KINH PHÁP BẢO ĐÀN
ĐÔN HOÀNG BẢN


Ḥa thượng THÍCH MĂN GIÁC dịch Việt

 

-ooOoo-

Lời đầu sách - LỤC TỔ HUỆ NĂNG

LÀ NGƯỜI VIỆT NAM

Sự thực lịch sử về việc h́nh thành Thiền tông được khai quật từ động Đôn Hoàng ở vùng sa mạc Tân Cương tại Trung Á

Nguyên bản Pháp Bảo Đàn kinh mà tôi dịch đây là bản mới t́m được từ động Đôn Hoàng, vùng sa mạc Tân Cương, miền Trung Á. Bản này đă được viết ra vào khoảng năm 830 và trễ nhất là năm 860 (theo giảo nghiệm lối viết chữ thảo ở thời đó, do một chuyên viên danh tiếng, giáo sư Akira Fujieda của Đại học Tokyo). Đây là bản Pháp Bảo Đàn xưa nhất của thế giới hiện nay. Trước đây, ở Việt Nam, tôi được biết ít nhất có ba bản dịch Việt của ba dịch giả (Ḥa thượng Thích Minh Trực, ông Đoàn Trung C̣n, và ông Tô Quế), nhưng cả ba bản dịch này được dựa theo bản chữ Hán Pháp Bảo Đàn kinh được viết vào thế kỷ thứ XIII (năm 1291), gọi bản Tông Bảo; bản này không khác lắm với bản Đức Dị được in vào năm 1290 tại Nam Hải (bản Đức Dị đă được du nhập vào Triều Tiên vào năm 1316 và tất cả bản Pháp Bảo Đàn kinh bằng tiếng Triều Tiên đều xuất phát từ bản Đức Dị). Bản Pháp Bảo Đàn kinh được thông dụng nhất hiện nay ở Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam chính là bản Tông Bảo được viết vào năm 1291 và được in trong Đại Tạng kinh ở đời Minh.

Ngoài những bản vừa kể, ít nhất chúng ta được biết có gần mười bản Pháp Bảo Đàn kinh khác nhau, ngoài bản xưa nhất t́m lại được ở động Đôn Hoàng, viết vào khoảng những năm 830-860 (chính là bản tôi dịch), những bản khác là bản Huệ Hân (năm 967), bản Thiều Hồi (năm 1013), bản Tồn Trung (năm 1116), bản Bắc Tống (năm 1153). Ngoài ra có hai bản đáng lưu ư và được coi đầy đủ nhất là hai bản ở Nhật Bản, bản Đại Thừa Tự (Daij̣ji) và bản Hưng Thánh Tự (Ḳsḥji); bản Đại Thừa Tự th́ dựa vào bản Tồn Trung, c̣n bản Hưng Thánh Tự th́ dựa vào bản Bắc Tống và bản Thiều Hồi. Tất cả những bản Pháp Bảo Đàn kinh khác nhau vừa kể trên đều xuất phát từ bản duy nhất c̣n t́m lại được: chính là bản Đôn Hoàng (830-860) mà tôi dịch ở đây. Bản Đôn Hoàng là bản ngắn gọn nhất và chỉ gồm có mười hai ngàn chữ, c̣n những bản khác (bản đời Nguyên và Minh) gồm khoảng hai mươi mốt ngàn chữ. Bản chữ Hán tôi dịch ở đây được dựa theo bản chữ Hán đă được san định kỹ lưỡng do công phu uyên bác của giáo sư Philip B.Yampolsky của Đại học Columbia (The Platform Sutra of the Six Patriarch, the Text of the Tun-Huang Manuscript with Translation, Introduction, and Notes by Philip B.Yampolsky, Columbia University Press, New York, 1967).

