CHƯƠNG V.

Tôn Giáo cùng với Con Người

 

Thế giới ngày nay có rất nhiều tôn giáo, diễn tả tâm hồn con người hướng về một thực tại linh diệu, tấm ḷng ấy làm con người trở nên đẹp hơn. Bởi tấm ḷng ấy nên tôn giáo trở nên rực rỡ, nếu tôn giáo không dung nạp những tấm ḷng ấy, tôn giáo trở thành phương tiện u ám của sự xấu xa, rất khó liên thông với Trời, v́ thế tôn giáo ấy trở nên lầm lạc, làm băng hoại con người, theo thời gian tự tàn hoại.  

Tôn giáo là một cảm thức của con người hướng ḷng ḿnh về một thực tại siêu việt, nếu họ được tiếp cận từ nơi chính đời sống của họ, nếu họ được thực tại ấy nói qua hiện trạng văn hóa và vị trí mà họ đang sống, tôn giáo ấy trở thành hoa quả của đời sống con người.

Nhiều tôn giáo giúp con người phương tiện để đạt đến t́nh trạng giải thoát. Tôn giáo nếu là bất chính thường theo thời gian tự tàn hoại, nếu không suy tàn là do đáp ứng được nhu cầu tâm linh của nhân loại, hay nó đồng ứng với Thực Tại Tối Hậu([1]).

Tŕnh thuật về một thực tại vĩ đại là CHÂN LƯ lẽ tất nhiên có rất nhiều góc cạnh khác xa nhau do sự cảm biết của con người qua nhiều thời đại, văn hóa và đời sống. Nếu tŕnh thuật về chân lư mà chỉ có một lối viết duy nhất th́ thật là nghèo nàn, e rằng đó không phải là chân lư.

Như viên kim cương nhiều mặt([2]), phản chiếu rất nhiều màu sắc, nhưng đều là chính nó. Nhiều cách nói của các tôn giáo, nghe th́ thấy khác, nhưng đôi lúc lại rất đồng. Nếu cùng ngồi lại để lắng nghe nhau nói và tŕnh bày, đôi lúc chúng ta sẽ gặp nhau và nhận ra rằng đường đi chỉ có một mà nhiều phương tiện đă bước qua. Cũng con đường ấy ngày trước th́ đi bộ, rồi xe ngựa, rồi xe đạp, rồi xe máy, sau lại là xe hơi, và ngày nay có thể là máy bay. Cần chi phân biệt phương tiện, quan trọng là đang đi về đâu và để làm ǵ?

Khi con người c̣n nhỏ, nên có một tôn giáo giúp khai mở chiều sâu của tâm linh trong bản thể, nên giới luật ràng buộc, h́nh lễ cưởng bức là rất cần thiết. Như cây khi c̣n non yếu, phải có sự chống đở để gió bảo không làm hư hoại, nhưng khi cây đă lớn th́ Phải Tháo Bỏ Sự Chống Đở ấy th́ cây mới phát triển được.

Tôn giáo ban đầu là sự đở nâng rất quan trọng và cần thiết, thậm chí Không Có Không Được. Ngay từ nhỏ con người được nuôi dưỡng trong một gia đ́nh có tôn giáo chân thật đạo đức thánh thiện, đó là ân phúc cho người ấy, đường đi phát triển tâm linh đă hé lộ nhờ trong gia đ́nh đạo hạnh. Rất nhiều người ở trong tôn giáo, hoặc truyền thống đạo đức của tổ tiên, khi vào đời do có ḷng tham hay mê muội, họ vi phạm những lỗi lầm có thể đặc biệt nghiêm trọng, nhưng do đối chiếu với truyền thống đạo đức gia đ́nh, nên họ dừng tay và sám hối ăn năn. C̣n những người không có tôn giáo, hoặc truyền thống đạo đức ngay từ nhỏ, dẫu biết ḿnh đă phạm những tội tày đ́nh, nhưng do không có kư ức thánh thiện của truyền thống ấy, nên dù có ăn năn họ cũng gặp bội phần khó khăn cho đường trở lại. Nói cho cùng tôn giáo chính là con đường đưa dẫn con người khi c̣n thơ dại, giúp nắm lấy sự thăng tiến tâm linh về sau cuộc đời, rất quan trọng và vô cùng cần thiết.

