ t́m thấy được câu trả lời. Bởi v́ càng suy nghĩ, tôi lại càng cảm thấy bối rối. Vấn đề dường như đă vượt ra ngoài khả năng của tôi.
Kể lại câu chuyện này, tôi cũng muốn nói lên sự bất lực của chúng ta khi phải tŕnh bày về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, mà chúng ta mừng kính hôm nay. Mặc dù chúng ta đă học hỏi, đă t́m ṭi, nhưng không bao giờ được quên rằng: Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm. Sở dĩ chúng ta biết được là v́ chính Chúa đă tỏ lộ cho chúng ta.
Tất cả những ǵ chúng ta biết về mầu nhiệm này được gồm tóm như sau: Nơi Thiên Chúa có ba ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Cả Ba Ngôi cực thánh này đều có chung một bản tính, nên bằng nhau về mọi phương diện và chỉ làm thành một Thiên Chúa duy nhất.
Trong giây phút này, tôi chỉ xin chia sẻ một vài ư nghĩ đơn sơ, đó là đứng trước mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, trí khôn chúng ta lại quá nhỏ bé đề mà hiểu thấu, nhưng con tim chúng ta lại đủ to lớn để yêu mến.
Thực vậy, trí khôn chúng ta quá nhỏ bé để mà hiểu thấu. Tôi xin đưa ra một thí dụ: trước mặt chúng ta đây có ba cô, cô Quít, cô Mít, cô Cam. Đó là ba ngôi vị. Mỗi người có một bản tính khác nhau và làm thành ba con người riêng biệt. Đối với Chúa Ba Ngôi th́ khác. Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, mặc dù là ba ngôi riêng biệt, những chỉ là một Thiên Chúa duy nhất. Đó là một mầu nhiệm không thể nào hiểu thấu, bởi v́ trí khôn chúng ta quá nhỏ bé.
Hẳn rằng đă nhiều lần chúng ta được nghe mẩu chuyện về thánh Augustinô. Ngài là một vị thánh tiến sĩ trong Giáo Hội, đă viết nhiều cuốn sách có giá trị. Ngày kia, để bắt đầu viết một thiên khảo luận về Chúa Ba Ngôi, ngài đă đi dạo trên bờ biển để suy nghĩ và cầu nguyện. Bỗng chốc ngài nh́n thấy một em bé đang dùng một chiếc vỏ ṣ múc nước và đổ vào một chiếc lỗ nhỏ trên băi cát. Ngài dừng chân và hỏi:
- Em làm ǵ thế?
Em bé bèn trả lời:
- Tôi muốn tát hết nước biển vào trong chiếc lỗ này.
Thánh nhân mỉm cười và nói:
- Làm sao tát được?
Nhưng em bé nghiêm nét mặt và nói:
- Tôi làm việc này c̣n dễ hơn cái ảo vọng của ngài là muốn tŕnh bày cặn kẽ về Chúa Ba Ngôi.
Nói đoạn, em bé biến mất. Thánh nhân hiểu rằng đó chính là một thiên thần được Chúa sai đến để nhắc nhở: trí khôn con người th́ quá nhỏ bé để hiểu về mầu nhiệm này.
Thế nhưng, con tim của chúng ta lại đủ to lớn để yêu mến Ngài. Thực vậy, Chúa Giêsu đă tỏ lộ không phải để chúng ta hiểu thấu, nhưng để chúng ta yêu mến.
Trước hết, con tim chúng ta đủ to lớn để ca tụng ngài. Mỗi khi hát: Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời. Mỗi khi đọc: Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần. Môi khi làm dấu thánh giá, là chúng ta ca tụng và thờ lạy Chúa Ba Ngôi.
Hơn thế nữa, con tim chúng ta cũng đủ to lớn để cảm tạ Chúa Ba Ngôi. Vậy Ngài đă làm ǵ cho chúng ta? Chúa Cha đă tạo dựng nên chúng ta ngay khi chúng ta c̣n chưa cất tiếng khóc chào đời. Chúa Con đă dùng cái chết trên Thập giá để cứu chuộc chúng ta. Và Chúa Thánh Thần luôn thánh hoá chúng ta. Nhờ bí tích Rửa tội, chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa. Nhờ bí tích Thêm sức, chúng ta trở nên những người lính chiến của Chúa Thánh Thần. Nhờ bí tích Giải tội, chúng ta được tẩy sạch mọi tội lỗi. V́ thế, chúng ta phải cảm tạ và yêu mến Chúa Ba Ngôi.
Sau cùng, trái tim chúng ta cũng đủ to lớn để cho Chúa Ba Ngôi ngự trị. Thiên Chúa không ngự trên chốn trời cao, xa cách ngàn trùng. Trái lại, Ngài sống trong chúng ta, Ngài ở cùng chúng ta và chúng ta là đền thờ sống động của Ngài. Mỗi khi tâm hồn chúng ta sạch tội trọng, Chúa Ba Ngôi sẽ ngự trị và trao ban cho chúng ta sự sống thần linh, sự sống ân sủng, nhờ