Trong phần mở đầu của quyển sách, giáo sư uyên bác Yampolsky đă cống hiến cho độc giả những dữ kiện lịch sử rơ rệt về sự thành h́nh của Thiền tông, căn cứ theo những tài liệu được khai quật từ động Đôn Hoàng; giáo sư đă chịu khó tham khảo hàng ngàn thiên khảo cứu Trung Hoa và Nhật Bản, cho độc giả nh́n thấy lại sự diễn biến của Thiền tông tại Trung Hoa từ những thế kỷ thứ VI, VII, VIII và IX, giáo sư đă tham khảo tất cả những tài liệu dữ kiện liên hệ đến Thiền tông ở những thế kỷ ấy, mà ngay rất nhiều học giả Trung Hoa và Nhật Bản cũng ít biết đến. Bản dịch này được dựa theo bản chữ Hán do giáo sư Yampolsky san nhuận thấu đáo, nhưng tôi không hẳn hoàn toàn đồng ư với giáo sư ở nhiều điểm quan trọng, và khi dịch th́ tôi dựa hẳn theo nguyên tắc chữ Hán và không đồng ư với giáo sư trong vài ba chi tiết ở nguyên bản. Giáo sư đă tự ư sửa đổi nhiều và thường lấy tiêu chuẩn nơi bản Hưng Thánh Tự. Tôi th́ chỉ chú trọng giữ lại sắc thái độc đáo của nguyên bản động Đôn Hoàng, chỉ trừi ra có những điểm chép sai quá lộ liễu th́ tự ư sửa lại cho đúng văn pháp. Khi dịch, tôi cũng dịch trung thành theo những thành ngữ thông tục ở đời Đường, chẳng hạn thành ngữ "đệ nhất vật" (phân đoạn 13 của bản kinh) là một thành ngữ thông tục ở đời Đường có nghĩa là "không bao giờ trông bất cứ trường hợp nào" chứ không có nghĩa ngày nay là "vật thứ nhất", chẳng hạn thành ngữ "ưng thị" (phân đoạn 35 bản kinh) cũng là chữ thông tục đời Đường có nghĩa là "tất cả". C̣n chữ "đường" (phân đoạn 35), tôi không đồng ư với Yampolsky mà dịch là "Trung Quốc" (hiểu theo nghĩa đời Đường). Tôi hiểu "đường" ở đây có nghĩa là "hành lang", "con đường đi từ thềm ra cửa"; ư kiến này cũng đồng ư với giáo sư Nhật nổi tiếng về Thiền học Ui Hakuju, tác giả bộ Zenshu shi kenkyu, cuốn II, trang 148 (Tokyo, 1939-43).

Tôi tạm đưa ra vài thí dụ vừa rồi có tính cách kỹ thuật về phương diện khảo cứu ngôn ngữ học, nhưng có một điểm cần phải nhấn mạnh nơi đây, trong mọi trường hợp thảo luận và quyết định về những điểm dị đồng trong những bản khác nhau trong kinh điển Phật giáo, tiêu chuẩn quyết định vẫn là nội dung giáo lư căn bản; nói một cách khác, không thể chỉ thuần túy đứng về mặt khảo sát ngôn ngữ học mà có thể quyết định việc san nhuận kinh điển mà đồng thời phải lấy ánh sáng căn bản của giáo lư được thuyết minh trong chính kinh điển ấy để soi chiếu và giải minh những vấn đề dị biệt ở b́nh diện h́nh thức văn từ có tính cách lịch sử cục bộ giới hạn. Có nắm được giáo lư căn bản của ngài Huệ Năng th́ tất cả những vấn đề nan giải về sử học và ngôn ngữ học sẽ được giải quyết một cách nghiêm chỉnh. Nói một cách khác hơn nữa, phải nh́n con người và hành trạng của ngài Huệ Năng, phải nh́n bản Pháp Bảo Đàn kinh với cái nh́n của một thiền sư, một người đă được nuôi dưỡng trong truyền thống của Thiền tông, th́ mới thấy được những ǵ mà những người khác, dù là học giả uyên bác nhất, cũng không có đủ điều kiện tâm linh để nh́n thấy được.

Đó là lư do tại sao tôi cảm thấy cần thiết phải dịch lại nguyên bản xưa nhất của Pháp Bảo Đàn kinh và nhất là giới thiệu cho dân tộc Việt Nam một nền đạo lư chính thống đă nuôi dưỡng dân tộc ta suốt từ mười mấy thế kỷ nay. Không có ngài Huệ Năng th́ chẳng bao giờ có đời Lư và đời Trần, hai triều đại quyết định tất cả tinh túy hồn tính của Việt Nam. Chẳng những ở Việt Nam mà thôi, nếu không có ngài Huệ Năng th́ chẳng bao giờ có cái đạo Thiền, gọi là Thiền tông Trung Hoa và Triều Tiên, Zen của Nhật Bản và tất cả những ǵ người ta nói đến Thiền hiện nay ở Tây phương; Thiền đă ảnh hưởng thế nào đến học thuật văn hóa Tây phương ở thế kỷ XX th́ mọi người đều biết; Thiền đă tác động đến cả một nền văn chương Hoa Kỳ ở hạ bán thế kỷ XX này (không kể văn hào Henry Miller đă đi trước trong việc lănh hội Thiền từ những năm 1932-34, mà chỉ cần kể những tên tuổi nổi tiếng khắp thế giới của thế hệ văn, thi sĩ Hoa Kỳ như J.D.Salinger, William Burroughs, Jack Kerouac Allen Ginsberg và nhất là đại thi sĩ Gary Snyder, người mở đầu khai thị Thiền tông cho cả một thế hệ và nhiều thế hệ văn, thi sĩ Hoa Kỳ, vừa mới đây Gary Snyder có đến thăm Phật tử và gặp tôi tại chùa Việt Nam Los Angeles, nhân đến nói chuyện với giới trí thức Mỹ tại Đại học UCLA).