Một cô giáo dạy cho ba anh em cùng ở một nhà, có cùng một người cha. Một hôm trong giờ làm luận văn, cô giáo ra đề bài tập: các em hăy viết về cha ḿnh. Sau khi làm bài xong nộp cho cô giáo, ba bài văn viết về người cha ấy hoàn toàn khác nhau, có những nét đồng và nhiều nét dị biệt thậm chí đối lập. Tất cả những diễn tả ấy đều là sự thật, cả ba em đều thương và kính trọng cha ḿnh. Tôn giáo nói về Thượng đế, như con người nói về t́nh yêu, với rất nhiều ngôn ngữ khác xa nhau, nhưng đều chỉ nói về một thực tại là t́nh yêu.

Khi một học tṛ đi học vẽ, thầy sẽ dạy lư thuyết, cách pha mực, cách phối màu, kỹ thuật bố cục, các cầm cọ vẽ… và tập vẽ. Vậy nhiệm vụ của ông thầy xong phần lư thuyết, sau đó ông hướng dẫn tập vẽ. Nếu học tṛ siêng năng học hỏi t́m ṭi say mê th́ đường vẽ mỗi ngày mỗi tiến bộ, c̣n lười biếng ỷ lại thầy th́ không c̣n cơ hội trở thành họa sĩ tài ba, ông thầy giỏi biết khơi gợi cho học tṛ tự do phát triển kỹ năng hội họa.

Tôn giáo khởi đầu giúp con người t́m kiếm tâm linh ([3]), và cần trao ban cho con người tự do nhận biết sự linh diệu của tâm linh. Cũng như ông thầy dạy vẽ, nếu cứ bắt học tṛ vẽ lại cái ông vẽ, th́ cao lắm bằng ông là cùng. Đó chỉ là phạm vi một bức tranh. Tâm linh con người vô cùng linh diệu, sau khi được hướng dẫn, nó phải được hoàn toàn tự do ứng hiện với Thực Tại Tối Hậu, với Cơ Duyên Mỗi Người Sẵn Có, với chính sứ mạng mà con người hiện diện vào đời, đừng nên bắt nó phải theo một khuôn mẫu truyền thống lâu đời nào đó.

Nhưng con người cũng phải ở trong một cộng đoàn hay đoàn thể, để cùng nâng đở nhau, hỗ trợ tiến bộ thăng tiến, thường tưới tẫm kinh sách hoặc kinh nghiệm, soi xét lỗi lầm giúp sửa đổi, kinh nguyện… sưởi ấm sức lực trên đường phát triển tâm linh. Như thế vừa ở trong, nhưng nhớ là cũng ở ngoài. Như con diều và sợi dây: vừa cột và thả, nhờ vậy mới bay được. Cột mà không thả th́ không bay, thả mà không cột diều sẽ rơi xuống.  

Xin đừng cho rằng ḿnh, hoặc tôn giáo ḿnh, là tổ chức duy nhất đi đúng hướng, khác với ḿnh là sai. “Vạn pháp tùy duyên, tùy duyên hóa độ”, nhân loại rất nhiều căn bệnh, không thể ai cũng cho uống một loại thuốc, tùy bệnh dụng phương, tùy phương dụng dược.  Quan trọng là đến đích, bằng cách nào thực ra không quan trọng. “Thầy c̣n nhiều điều để nói với anh em”, đừng cho Thiên Chúa chỉ có một đường cứu nhân loại, nếu chỉ một đường th́ nghèo nàn quá, sao có thể xứng đáng với t́nh yêu vô biên của Người.  

Nếu không làm như thế, con người tự ḿnh sẽ giết chết sự linh diệu của con người, giết chết sự linh diệu của tâm linh, giết chết cái căn bản mà Trời Đất muốn ban tặng cho con người. Quư nhất là tự do, chỉ có tâm linh con người mới thực có bản thể tự do, tâm linh là cái không bị hư hoại. Thân xác không thể hoàn toàn được tự do, v́ thân xác kẹt trong quy luật sinh tử.  Vốn con người không là ǵ khác nhưng thật là TRỜI,  đang biến hiện nơi trần thế trên đường về nhà, tôn giáo có nhiệm vụ đưa con người về nhà, nếu tâm linh con người được dẫn không thật tự do, th́ tôn giáo ấy đă đưa con người đi lạc đường.

