THANH TỊNH TÂM
Thường Nhân
LUẬT TÌNH THƯƠNG
Luật tình thương là bản chất ứng hiện của bản thể trời đất, còn gọi là luật Ân Huệ. Trời thương người nhiều lúc không phải vì họ đáng được hưởng, mà do lòng thương của Trời. Con người lắm lúc không xứng đáng và không thể tiến bước về Thực Tại Tối Hậu, và chỉ còn trông nhờ vào sự Ân Huệ, vì cần thiết cho sự thật nầy, nhiều lúc lại được ứng hiện. Luật Tình Thương thường quan trọng hơn Luật Nhân Quả.
Thiên Chúa không chỉ là tình thương, nhưng chắc chắn rằng: nếu không có tình thương thì không phải là Thiên Chúa.
Thiên Chúa là đấng nằng nặc yêu thương ([1]), làm chi thì làm, yêu thương trước khi tính các chuyện khác. Vì thế chương trình Cứu Độ Nhân Loại được xuất phát từ ý niệm nầy. Đức Giêsu phải rơi lệ khi thấy dân chúng như « đàn chiên không có người chăn» - Dụ ngôn người con hoang đàn nói lên lòng yêu thương của người cha đối với con, tình yêu ấy đến độ quên hết sự bội tình bạc ác vô ơn của đứa con trai. – Dụ ngôn con chiên lạc, Thiên Chúa không hề bỏ rơi một ai bao giờ, ngài nỗ lực tìm mọi cách để tìm lại một người đã lạc mất – với người tội lỗi, với người bệnh tật, với người gian ác…ngài đều yêu thương một tình yêu nồng cháy và thứ tha. Cuối cùng bao nhiêu điều ấy con người vẫn chưa nhận ra tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại, Đức Giêsu chấp nhận sự chết nhục nhã trên thập tự để minh chứng những điều ngài nói là sự thật, lúc nầy con người chưa tin, nhưng ngài biết sẽ có ngày con người tỉnh giác và tin để được ơn cứu độ ([2]). Vì thế lịch sử ơn cứu độ có thể sửa lại là « Lịch sử Tình yêu». Nếu con người không ở trong tiến trình yêu thương, thì gần như chắc chắn con người ấy không ở trên con đường Cứu Độ.
Có câu chuyện như sau: một người nhận ra thế giới khổ đau và biến động, con người chìm ngập trong lo âu và sầu hận, sự bất công và bạo tàn càng lúc càng khốc liệt… nhìn lại mình, bao người đành thúc thủ và cam chịu.
Ngày kia vị Chân sư điều hành vạn vật ứng hiện với người ấy và dặn rằng: con, đêm ngày nghĩ suy, tìm kiếm trách nhiệm góp phần xây dựng sự an lành thế giới và con người, đó là sự lành.
Con cần có một loại vũ khí, vũ khí ấy là chìa khóa mở toan sức mạnh của trời đất, chỉ có sự linh diệu của trời đất mới làm trôi tuột sự ác đầy khắp nhân loại ngày nay.
Người ấy hỏi vũ khí đó là gì?
Vị Chân sư mĩm cười và dẫn người ấy đi vào bao la của vũ trụ, nhìn thấy nhiều cảnh giới lạ lùng và vi diệu, xưa nay dù có tưởng người ấy cũng không thể nghĩ ra được. Cuối cùng vị Chân sư dẫn đến một tòa nhà vĩ đại, ngài mở khóa và bước vào, hai người cùng đi. Một cảm giác an lành hạnh phúc xâm chiếm người ấy, khắp nơi đều mang lại hạnh phúc và bình an, cảnh trí được an bày xưa nay chưa từng thấy và ước vọng… rồi họ cùng ra. Vị Chân sư trao lại chìa khóa cho người ấy, khi nào con muốn cũng có thể đến và ở lại nơi nầy.
Ngày kia đường đời gian khổ, thất bại chua cay, vợ con chì chiết rên la, người ấy nhớ lại lời dặn của vị Chân Sư, vội tìm lại chiếc chìa khóa của lâu đài thưở trước và cầm trên tay, tìm đường trở lại. Nghĩ và hy vọng thôi từ nay đoạn cảnh trần không trở về nữa. Khi đến gần run run tra chìa khóa vào ổ, mở một hồi mà không mở được. Người ấy ngã quỵ trên đôi chân mềm yếu, bao hy vọng tan biến rồi sao? Người ấy tự hỏi: vì sao kỳ lạ vậy? mồ hôi tuôn dần đẫm ướt cả áo, gánh nặng đời thường tưởng hy vọng xóa mờ tan, nay như chừng càng thêm nặng trĩu.
Tần ngần và người ấy rơi vào một giấc ngũ say, trong mơ người ấy gặp lại vị Chân Sư thuở nào. Hai người mừng rỡ vì sự tương ngộ, giật mình người ấy hỏi:
Thưa ngài, vì sao con không thể mở được cửa, nơi mà ngài đã dẫn con vào trong?
Chân sư mĩm cười và nói, ta đến để giúp con mở cánh cửa nầy đây.
