Các môn đỆ chân chính
(Mt 7,21-27 – CN IX TN - A)
Lm PX Vũ Phan Long, ofm
1.- Ngữ cảnh
Bản văn này được liên kết với dụ ngôn Cây tốt cây xấu được dùng làm h́nh ảnh tượng trưng người môn đệ chân chính và người môn đệ giả hiệu của Đức Kitô (c. 17). Tuy nhiên, trong tổng thể, bản văn được đặt trong phần III của Bài Giảng trên núi có nhan đề là “Những khuyến khích cuối cùng: Các lời này phải được thực hành” (7,13-27), với các phân đoạn sau:
1.- Hai con đường (7,13-14),
2.- Hai loại ngôn sứ và trái cây (7,15-20),
3.- Hai loại môn đệ (7,21-23),
4.- Hai kiểu nhà (7,24-27).
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Hai loại môn đệ (7,21-23);
2) Hai kiểu nhà (7,24-27).
3.- Vài điểm chú giải
- Lạy Chúa, lạy Chúa (21): Lần đầu tiên, Mt cho thấy là người ta gọi Đức Giêsu là “Chúa”. Dọc theo TM Mt, chỉ các môn đệ, tức các tín hữu, hay những người sắp trở thành môn đệ, mới gọi Người như thế (8,2.6.8.21 [// 8,19].25; 9,28; 13,27; 14,28.30; 15,22.25.27; 16,22; 17,4.15; 18,21; 20,30.31.33; 25,11.20.22.24.37.44; 26,22 [// 26,15]). Vậy ở đây hẳn các môn đệ đang liên tục gọi danh Chúa, để khiến Người quan tâm đến họ.
- Trong ngày ấy (22): gợi ư tới “ngày của Đức Chúa”, ngày phán xét chung (10,15; 12,36; 24,19; 25,31-46): Ed 7,7-27; Am 5,18-20; Xp 1,7.14-15; Ge 2,1.11-17…
- điều gian ác (23): Anomia do tính từ anomos, có nghĩa là “người không có luật; kẻ nổi loạn”. Ở Mt 13,41-42, họ được xếp chung với những kẻ gây ra cố vấp phạm, nên sẽ bị quăng vào lửa.
4.- Ư nghĩa của bản văn
* Hai loại môn đệ
Đọc trọn đoạn 7,15-23, ta thấy nói đến các “ngôn sứ giả”. Đây là các Kitô hữu, mặc dù công bố niềm tin của họ vào Chúa (x. c. 21) và làm được những hành vi ngoạn mục, như nói tiên tri, trừ quỷ và các phép lạ (c. 22), họ không thi hành ư muốn của Chúa Cha (c. 21), do họ không sống phù hợp với các đ̣i hỏi Đức Giêsu đă nêu ra trong Bài Giảng trên núi, họ không thi hành những điều họ nói. Họ tự lừa dối chính ḿnh mà cho rằng ḿnh là một môn đệ chân chính của Đức Kitô, trong thực tế họ tạo ra một hoàn cảnh gian ác (anomia, “không luật”, c. 23; x. 24,11-12; 13,41).
Ư muốn (thelêma) của Thiên Chúa chính là kế hoạch cứu độ của Ngài, được trải rộng ra đến các hành vi thuộc cuộc sống thường nhật. Cách thức để nhận biết điều Thiên Chúa muốn là quan sát những ǵ Ngài đang hoàn tất. Theo Kinh Thánh, các công tŕnh ưu việt của Thiên Chúa là công cuộc tạo dựng và công cuộc cứu độ. Do đó, thi hành ư muốn của Ngài là chuyên cần và quảng đại cộng tác vào một trong hai công tŕnh đó. Các Tin Mừng không nói nhiều về công tŕnh tạo dựng cho bằng nói đến các can thiệp của Thiên Chúa vào trong lịch sử nhân loại hầu ban ơn cứu độ và mời gọi các tín hữu cũng làm như thế. Nói cho cùng, thi hành ư muốn của Thiên Chúa là làm cho ơn cứu độ nên hiện thực nơi chính ḿnh và nới anh chị em đồng loại. Các lời ca ngợi tung hô Chúa (c. 21) không thay đổi chút ǵ nơi các sự việc. Chúng không có giá trị, chúng không thể bảo đảm cho ta được vào Nước Trời, không đưa được con người về phía Thiên Chúa để nhận được ơn cứu độ. Điều Đức Giêsu đ̣i hỏi là một ḷng đạo đức hiện thực, có việc làm, có dấn thân.