Nhưng khi con người đă trưởng thành, th́ các bậc có công phu tu tập thật làm vai tṛ d́u dắt, giúp con người có thể nghĩ suy và chứng thực, chịu trách nhiệm cuộc đời ḿnh, con người tự thu thập và tự chứng ngộ, kể cả lănh vực tâm linh. Có như thế điều họ thấy là tự ḿnh chứng thực, và v́ tự chứng ấy đă biến họ trở thành hành động mà không bị cưởng bức, cho dù chỉ là cưởng bức tự nguyện. Nhờ sự tự do nầy minh chứng phẩm giá của con người cũng như điều họ hành động, băng qua những điều ấy họ chạm trán với ThựcGiả. Nhờ như thế tâm linh thực dần dần phát triển đích thực, mà không bị áp đặt bởi một phạm trù khác.

Khi con người đă trưởng thành, có thể độc lập suy tư và cảm nhận chiều sâu của tâm thức, th́ nên để họ chạm trán với THỰC TẠI TÂM LINH với nhiều chiều kích, đôi lúc đối lập và mâu thuẩn với những điều đă được học hỏi khi c̣n bé thơ. Chính tại nơi nầy làm bật dậy một làn sóng mạnh mẻ để con người khám phá và tự thân chứng nghiệm các điều cần theo và cần loại bỏ. Có như thế đời sống tôn giáo của họ chính là đời sống Tâm Linh Tự Sáng, mà không là đời sống đi lẽo đẽo theo người khác mà chính ḿnh lại không thấy Thực Tại Vi Diệu Vĩnh Hằng.

Họ không c̣n bị ràng buộc bởi LUẬT và LỄ, THƯỞNG và PHẠT.

Họ bước đi bằng một sự Chứng Nghiệm Tự Thân mà không cần người dắt như khi c̣n bé, nhưng rất cần bạn đồng hành nâng đở.  Điều nầy là khó nhưng rất cần thiết, v́ nhân loại ngày nay tiến bộ rất lớn về khả năng tiếp cận thông tin chính xác, nhưng bị ràng buộc giáo điều nên họ SỢ không dám bước, và thường nghĩ rằng người dẫn đang dẫn ḿnh đi đúng hướng. Với tự nghĩ như thế họ sẽ yên tâm, đường tiến thủ đă không c̣n cơ hội được khơi dậy, họ rập khuôn với đời sống kẻ khác, như người chép tranh, dù có đẹp cũng chỉ là tranh chép.

Đôi lúc kẻ dẫn đường lại đang là người KHÔNG BIẾT ĐƯỜNG ([4]), bạn hăy đi để có thể nhận ra rằng, điều nầy lắm lúc là sự thật?

Tôn giáo có thể nên là PHÁP HẠNH TÙY DUYÊN, xin đừng là ĐỊNH CHẾ RÀNG BUỘC ([5]). Như thuốc có nhiều loại cho nhiều bệnh, không phải ai cũng uống cùng một loại đều hết bệnh. Nhân loại tất nhiên phải cần nhiều tôn giáo để tùy căn duyên hướng dẫn tâm linh họ phát triển. Nhân loại cần nhiều tôn giáo chân thực, nên tôn giáo theo thời gian tự loại trừ thay đổi.

Mỗi con người được dẫn dắt bởi một ứng hiện định hướng tâm linh, có thể trong tôn giáo và cũng có thể ở ngoài tôn giáo, cũng không cứ rằng ở trong một tôn giáo là tâm linh phát triển. Có những người phát nguyện theo nghiên cứu sâu một tôn giáo, họ trở thành người tu, tu sĩ làm cho chiều sâu của tôn giáo mà họ theo trở nên rơ nét, để ứng xử chân thật với toàn thể sự kiện, dẫn đến không lầm lạc.

Đường chân chánh chính là đường không đi vào khổ đau. Tôn giáo nào dẫn con người vơi bớt khổ đau, được liên thông với Cơ Trời thường không bị mai một. Tôn giáo như là một phương tiện cần thiết nuôi dưỡng tâm linh con người, khi con người t́m kiếm tâm linh, th́ tôn giáo là một phương tiện quư giá để dẫn dắt họ lần bước, khi họ đă nhận ra th́ để họ phát triển theo nhiều chiều kích linh hoạt của tâm linh.