Thiền tông đă ảnh hưởng toàn bộ đến văn hóa, học thuật Tây phương ở thế kỷ XX, và người đă thực sự sáng tạo ra Thiền tông lại chính là Huệ Năng chứ không phải Bồ Đề Đạt Ma; ngài Bồ Đề Đạt Ma chỉ là được truyền thống Thiền chọn lựa đứng tên danh dự mà thôi để linh động hóa tinh thần tạ ơn đối với Aán Độ, quê hương tâm linh của Phật giáo nhân loại. Một người độc thân duy nhất đă thay đổi toàn triệt truyền thống Phật giáo Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bản, và ảnh hưởng toàn diện đến văn hóa học thuật Á Đông và hiện nay của cả thế giới, người ấy là Huệ Năng, và Huệ Năng là người Việt Nam mà chính toàn dân Việt Nam lại không hề biết đến, và ngay cả truyền thống Phật giáo Việt Nam lại bỏ quên ngài và coi ngài như bao nhiêu vị sư tổ Trung Hoa khác. Những nhà học giả Trung Hoa rất hănh diện về ngài Huệ Năng và cho rằng ít nhất ngài ngang hàng với Lăo Tử, Khổng Tử, Trang Tử và Mạnh Tử, chẳng hạn giáo sư John C.H.Wu, Viện trưởng Viện Đại học Văn hóa Trung Hoa ở Đài Loan, hănh diện quả quyết như vầy: "Huệ Năng nhất định là một trong những thiên tài cao lớn nhất, vĩ đại nhất mà đất Trung Hoa đă sinh sản ra. Huệ Năng đứng chung ngang hàng với Lăo Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử và Trang Tử". (Hui Neng is assuredly one of the superlative geniuses that China has ever produce. He belongs to the company of Lao Tseu, Confucius, Mencius and Chuang Tzu) (xin đọc John W.C.H.Wu, The Golden Age of Zen, trang 56. NXB United Publishing Center, Đài Loan, 1975).

Lần lượt sau đây, chúng ta sẽ thấy rằng Huệ Năng là người Việt Nam và điều này đă được chứng minh dứt khoát rơ ràng trong tất cả những bản khác nhau của Pháp Bảo Đàn kinh, dù cho những đời sau cố t́nh thêm bớt che giấu sự thật th́ tất cả những bản kinh khác đều c̣n giữ lại những câu quyết định nhất để nói lên sự thực lịch sử quyết định trầm trọng rằng ngài Lục Tổ Huệ Năng là người Việt Nam. Dù tất cả di bản, bia kư, tài liệu, văn thư, sách vở của Trung Hoa c̣n để lại đều để tạo ra cảm tưởng sai lầm rằng Huệ Năng là người Trung Hoa, nhưng chính đồng thời tất cả những tài liệu lịch sử c̣n giữ lại đó đă giúp đỡ đưa ta đi đến những kết luận nghịch hướng và không thể chối căi được rằng ngài Huệ Năng là một người Việt Nam. Đây là một khám phá lớn nhất cho cả dân tộc, và chúng ta có đặc ân khai thác và bảo tồn như viên ngọc quư nhất của dân tộc. Tôi xin khiêm tốn trao tặng viên ngọc quư này cho nền Quốc học Việt Nam.

 

LỤC TỔ HUỆ NĂNG

LÀ NGƯỜI VIỆT NAM

 

