ĐỨc Giêsu gỌi Ông mátthêu
(Mátthêu 9,9-13 – CN X TN - A)
Lm PX Vũ Phan Long, ofm
1.- Ngữ cảnh
Sau khi đă tŕnh bày bài diễn từ đầu tiên (Bài Giảng trên núi: ch. 5–7), tác giả TM I chuyển sang phần tường thuật chứng tỏ uy quyền của Đức Giêsu (ch. 8–9): Người có thể cứu chữa mọi người ở bên lề xă hội, những người bị loại trừ, và kiến tạo một cộng đoàn các môn đệ gồm những con người đă được Người cứu chữa. Truyện Đức Giêsu gọi Mátthêu nằm trong bối cảnh này: Mátthêu là một người thu thuế, tức là một người ở ngoài ṿng xă hội Do-thái, một con người bị coi là tội lỗi; Đức Giêsu đă gọi ông làm môn đệ, nên đă gây ra sự bất b́nh; nhưng Người chứng minh cho biết v́ sao Người làm như thế.
Chủ đề của phân đoạn là quyền lực của lời Đức Giêsu: lời có sức cứu chữa và kiến tạo.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành ba phần:
1) Đức Giêsu gọi Mátthêu ((9,9);
2) Tranh luận giữa nhóm Pharisêu và nhóm Đức Giêsu (9,10-11);
3) Lập trường của Đức Giêsu (9,12-13).
3.- Vài điểm chú giải
- một người tên là Mátthêu (9): Hầu chắc người có tên Mátthêu này cũng là Lêvi trong Mc (2,14) và Lc (5,27) và là một thành viên của tông đồ đoàn (x. 10,3). Ông thu thế tại Caphácnaum; như thế, ông không trực tiếp làm việc cho người Rôma, mà là cho vua Hêrôđê Antipa.
- trạm thu thuế (9): Trong Luật Rôma, các nhân viên thu thuế được gọi là publicani, c̣n những phụ tá của họ giúp thu gom tiền của được gọi là partitores. Cả hai nhóm đều bị coi như là quân trộm cắp và bóc lột, nên bị mọi người khinh bỉ. Sự khinh bỉ lan sang cả thân nhân của người thu thuế (x. Mt 5,46; 18,17; 21,31; Lc 18,11). Theo Luật Do-thái, người thu thuế không được làm chứng tại ṭa án. Nếu muốn hoán cải, họ phải hoàn trả lại tất cả những ǵ họ đă thủ đắc bất chính, cộng với hai mươi phần trăm của cải của họ.
- dùng bữa tại nhà ông (10): Bên Đông Phương (và dĩ nhiên tại Paléttina), việc ăn uống với nhau không chỉ để giải quyết nhu cầu dinh dưỡng, nhưng c̣n là một nghi thức biểu tượng diễn tả sự gần gũi và sự nhất trí của các người đồng bàn. Một trong những điều không xứng đáng mà một người môn đệ của Do-thái giáo chính thức phải nhớ, đó là ăn chung với đám dân quê mùa, không biết tuân thủ tất cả các nghi thức được truyền thống các tôn sư quy định.
- thầy thuốc (12): Coi tội lỗi là các vết thương, hoặc bệnh tật, và sự tha thứ là việc săn sóc của thầy thuốc để chữa lành, là một lối sánh ví ẩn dụ quen thuộc trong Cựu Ước (x. Đnl 32,39; Is 1,6; 19,22; Hs 5,13; 7,7;…). Đề tài chính của các sấm ngôn về Đấng Mêsia là t́nh trạng của người tội lỗi được tha thứ sẽ khá hơn t́nh trạng của họ trước khi phạm tội (x. Hs 14,2-9; Is 30,26; Ed 36,23-38). Vậy kẻ tội lỗi là đối tượng của một t́nh yêu lớn lao hơn t́nh yêu họ nhận khi c̣n là người công chính (trước khi phạm tội). Đấy là chân lư mà thánh Phaolô đă nhận ra khi nói: “Ở đâu tội lỗi đă lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20). Ngài không có ư nói là cứ việc phạm tội đi, để được nhận thêm ân sủng; ngài muốn nói rằng có ư thức ḿnh có tội, mới thấy ḿnh được ân sủng của Thiên Chúa che phủ đến thế nào.