Khi họ đă nh́n thấy Bản Thể chân lư, th́ chính họ quay lại hổ trợ cho những người đang lần t́m một cách tự do, không nên cài ĐỊNH CHẾ RÀNG BUỘC cho mọi vấn đề. V́ Tâm Linh là một thực tại RỘNG, không thể dùng một kiến giải cho mọi thời đại, một tŕnh thuật áp đặt phải là KHÔNG KHÁC mới đúng, làm như thế TÂM LINH ĐĂ CHẾT. Cách làm nầy đôi lúc chính tôn giáo đă giết chết Thực Tại Tâm Linh.

Con người cần một khẳng định tập thể bởi một nhóm người có thành quả nhận biết nhờ chính công phu tu tập, một nhóm được giao sứ mạng tuyên xưng những điều mà họ cảm nhận đó thuộc về Chân Lư ([6]), nhóm người ấy được xây dựng từ nhiều tôn giáo tồn tại chính thống lâu ngày, sự tuyên xưng được soi rọi nhiều chiều, thường được công minh hơn là chỉ một tôn giáo. Một khẳng định tập thể ấy cũng không nên là định chế ràng buộc con người, nên chỉ là một Chân Lư được rao giảng tùy thuận. V́ giá trị con người ở nơi điều họ chọn lựa, mà không ở nơi điều họ bị cưỡng bức. Có như thế tâm linh con người mỗi ngày sẽ được thăng tiến, thuận với Cơ tiến hóa của Tự Nhiên.

Có lần tôi được hỏi: Anh có phải là người Công Giáo không? Tôi mỉm cười, tự hỏi là tại sao người nầy lại hỏi như vậy. Có thể anh muốn một câu trả lời sâu sắc hơn chăng?

Suy nghĩ một lúc, nh́n trong ánh mắt người ấy, tôi trả lời rằng: tôn giáo gồm có Trạng Thái và Danh Xưng. Trạng thái của đạo Công Giáo là Đạo T́nh Thương ([7]), c̣n danh xưng th́ thay đổi theo nhiều thời đại. Khi th́ đạo Giatô, khi th́ Catholique, khi gọi là Đạo Chúa, khi th́ gọi là Thiên Chúa giáo, đạo Công giáo… vậy nay tôi trả lời cho anh biết đạo tôi đang giữ là ĐẠO THƯƠNG ([8]), nếu anh có t́nh thương th́ anh với tôi cùng một Đạo.

 Nếu trả lời không – Câu trả lời nầy với người Công giáo là một trọng tội.

Nếu trả lời có, th́ anh sẽ hiểu về người Công giáo như điều anh đă biết,  mà không là chính đời sống mà người viết đang hiểu và tuân giữ.

“Trong các nền văn hóa của nhân loại, đều có hạt giống Tin Mừng” ([9]).

V́ thế khi đến với anh em, chúng ta nên nh́n thấy hạt giống Tin Mừng nơi họ trước khi nh́n thấy những vấn đề dị biệt. Ơn cứu độ của người Công giáo phải liên kết cùng với Đức Giêsu, v́ “người đă cứu chúng ta, không phải v́ chúng ta đă làm những công việc công chính, mà là v́ Ngài thương xót” ([10]) . Do vậy ơn cứu độ được thực hiện bằng đời sống cho ai thực hiện những điều ngài đă giảng dạy. Lẽ tất nhiên phải kết hợp với Giáo hội mà ngài đă thiết lập, nhưng cũng phải nên biết rằng, ơn Cứu Độ không phải chỉ có một con đường duy nhất. “Đạo ta ta cứ kính tin, mà đời đâu phải một ḿnh Đạo ta” ([11]). “Ta là đường và sự thật và là sự sống, ai theo ta sẽ được sống đời đời” ([12]) – Lời nầy đă xác tín con đường mà chúa Giêsu đă dẫn những ai theo ngài. Ai muốn theo Người th́ điều đầu tiên phải nuôi dưỡng là: “anh em hăy yêu thương nhau như thầy đă yêu thương anh em”.