Trước khi đi đến những dữ kiện, tài liệu lịch sử để chứng minh Huệ Năng là người Việt Nam, tôi xin cụ thể gợi lại đây cho ta thấy "bản lai diện mục" của ngài Huệ Năng qua cái nh́n của tôi từ những dữ kiện rơ ràng có thể thấy được, dưới một luồng ánh sáng khác chiếu rọi trên con đường cô độc của một đạo sĩ Việt Nam cách đây trên 13 thế kỷ. Điều sai lầm lớn nhất là mỗi khi ta nhắc đến ngài Huệ Năng th́ lập tức chúng ta h́nh dung rằng ngài có h́nh dáng một cụ Ḥa thượng già nua, mường tượng như những h́nh ảnh ta nh́n thấy trong sách vở Tàu; tất cả những h́nh ảnh của ngài và ngay cả h́nh ảnh chụp nhục thân của ngài đều là những h́nh ảnh do những đời sau nguỵ tạo. Chúng ta cần phải thành kính thờ lạy tất cả những h́nh ảnh về ngài do những thế hệ đă qua để lại, v́ tất cả những di ảnh ấy đều là những biểu tượng cần thiết hữu h́nh về ngài; chúng ta phải cần có những biểu tượng hữu h́nh để thờ lạy, v́ cơ cấu tâm thức của chúng ta cần phải nương tựa thành kính vào một h́nh tượng cụ thể để mới có khả năng vượt qua h́nh tượng, chứ không th́ dễ rơi vào chủ nghĩa hư vô. Nhu yếu vô h́nh và siêu h́nh của tâm hồn phải cần nương tựa vào một h́nh tượng nhất định để rồi siêu hóa và chuyển hóa tất cả những h́nh tượng. Chính ngay đương thời với ngài Huệ Năng, theo truyền thuyết, có đệ tử tạc tượng ngài, nhưng chính ngài Huệ Năng ngó tượng và mỉm cười: "Ngươi chỉ có tài nặn h́nh mà chẳng hiểu được tánh Phật". Dù đây chỉ là đoạn văn do người sau thêm vào Tông Bảo của Pháp Bảo Đàn kinh, nhưng vẫn nói lên được cụ thể cái tinh thần vô tướng của nguyên ngữ khí của Huệ Năng. (Bản Tông Bảo có điều vô lư là ghi rằng Phương Biên, người tạc tượng, đă gặp Bồ Đề Đạt Ma, đến trước Huệ Năng năm đời Tổ). Chúng ta thường h́nh dung nét mặt của ngài Huệ Năng là nét mặt hiền hậu của một cụ già, nhưng chúng ta đă quên rằng Huệ Năng đă từng rất trẻ, và chính tuổi trẻ của Huệ Năng quyết định hết tất cả sự nghiệp tâm linh vĩ đại của Huệ Năng, v́ tất cả những bản khác nhau của Pháp Bảo Đàn kinh đều giống nhau ở chỗ nói lên tuổi trẻ của Huệ Năng, khi ngài đến gặp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Ba điều cần nhấn mạnh về tuổi trẻ của ngài Huệ Năng:

- Thứ nhất: Huệ Năng đă đắc đạo vừa lúc mới nghe người lạ tụng kinh Kim Cang trước khi ngài đến gặp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn;

- Thứ hai: Huệ Năng là một thanh niên đầy tự tin, hănh diện về sự chứng ngộ tâm linh của ḿnh và không hề có một mặc cảm tự ti nào cả khi mới vừa gặp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Theo tiêu chuẩn lễ nghi, lễ phép ở tông môn th́ cách đối đáp của Huệ Năng (vừa mới gặp Ngũ Tổ lần đầu tiên) quả thực là rất "vô lễ".

Ngay ở Việt Nam ngày nay, cũng không thấy một thanh niên trẻ măng mới đến chùa xin đi tu mà dám cả gan đối đáp như vậy với một vị Ḥa thượng nổi tiếng (như Hoằng Nhẫn), huống chi đây là một thanh niên ngoại quốc ở vùng nhược tiểu "man rợ" mà dám đối đáp với Đại lăo Ḥa thượng đại cường quốc thống trị Trung Hoa thịnh Đường như vậy; Hoằng Nhẫn giả vờ hỏi một câu chê trách về nguồn gốc Việt Nam của Huệ Năng th́ Huệ Năng trả đũa ngay lập tức như một kẻ đă chứng ngộ rồi mới dám khẳng định rằng: "Con người tuy có Tàu có Việt, tuy thân mọi rợ này không giống với thân Ḥa thượng, nhưng Phật tánh trong Ḥa thượng và trong tôi chẳng có ǵ là sai biệt". (Chúng ta phải hiểu chữ "Bắc" trong kinh có nghĩa là "Trung Quốc" và "Nam" có nghĩa là Việt Nam; ngày xưa người Trung Hoa coi nước Việt Nam là thuộc địa miền Nam của họ);