- Ta muốn ḷng nhân chứ đâu cần lễ tế (13): Tác giả TM dùng từ eleos, “ḷng nhân”, của Bản LXX. Từ này dịch từ Híp-ri [k]hesed (x. Hs 6,1). Từ [k]hesed có ư nghĩa rộng hơn từ eleos nhiều: “ḷng tốt”, theo nghĩa là “ư chí có sự sẵn sàng chiếu cố đến [một người]” (x. St 47,29; Gs 2,12-14; 1 Sm 20,14-15; R 1,8; 3,10). Nhưng nghĩa ưu tiên là ḷng tốt, ḷng nhân ái của Thiên Chúa đối với con người; do đó, có khi c̣n có thể dịch là “ḷng từ bi thương xót”, “ân sủng, ân huệ”; “sự sủng ái, sự chiếu cố”… Trong Tân Ước, có một từ có thể diễn tả được tất cả các sắc thái của [k]hesed là agapê, “bác ái”.
4.- Ư nghĩa của bản văn
* Đức Giêsu gọi Matthêu (9)
Bản văn cho thấy, giống như ở 4,23, Đức Giêsu là một ngôn sứ, một nhà thừa sai (“đi ngang qua”) loan báo Lời Chúa và thỉnh thoảng đưa mắt nh́n tới (“thấy”) những con người mà Người gặp, để rồi mời họ bước theo Người. Sức mạnh của Lời Người được chứng tỏ bằng việc tức khắc tạo những thay đổi nơi con tim kẻ được gọi. Mátthêu tức khắc bỏ nghề nghiệp mà đi theo Người.
* Tranh luận giữa nhóm Pharisêu và nhóm Đức Giêsu (10-11)
Luật về sạch và dơ của người Pharisêu đă dạy phải tránh mọi quan hệ với những người không có tiếng tốt, những người phong cùi, những người có tội công khai. Đức Giêsu nhất quyết điều chỉnh lối thực hành này, bởi v́ trước mặt Thiên Chúa, bất cứ sự phân biệt đối xử nào cũng là vơ đoán và bất công. Do đó, Người đă “ngồi với” (meta) những người thu thuế, hầu như giống một người trong họ. Người vẫn tỏ ra là thầy, hiện diện với tất cả phẩm cách, nhưng không làm cho bầu khi vui tươi của bữa tiệc trở nên nặng nề bằng những lời trách móc hoặc bằng những thái độ tự cao, hay bằng một sự thinh lặng để lôi kéo sự chú ư. Người thân mật ngồi với họ, cùng ăn cùng uống với họ, tham gia vào những câu chuyện của họ, tức là bề ngoài y như họ (“bạn” của họ: 11,19). Người Pharisêu không chấp nhận được cách xử sự này.
* Lập trường của Đức Giêsu (12-13)
Đức Giêsu đă biện minh cho cách xử sự của Người trước tiên bằng một câu tục ngữ (c. 12), rồi sau đó bằng một câu trích Kinh Thánh (c. 13a) và kết luận bằng một câu châm ngôn tóm tắt đường lối truyền giáo của Người (c. 13c). Đức Giêsu không hành động như thế để khích bác người Pharisêu, nhưng v́ những lư do sâu xa hơn. Nếu Người quan hệ với những người thu thuế và người tội lỗi, là bởi v́ họ cần sự hiện diện và sự giúp đỡ của Ngài hơn, cũng như người bệnh cần thầy thuốc hơn là người khoẻ mạnh. Những người thu thuế và tội lỗi, cho dù họ không tự nghĩ về ḿnh như vậy, đang là những người bệnh, nghĩa là những người về phương diện luân lư là không lành mạnh hoặc không hạnh phúc, nên cần được chăm sóc và chữa trị.
Câu trích Hs 6,6 chính là ch́a khóa giúp hiểu chương tŕnh làm việc của Đức Giêsu và các môn đệ Người. Kế hoạch hành động này phải thấm nhuần ân sủng và ḷng từ bi thương xót, chứ không cứng cỏi, không nhắm bề ngoài, không vụ h́nh thức. Đức ái có quyền ưu tiên trên mọi luật lệ tích cực của loài người.
Lời cuối cùng, “tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (c. 13), có giọng điệu mỉa mai. Bởi v́ người Pharisêu tự coi ḿnh là “công chính”, th́ họ đâu có cần được cứu độ! Chỉ những ai tội lỗi mới cần ơn cứu độ mà thôi. Nhưng nếu vậy, lời này cũng là một lời khuyến cáo người Pharisêu hăy đi xuống khỏi vị trí cao ngạo phân biệt đối xử hiện nay, để thấy ḿnh cũng chỉ là con người tầm thường như bất cứ ai và cũng cần được tha thứ, cứu chữa. Những người thu thuế là những người bệnh mà không biết; người Pharisêu cũng là những người bệnh dù cảm thấy ḿnh công chính. Hoàn cảnh của họ c̣n tệ hơn. Bởi v́ để nhận được lời kêu gọi ân sủng, người ta phải cảm thấy ḿnh tội lỗi. Khả năng đón nhận ơn cứu độ tỷ lệ với t́nh trạng nghèo khó và túng cực con người ư thức về ḿnh khi ở trước nhan Thiên Chúa (x. Mt 5,3).