Chúng ta cần nhớ lại lời Đức Giêsu nói về các ngôn sứ giả “đội lốt chiên” ở trên (c. 15). Ẩn dụ “con chiên” có nghĩa là các thành viên của Dân Thiên Chúa trong Cựu Ước. Các ngôn sứ giả tỏ ra như là thành viên của Dân Kitô giáo. Bởi v́ con chiên hiền lành không có phương thế tự vệ là h́nh ảnh cổ điển đối lập với con sói tham tàn (x. Is 11,6; 65,25; Hc 13,17). Bộ áo giả chiên của họ muốn nói là họ tỏ ra ḥa b́nh, trong thực tế, đây là những “sói dữ tham mồi”, nghĩa là những Kitô hữu xấu đang đưa một mầm mống sự chết vào trong cộng đoàn.
Tiêu chuẩn giúp khám phá ra ngôn sứ giả là tiêu chuẩn “quả” (x. cc. 16-20. Từ ngữ “quả” được nhắc đến 7 lần trong các câu này). Trong Cựu Ước, “quả” là h́nh ảnh thông dụng để chỉ các hành vi của con người. “Sinh quả tốt”, đó là “thi hành ư muốn của Cha Thầy” (c. 21); “sinh quả xấu”, đó là “làm điều gian ác” (c. 23), sống không luật, mà môi miệng vẫn cứ tuyên xưng niềm tin vào Chúa, thậm chí c̣n nhân danh Người mà làm những việc kỳ diệu. Câu “Ta không hề biết các ngươi” (c. 23) vang lên thật cay đắng cho những ai đă lặp đi lặp lại tên Giêsu biết bao nhiêu lần trong đời họ và trong hoạt động của họ. Đây là một lời long trọng từ khước, phủ nhận sự hiệp thông (x. 10,33; 25,12). Lư do duy nhất là họ đă không chu toàn ư muốn của Thiên Chúa. Tác giả gọi họ là “bọn làm điều gian ác”. Thật ra họ không phải là những tay đại gian ác, nhưng chỉ v́ họ ngăn cản việc thực hiện và mở rộng Nước Thiên Chúa (x. 16,23), họ đă đáng bị gọi bằng một cái tên nặng nề như thế.
* Hai kiểu nhà
Dụ ngôn này không có lời giải thích, nhưng cũng là một lời nhắc nhớ đến các bổn phận của đời sống Kitô hữu. Đức Giêsu tấn công lối sống buông thả và vô vi. Phải vâng phục cụ thể ư muốn của Thiên Chúa chứ không buông ḿnh theo những ảo tưởng hoặc những cơn hứng khởi kiểu đặc sủng (x. cc. 21-23). Bài học của phần trước được nhắc lại qua dụ ngôn hai người xây nhà, người khôn và người ngu. Người khôn cất nhà trên nền móng vững chắc, người ngu xây nhà trên một cái nền không vững. Đối với Đức Giêsu, nền móng chắc chắn của ngôi nhà, tức của đời sống Kitô hữu, là thực hành các giáo huấn của Người. Người đă kêu gọi “làm” (poiein) ư muốn của Chúa Cha, nay Người yêu cầu “làm” (poiein) “các lời của Người”. Lời của Đức Giêsu mà người ta nghe được trong Bài Giảng trên núi phải được lắng nghe trong niềm vui, nhưng hơn nữa, phải được diễn tả ra qua đời sống thực tiễn. Lắng nghe là điều kiện tiên quyết, nhưng điều đáng kể hơn, là thực hiện điều đă nghe được. Chỉ khi nghiêm túc sống như thế, đời sống Kitô hữu mới dựa trên một nền móng vững chắc và không sợ bị lật đổ khi gặp các thử thách hay nghịch cảnh đầu tiên.