Câu trả lời “Đạo tôi đang giữ là ĐẠO THƯƠNG”,  mở hướng đi với các tôn giáo anh em Việt Nam và trên thế giới rất dễ dàng và hợp lư, Tại sao không dùng nó để đưa h́nh bóng Đức Giêsu, giáo thuyết nhà Phật, Bổn Phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Cao Đài, Ḥa Hảo… đến cho nhiều người, mà lại bị lệ thuộc vào một danh xưng. Tất cả các tôn giáo có trên Việt Nam gần như tôn giáo nào cũng dạy con người yêu thương nhau, thế là chúng ta đang cùng đường, sao không lại gần nhau để vui chơi và hạnh phúc, để được thương nhau, nói với nhau t́nh thương trước khi nói những vấn đề khác biệt.

Những thuật ngữ thường dùng: Thực Tại Thường Hằng ([13]), Chân Tâm, Thực Tại Tối Hậu, Thiên Chúa, Phật Tánh, Đấng vô cùng, Tánh Phật, Thân Tâm, Bản Thể Chân Như, Tự Nhiên([14]) … đều nói đến Một Trạng Thái: Vô h́nh, linh thiêng, vượt lên trí hiểu của con người, thánh thiện, quyền năng, ảnh hưởng sâu sắc và toàn thể đối với con người, vô cùng siêu việt, trí tuệ, chân lư…

Có ông Phật, nhưng không có ông Phật Tánh, có Thiên Chúa nhưng không có ông Thiên Chúa. Nhiều người hiểu Phật tánh có nghĩa là Tánh Ông Phật, thật ra Phật tánh là trạng thái Phật, một thực tại linh diệu có nơi mỗi con người và con người đă cảm nhận được, sau khi Ngài Thích Ca Mâu Ni trải qua quá tŕnh tu tập công phu nhận biết tánh phật ấy, nghĩa là Tánh Phật đă có từ trước mà không phải ông Thích ca làm ra. Ngài đă thuyết giảng cho người đời: “chúng sanh giai đều Phật Tánh”- chúng sanh ai cũng có tánh Phật. Tương tự Đức Giêsu cũng nói: “anh em có cùng một Cha trên trời” – “Tâm hồn con người là đền thờ Thiên Chúa”.

Nếu quả thực các thuật ngữ trên đều đồng một trạng thái duy nhất, th́ quả thật là chúng ta đang cùng đi về một hướng, nhưng bằng rất nhiều cách.

Bí mật toàn bộ phương pháp Thanh Tịnh Tâm là PHƯƠNG TIỆN,  chỉ có một mục đích duy nhất, là làm cách nào để giúp cho con người vơi bớt khổ đau. Cách nào không quan trọng, lư thuyết nào không quan trọng, bằng cách nào con người nhận ra được hạnh phúc chân thật, đó là chân lư. Đức Giêsu thường nói cho môn đệ: “B́nh an cho các con” ([15]). B́nh an cũng có thể gọi là hạnh phúc vậy. B́nh an là cái có thật, không phải do thế gian giới ban tặng, mà phải vượt lên thế gian ngay khi c̣n đang ở trong thế gian.

 


 

[1] Từ sau Đại Công Đồng Vatican II, khoa Thần Học về các Tôn giáo đă phát triển và nh́n nhận những giá trị tiềm tàng trong những tôn giáo ngoài-Thiên Chúa Giáo, chẳng hạn như: Phật Giáo, Khổng Giáo, Lăo Giáo, Ấn Độ Giáo... Bản văn chính thức của Công Đồng có những đoạn như sau:

 