Rồi hai người cùng vào, họ quên cả ngày tháng hưởng niềm hạnh phúc vô biên.
Sau đó vị Chân sư mới dặn: Con có hiểu vì sao con không mở được không? Vẫn đúng là chìa khóa mà ta đang cầm trên tay, con phải biết đây là chìa khóa thần linh diệu, không phải chìa khóa thường, ai cầm Nó trên tay Nó đều biết tâm hồn và ý niệm người ấy đang nghĩ suy. Vì ý niệm và tâm hồn con không tương hợp, nên con không thể mở nó được.
Thưa, Tâm hồn và ý niệm như thế nào mới tương hợp với chìa khóa thần nầy?
Con phải có ý niệm tình thương và tâm hồn con chứa đựng tình thương. Khi ấy tay con cầm chìa khóa thì mới mở được. Con nghĩ mình con trốn chạy khổ đau mà không có con người cùng đi, con chỉ nghĩ lợi cho con còn kẻ khác thì không. Đây là vũ khí cực mạnh mở tất cả kho tàng của trời đất để xây dựng một thế giới hòa bình hạnh phúc. Tình thương phải chân chánh, thông hiểu chứ không phải tình thương của người đời thường suy diễn. Tình thương xuất từ tự tánh, không thương không được, tình thương luôn luôn mà không có ác niệm oán thù. Tình thương trở thành một trạng thái của ý niệm, dẫn dắt cả đời con là dấu chỉ của tình thương. Con phải thường tập và thường biết ý đang hiện, để sửa đổi thường luôn mới mong có ngày con đạt trạng thái ấy. Khi Giuda ôm đức Giêsu hôn Người, nụ hôn ấy làm dấu để cho con người giết Thầy mình, con cần soi xét thật kỷ coi mình thương thật hay giả. Giả và thật vô cùng khó phân biệt, con phải tỉnh thức mới biết được. Khi con cầm chìa khóa mà mở được, con sẽ bằng an và hạnh phúc, nơi đời con đầy ắp sự hoàn mãn, con biết rằng đời sống của con đã thuộc về Trời. Khi ấy nơi con không ai giàu có bằng, không vật gì sánh bằng, và không ai có thể ngăn bước chân con và những người theo con. Đó là vũ khí của Trời, con hãy cầm lấy sự linh diệu nầy, không có luật nào lớn hơn, không còn lực nào vĩ đại hơn, không có hình tướng cao quý hơn. Chìa khóa nầy mở tất cả cửa, tất cả kho tàng của trời đất linh diệu, chắc chắn con sẽ thành công. Con hãy cầm lấy Chìa Khóa Tình Thương, khi ý niệm con ở trong trạng thái tình thương, chính là lúc con đang ở trong ngôi nhà ấy, đừng bao giờ phí phạm một giây phút không Thương. Ta từ biệt con và chờ gặp con trong an bình thánh đức.
Có câu chuyện như sau: một người chủ thuê nhân công về làm vườn nho cho mình, ông thỏa thuận với người làm công mỗi ngày là một đồng, bắt đầu lúc tám giờ sang cho đến mười sáu giờ. Khi đến chín giờ ông ta thấy bên ngoài có một số người cũng không có việc làm, ông ta kêu họ vào làm vườn cho ông, bẳng đi một lúc ông ta còn thấy một ít người cũng không có việc, ông ta lại kêu họ vào làm việc. Đến hai giờ chiều, ông ra vườn nho cũng còn thấy nhiều người không có việc, ông ta lại kêu họ vào làm vườn nho cho ông. Chiều đến khi thanh toán tiền lương, ông chủ kêu người đến trể nhất và trả cho họ một đồng, tiếp theo là những người kế tiếp ông cũng trả như vậy. Sau cùng những người vào sớm nhất cũng được ông trả một đồng. Những người làm sớm phàn nàn ông trả tiền lương bất công, vì họ cho mình làm cả ngày nắng nôi cực khổ mà cũng bằng những người đến sau hết. Ông nghe họ lẩm bẩm nên kêu họ lại và nói rằng: tôi đã thỏa thuận tiền lương với các bạn rồi, sao các bạn không vừa lòng, họ nói ý họ cho ông nghe, ông trả lời: tôi đã làm đúng như thỏa thuận với các anh, còn những người nầy tôi không có quyền thương và giúp đỡ họ hay sao? Các anh hãy vui vẻ nhận tiền công như đã thỏa thuận. Tôi muốn tình thương chứ không muốn của lễ ([3]).