Truyền thống kinh sư sử dụng những dụ ngôn tương tự để mô tả hai thái độ đối nghịch khi ở trước công việc nghiên cứu Torah: một thái độ đưa tới việc thực hành và một thái độ chỉ nhắm kiến thức không có việc làm. Tuy nhiên, có hai khác biệt: các dụ ngôn kinh sư nói đến tương quan học-làm, c̣n dụ ngôn của Đức Giêsu nói đến tương quan nghe-làm; nhất là Đức Giêsu không c̣n nói đến việc thực thi Torah nữa, mà là thực thi “các lời của Thầy” mà Người vừa nói ra. Đức Giêsu gán cho các lời của Người một uy tín mà Do-thái giáo gán cho Torah.
+ Kết luận
Bài diễn từ mang giọng mục vụ, chứ không phải là lịch sử hay thần học, nhằm đưa tới sự hoán cải. Dáng vẻ bề ngoài không phải là thực tại. Chúng ta cũng nhớ tới cây vả sum xuê lá cành mà không có trái (x. Mt 21,19). Đấy là một t́nh trạng mâu thuẫn của người khẩn cầu, chúc tụng tên Chúa cách long trọng mà không dấn thân thi hành ư muốn của Ngài. Nói rằng tiêu chuẩn quyết liệt là Kitô hữu phải xử sự phù hợp với các đ̣i hỏi của Bài Giảng trên núi, điều đó có nghĩa là phải ưu tiên diễn tả t́nh yêu ra bằng hành động. Như thế, giáo huấn của TM Mt hài ḥa với giáo huấn của thánh Phaolô (x. 1 Cr 13) và của truyền thống Gioan (x. 1 Ga 4,7-8). Kết luận của bài giảng ở đây thật cứng rắn và không khoan nhượng. Khi thấy như thế, người Kitô hữu phải lô-gích với chính ḿnh: đă chọn lựa, và biết là chọn đúng, th́ ra sức sống các chọn lựa đă lấy.
5.- Gợi ư suy niệm
1. Không phải chỉ cứ nói những lời tốt lành, có đức tin đúng đắn, có những khát vọng ngay lành là đủ. Không phải chỉ cần bước đi trên nẻo đường thênh thang với tư tưởng hướng về Nước Trời và thỉnh thoảng kêu tên Chúa, là đă đủ để được cứu độ (x. 6,9; 10,15). C̣n phải chu toàn ư muốn của Thiên Chúa. Những người bị loại trừ rất có thể đă là những người nói giỏi, những chuyên viên Phụng vụ sắc bén, nhưng họ đă không cố gắng hoàn tất những ǵ họ cử hành, có khi lại c̣n làm ngược lại, làm điều dữ.
2. Tác giả Mt đă nh́n lại nội bộ cộng đoàn và nhận ra có những thành viên bất xứng với danh hiệu của họ. Ngài gọi họ là bọn xét đoán sai, càm ràm (7,1), đạo đức giả (c. 5), ngôn sứ giả (c. 15), cây không quả (c. 20). Cuối cùng, ngài tổng hợp tất cả lối sống gây khó chịu, vấp phạm, là xấu xa, thậm chí là thuộc về Satan. Trước sau rồi họ cũng bị lật mặt nạ và kết án. Do đó, tốt nhất họ nên xét đoán chính ḿnh trước đi và kịp thời rút khỏi con đường xấu xa, con đường rộng răi, thênh thang, nhưng đưa tới diệt vong (c. 13) để đi theo con đường chật hẹp đưa tới sự sống (c. 14).
3. Hội Thánh không phải là một tập thể hoàn hảo. Trong Hội Thánh, có những thợ xây khôn ngoan, và cũng có những thợ xây thiếu khôn ngoan. Những người thiếu khôn ngoan là những người nghe lời loan báo mà không quyết tâm đưa ra thi hành nghiêm túc. Đây chỉ là sự gắn bó hời hợt, không bám rễ trong tim và trong trí thông minh, nên sẽ bị hủy diệt ngay khi tiếp xúc với những sức mạnh đối nghịch.