“Từ xưa đến nay, người ta nhận thấy nơi nhiều dân tộc khác nhau một cảm nghiệm về một quyền lực ẩn khuất bay lượn trên ḍng chuyển biến của sự vật và trên các biến cố của đời sống con người. Thật thế, nhiều khi, các dân tộc đă nh́n nhận thấy có Một Vị Chúa Tể, và một Vị Thượng Phụ nữa. Cảm nghiệm đó và sự nh́n nhận như thế đă in sâu vào tâm khảm các dân tộc một ư thức sâu xa về tôn giáo. Những tôn giáo cấu kết với một nền văn hóa cao đă phấn đấu để trả lời cho những vấn đề trên bằng những ư niệm khá tinh tế và bằng thứ ngôn ngữ khá điêu luyện, tiến bộ. Bởi vậy, trong Ấn-Độ Giáo, người ta chiêm niệm mầu nhiệm về thần linh, và biểu lộ ra bằng những thần thoại và nhờ sự sưu tầm về triết lư. Họ t́m giải thoát số phận chúng ta khỏi khổ năo lo âu, nhờ thực hành nếp sống khắc khổ hay ‘Thiền’, hoặc chạy đến nương náu nơi Thượng Đế với niềm yêu mến, cậy trông. Phật Giáo theo nhiều tông phái khác nhau, đều ư thức rằng thế giới vô thường, hay thay đổi này là một thiếu sót căn bản. Phật Giáo dạy con người, với một tinh thần tự tín và sùng mộ, có thể tiến tới một trạng thái hoàn toàn tự do, hoặc là tiến tới đỉnh cao giác ngộ, nhờ tự lực tự cường hoặc nhờ ơn trên giúp đỡ...”

 

Giáo Hội Công Giáo không bác bỏ những ǵ là chân thực, thánh thiện nơi những tôn giáo đó! Với ḷng tôn trọng chân thành, Giáo Hội nh́n thấy những cách thức hành động và nếp sống, những luật lệ và giáo thuyết, tuy có nhiều điểm khác biệt với những chủ trương mà Giáo Hội duy tŕ, nhưng cũng thường phản ánh lại Chân Lư chiếu soi cho hết mọi người. Thật vậy, Giáo Hội tuyên bố và phải công bố luôn măi Đấng Cứu Thế là “Đường, sự Thật và sự Sống” (Gioan 14:6), trong Ngài nhân loại t́m được sự sung măn của đời sống tôn giáo, và trong Ngài Thiên Chúa đă ḥa giải mọi sự nơi Ngài (2 Cor 5:18-19)

 

V́ thế, Giáo Hội khích lệ các con cái ḿnh: nh́n nhận, bảo tŕ, và cổ vơ cho những thiện ích tinh thần và luân lư, và những giá trị trong những xă hội và các nền văn hóa của các tin đồ thuộc các tôn giáo khác, Bằng Đối Thoại và Cộng Tác một cách khôn ngoan và thân t́nh với tín đồ của các tôn giáo ấy mà vẫn làm chứng tá của đức tin và đời sống của KiTô Giáo (Thiên Chúa Giáo)” (Trích Nostra Aetate, Tuyên ngôn về Liên Lạc của Giáo Hội với các Tôn Giáo ngoài Kitô Giáo, của Công Đồng Vatican II).

[2] Đầu tháng 11, 1999, trong chuyến công du mục vụ tại Ấn Độ, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đă công bố Tông Huấn: Giáo Hội tại Á Châu, trong đó có những điểm quan trọng được tóm lược như sau:

Giáo hội tỏ ḷng cung kính và ngưỡng mộ tất cả các truyền thống tinh thần này (các tôn giáo Á Châu) và muốn dấn thân trong cuộc đối thoại chân thành với các tín hữu các đạo giáo. Những giá trị tôn giáo mà các đạo giáo giảng dạy chờ đón sự viên măn trong Đức Giêsu Kitô...

Dân chúng A Châu hănh diện về truyền thống tôn giáo và văn hóa của ḿnh, như là: yêu thinh lặng, chiêm niệm, đơn sơ, ḥa hợp, có thể thoát thế, không bạo lực, tinh thần chăm làm việc, kỉ luật, sống phó thác, khao khát học biết và t́m kiếm triết lư cho cuộc sống. Người A Châu cũng rất mực tôn trọng sự sống, từ tâm với mọi sinh vật, sống gần thiên nhiên, hiếu thảo với cha mẹ, kính trọng người già và thờ kính Tổ Tiên, đặc biệt có ư thức phát triển cao độ về t́nh liên đới cộng đoàn. Đặc biệt, người A Châu coi gia đ́nh là cội nguồn của sức mạnh, gắn bó khăng khít t́nh nghĩa đồng bào cộng đồng liên đới. Họ thật có tinh thần độ lượng dung ḥa tín ngưỡng và sống chung ḥa b́nh... (2)

 

[3] Tâm linh là ǵ? Cái không thuộc phạm vi của ngũ quan và ư niệm. Luôn luôn tồn tại, xây dựng và biến đổi vũ trụ, ảnh hưởng mạnh mẻ và toàn bộ lên vũ trụ, không giới hạn bởi không gian và thời gian… Con người có thể cảm nhận thực tại ấy, khả năng cảm nhận đó gọi là Tâm Linh. Để nhận ra một thực tại Vĩ Đại, Phương tiện cảm nhận cũng phải Vĩ Đại th́ gọi là Tâm Linh.