+ Kết luận
Bản văn không có mục đích thông tin cho chúng ta về các hoàn cảnh của ơn gọi Mátthêu, nhưng nhằm cho thấy qua tấm gương của ông, thái độ mà người tín hữu phải có đối với Đức Giêsu, đó là sẵn sàng đáp lại tiếng Người mời gọi.
Không bao giờ Đức Giêsu “phong thánh” cho những kẻ tội lỗi. Người đồng ư với người Pharisêu rằng những người thu thuế như Mátthêu đúng là “quân tội lỗi”. Người cũng không bao giờ bảo rằng những kẻ tội lỗi đáng trọng hơn những người “công chính”. Người chỉ giới thiệu Nước Trời và sứ mạng của Người là cứu mọi người không trừ ai, bởi v́ mọi người đều được Thiên Chúa yêu thương (x. 5,45).
Bữa tiệc tại nhà Mátthêu chính là h́nh ảnh của Họi Thánh mà tác giả Tin Mừng I muốn để lại cho cộng đoàn của ngài, một cộng đoàn gồm đa số là những Kitô hữu gốc Do-thái.
5.- Gợi ư suy niệm
1. Hôm nay đă là tín hữu, tu sĩ, linh mục rồi, tôi rất có thể nghĩ rằng tôi đă đáp lại tiếng Đức Giêsu kêu gọi, nên chẳng có ǵ phải bận tâm nữa. Thật ra, Đức Giêsu vẫn đang tiến đi, và vẫn đang mời gọi tôi bỏ mọi sự mà bước theo Người. Bởi v́ ngày qua ngày, tôi lại có thể rơi vào cám dỗ muốn dừng lại nơi một “trạm thu thuế” nào đó, để nghỉ ngơi, để thụ hưởng. Trong khi đó, cuộc hành tŕnh mà Đức Giêsu đă đưa tôi bước vào không cho phép tôi ngừng lại. Hoặc là tiếp tục bước đi, hoặc là phản bội.
2. Đức Giêsu chính là Thiên Chúa quan tâm đến con người, đi t́m con người. Cứ nghĩ đến lời Đức Giêsu bảo để lễ vật lại nơi bàn thờ mà đi t́m người anh em bị xúc phạm (x. Mt 5,24) th́ hẳn chúng ta lại hiểu hơn nữa bài học trong bài Tin Mừng hôm nay. Nói ra th́ có vẻ vô phép, và phạm thượng nữa, nhưng nếu cứ đi theo ḍng suy luận của Đức Giêsu, th́ dường như con người quan trọng cũng bằng, nếu không phải là hơn Thiên Chúa! Bởi v́ Thiên Chúa có thể chờ được, c̣n con người th́ không.
3. Đứng xa xa, kết án người khác theo những tiêu chuẩn của ḿnh, th́ dễ, v́ lúc đó, ḿnh cảm thấy ḿnh sạch tay, mà ḿnh không phải hy sinh, thiệt tḥi ǵ cả. Đi vào chia sẻ cuộc sống với người ta, để cứu người ta ra khỏi t́nh trạng bần khốn, thảm hại, th́ khó hơn, bởi v́ tay chân ḿnh sẽ phải lấm bùn. Nhưng nếu không làm như thế, người tín hữu không phải là con của một v́ Thiên Chúa đă nói “Ta muốn ḷng nhân chứ đâu cần lễ tế”, cách rất cụ thể, nơi Đức Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể.
4. Nhóm môn đệ của Đức Giêsu hẳn là phải học lấy bài học này: Họ được gọi không phải v́ họ có vô số tài năng, cao dày đức độ, nhưng chỉ v́ Đức Giêsu muốn bày tỏ ḷng từ bi thương xót của Thiên Chúa cho họ. Điều này, các môn đệ của Đức Giêsu sẽ hiểu thấm thía, vào ngày họ nghe các phụ nữ từ mộ Đức Giêsu về mà nhắn lời Thầy rằng: “Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó” (Mt 28,10; x. c. 7). Họ hiểu là họ đă được tha thứ (thêm một lần nữa!), và được mời gọi làm chứng về t́nh yêu nhân hậu của Thiên Chúa mà họ đang được hưởng nhờ.
(www.kinhthanhvn.org)