Lại còn một câu chuyện khác: một ông chủ nọ, đến kỳ thu gom nợ trong nhưng người còn nợ ông, ông coi sổ sách và biết còn một người đang nợ ông khá nhiều tiền bạc, ông gọi người ấy lại và yêu cầu trả nợ cho ông, nếu không ông sẽ cho quan bắt nhốt ngục. Người ấy van xin kể lể sự tình chân thật, xét thấy người nầy cần được thương và tha hết nợ, ông động lòng và tha hết nợ cho anh ta. Người nầy vui mừng tạ ơn và ra về, trên đường anh ta về thì anh ta lại gặp một người nợ anh ta một số tiền từ trước, anh ta nắm cổ áo người ấy và đòi cho bằng được số tiền còn thiếu, mặc cho người ấy van xin khóc lóc hết lời anh ta vẫn không đổi ý, cuối cùng anh ta kéo người ấy đến quan và quan bắt người ấy bỏ tù. Ông chủ nợ nghe biết sự việc, nổi giận đùng đùng đòi lôi anh ta ra hỏi tội: tại sao ta đã tha nợ cho ngươi mà ngươi không tha nợ cho anh em ngươi, khốn cho quân gian ác, người phải trả hết đồng cuối cùng thì mới xong hết tội. ([4])
Qua ba câu chuyện trên, luật tình thương đôi lúc còn quan trọng hơn cả luật nhân quả. Người thụ nhận tình thương phải đáp đền lại bằng tình thương với con người, cũng vô cùng chính xác và công bằng, cũng ứng hiện bởi Thực Tại Tối Hậu, và cũng giúp con người có thêm phương tiện giác ngộ. Biết được điều nầy con người nên hạnh phúc cho đường tìm kiếm Chân Tánh Thường Hằng hơn là sợ hãi.
Tình thương vượt lên trên mọi nghi lễ và của lễ. Tình thương có thể phá bỏ cả lề luật để thực hiện ([5]).
Thiên Chúa là tình yêu, không chỉ là nhân quả. Nếu căn cứ vào Nhân Quả con người gần như khó xứng đáng được thông hiệp vào Nước Trời, ơn giải cứu sẽ đến được rất ít người. Nhưng con người nhờ quy luật tình thương thì con đường giác ngộ còn có cơ may hy vọng nhiều hơn. Nên đời sống yêu thương còn quan trọng bậc nhất hơn cả việc lành, nhưng tình thương ấy phải là tình thương tương hợp với trời đất mà không là tình thương toan tính như người đời. ([6])
Sám hối là phương cách nhận tình thương dễ nhất ([7]), người khiêm tốn, ít bị kiến chấp, người hiền đức, người bé mọn trong xã hội, người bị khổ nạn trên thân, người nghèo, người quê mùa… thường dễ vào nước trời hơn người học cao hiểu rộng, giàu có, quyền cao, thần tượng… “cái nhìn của người đời, đôi lúc không phải cái nhìn của Trời”. Rất dễ bị lầm, coi chừng tưởng cao lại hóa thấp, tưởng rất gần hoặc đang ở trong, thấy nhiều người cúi lạy tưởng thánh đức… có thể nhiều lúc lại đang lạc đường ([8]) . Nguy hiểm quá!
« Nay thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương anh em » - « Cứ dấu nầy người ta sẽ nhận biết anh em là môn đệ thầy, là anh em hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương anh em ». ([9])
Từ xưa nay, rất nhiều sách viết về thiền định, rất nhiều phương pháp thiền định uyêm thâm, nhiều bậc thiền sư đạo sư giảng thiền. Nhưng người chứng đắc rất ít. Vì sao vậy? có phải Thiền định là một công việc gian lao khó khăn bậc nhất mà con người không thể làm được? Không phải, không đến nỗi như thế. Trầm ngâm nghiền ngẫm lâu ngày phát hiện hình như là, mọi sách mọi thầy giảng đều hay đều đúng mà còn thiếu một chữ, chữ đó là chữ gì mà quang trọng như vậy? Xin thưa là chữ THƯƠNG. Thiền là phải thương, không thương thiền không được, không tiến bộ gì hết. Cũng công phu, cũng ngồi luyện, cũng giới hạnh, cũng bí truyền bí mật… cao lắm thì thành Tây độc Đông tà trong truyện kiếm hiệp là cùng, không thể thành Tiên Thánh Phật Trời được. Bí mật của Thiền là vô cầu nhưng nó sẽ đồng hợp, trở nên một với Tiên Thánh Phật Trời. Thiền giả không thương thì nội bao công trình gian lao khổ cực có ra gì không?
Thanh tịnh tâm có thể gọi là THIỀN THƯƠNG.
Thương dẫn con người đến toàn bích.
Thường nhân
[1] “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Nếu anh em tuân giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình yêu của Thầy…Đây là điều răn của Thầy: Anh em hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến anh em….. điều Thầy truyền dạy cho anh em là hãy yêu mến nhau”. Ga 15, 9-15
[2] Thánh kinh
[3] Mt 20, 1-16; Mc 10, 31; Lc 13, 30
[4] Lc 7, 12; Mt 18, 23-35
[5] Mc 12, 28-34; Lc 10, 25-28; Ga 13, 34-35; Mt 22, 34-40
[6] Xem CUNG BẬC TÌNH TRỜI (Đằng sau phần phụ lục) .
[7] Dụ ngôn người Pharisieu và người thu thuế vào đền thờ cầu nguyện. (Lc 18, 9-17) .
[8] Lc 11, 37-53; Mt 23, 13
[9] Thánh kinh
|
Người con yêu dấu" đang Cùng Chúa Vào Đời Xin vui lòng liên lạc với |
|
||||||||