[4] “Mù dẫn một bọn mù sa xuống hố” (Mt 15, 14; Lc 6, 39-42) .

[5] Chính đức Phật sau bốn mươi năm thuyếp pháp, ngài đă nói: “bốn mươi năm thuyết pháp mà như chưa nói lời nào”- có nghĩa ngài sợ con người chấp vào Lời của ngài nói mà khư khư ôm cứng th́ là pháp lạc. Nên pháp chỉ là chỉ đường, đi hay không là do con người. Đức Giêsu khi giảng dạy cho dân chúng, Ngài không hề viết lại, không hề viết cuốn sách nào cả. Hay ngài cũng sợ con người chấp vào Lời lạc mất Ư của thần linh. Từ miệng các Đấng giác ngộ c̣n muốn bỏ, phương chi là các tổ chức hướng dẫn gọi là tâm linh mà lại đ̣i mang tính ràng buộc? Hỏi có thực là cần thiết không?

[6] Giáo quyền chẳng hạn. Giáo quyền của tôn giáo nào chỉ mang giá trị cho tôn giáo ấy, không thể khẳng định thay cho các tôn giáo khác. Trừ phi các tôn giáo cùng ngồi lại và tuyên xưng một khẳng định tập thể, th́ khẳng định ấy mang tầm vóc rộng hơn.

[7] Chúa Giêsu nói: “Yêu thương th́ trọn lề luật” – “T́nh yêu trọng hơn của lễ” – “Thiên Chúa là t́nh yêu” – “ai ở trong t́nh yêu th́ thuộc về Thiên Chúa “

[8] “ai không chống chúng ta là ủng hộ chúng ta” – (Lc 9, 49-50; Mc 9, 38-40; Ga 17, 1-19) .

[9] Đây là lời của HY. Phạm Minh Mẫn trong ngày 09. 01. 2010 với anh chị em giảng viên giáo lư tân ṭng tại TTMV giáo phận. Với một tuần họp tại Roma nhiều vấn đề, nhưng ngài nói lời xác quyết nầy làm ngài cảm thấy rất hay và rung động tâm hồn.

[10] Thư thánh phaolo gởi cho Tito 3, 5

[11] Giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương

[12] Kinh thánh

[13] “Lúc đầu đă có ngôi Lời…” Ga 1, 1 – Chữ Ngôi lời xuất phát từ chữ Lôgôs được dùng đầu tiên bởi triết gia Heracolite có nghĩa là: Thức tại Vĩnh Hằng, ở khắp mọi nơi, nguyên lư Thần Linh, Siêu việt. Ngôi lời trong kinh thánh nói về chính Thiên Chúa.

[14] Rất nhiều người nh́n thấy vũ trụ vô cùng kỳ diệu, trật tự, đẹp, uy nghi, trí tuệ, không ǵ sánh nổi, linh thiêng, vượt lên suy tư của con người, không biết ai đă làm nên…. Khi vào một căn nhà, thấy cách bày trí sinh hoạt, con người có thể đoán biết người trong nhà nầy làm ǵ? Thuộc giới nào trong xă hội, có người sống hay không…cũng vậy khi nh́n trời đất vi diệu, con người có thể cảm nhận một uy lực vĩ đại đang h́nh thành và quản lư vũ trụ nầy. Họ không biết là ai, là ǵ? Họ đặt nhiều tên, mỗi nơi, mỗi nền văn hóa, mỗi thời đại con người đều đặt tên cho thực tại ấy, nên có rất nhiều tên mà chẳng có tên nào đúng, v́ vốn thực tại ấy không có tên. TỰ NHIÊN cũng là một tên của thực tại ấy.

[15] Ga 14, 27; Lc 24, 36; Lc 7, 50