- Thứ ba: Huệ Năng không được Hoằng Nhẫn dạy đạo ǵ cả và chỉ ở chùa với Ngũ Tổ có tám tháng mà thôi, và được Ngũ Tổ trao truyền y pháp và ngôi Lục Tổ, lúc Huệ Năng mới có được khoảng 22 tuổi và chỉ non khoảng 23 tuổi. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn chỉ giữ vai tṛ danh dự là ấn chứng cho Huệ Năng, v́ thế Ngũ Tổ mới lén lút kêu gọi Huệ Năng đêm khuya vào gặp riêng Ngũ Tổ để ngài trao y pháp và giảng cho một thời kinh Kim Cang gọi là lấy lệ thôi, rồi sau đó Ngũ Tổ âm thầm lén lút đưa tiễn Huệ Năng đến trạm Cửu Giang, và đuổi khéo Huệ Năng trở về rừng rú Việt Nam, không dám giữ lại đất Trung Hoa, v́ Ngũ Tổ đă làm một việc can đảm phi thường nhất đáng ngại: trao ngôi vị lớn nhất của Thiền tông (lúc đó chưa có tên là "Thiền tông" mà chỉ có tên là Đông Sơn pháp môn) cho một thanh niên "mọi rợ" mới chưa đầy 23 tuổi.

Có một điều không nên quên đó là lần đầu tiên và có thể là lần cuối cùng độc nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa mà ngôi vị Tổ sư của một tông pháp lớn nhất của Phật giáo lại được trao truyền cho một người ngoại quốc c̣n rất trẻ tuổi và chưa thọ giới xuất gia ǵ cả (Huệ Năng chỉ làm lễ thế phát xuất gia theo điệu h́nh thức lúc gần 40 tuổi, v́ "phương tiện thiện xảo", v́ từ bi để hoằng pháp và ǵn giữ ư nghĩa siêu việt của chữ "Tăng" trong Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), nhưng chi tiết này cũng do những bản đời sau của Pháp Bảo Đàn kinh thêm vào để cho "cụ túc" h́nh tướng cần thiết hóa độ). Chúng ta phải tán thán công đức siêu phàm của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn ở đây: Ḥa thượng đă nh́n nhận ra tất cả vĩ đại phi thường của một anh con nít, chưa đầy 23 tuổi, lại thuộc giống người "mọi rợ", chưa xuất gia; và Ḥa thượng khéo léo kín đáo trao truyền tất cả trách nhiệm tâm linh nặng nề nhất của đạo pháp, khéo léo khuyên Huệ Năng lui trở về Việt Nam và trốn tránh ở Việt Nam, chứ đừng ra mắt xuất hiện ở đất Trung Hoa nữa; Huệ Năng đă nghe lời dạy của Ngũ Tổ và đă mất dạng ở đất Trung Hoa trong ṿng mười sáu năm; ngài trở về ẩn náu ở vùng rừng núi Việt Nam và đến mười sáu năm sau mới xuất hiện giữa vùng biên cương hai nước để thuyết pháp.

Từ ba điều cần nhấn mạnh trên, bây giờ chúng ta thử h́nh dung người thanh niên Huệ Năng. Chúng ta thử h́nh dung cách đây trên 13 thế kỷ, lúc đó tại vùng miền Bắc nước Việt Nam, quanh quẩn đâu đó thuộc vùng thượng du Bắc Việt, có một đứa con nít Việt Nam ra đời khoảng năm 638, tại vùng đất gọi là Lĩnh Nam, tức là Việt Nam, lúc đó nước Việt Nam đă mất chủ quyền độc lập, gọi là thời Bắc thuộc lần thứ ba, vào thời nhà Đường (cuộc Bắc thuộc dă man này kéo dài từ năm 603 cho đến năm 939). Tất cả những ǵ huy hoàng nhất của Việt Nam trong giai đoạn ấy đều bị Trung Hoa đồng hóa sát nhập vào sở hữu của họ). Cũng xin mở dấu ngoặc ở đây: Phật giáo Việt Nam lúc ấy rất huy hoàng và có nhiều vị sư Việt Nam đă được triệu thỉnh về triều đ́nh Trung Hoa để dạy đạo Phật cho vua quan học; đó là chưa nói đến Trung tâm Phật giáo Đại thừa có từ trước đời Đường ít nhất ba, bốn thế kỷ là nước Vu Điền (Khotan) ở Trung Á đă sản xuất bao nhiêu đạo sĩ truyền giáo Đại thừa cho Trung Hoa, hầu hết tất cả những vị này đă mang kinh điển Phật giáo đến Trung Hoa từ thế kỷ thứ hai và mấy thế kỷ sau; hầu hết tất cả những vị truyền giáo vùng Trung Á này đều đi bằng đường biển đến Trung Hoa và bắt buộc phải ghé Việt Nam trước khi đổ bộ sang Trung Hoa (ngay cả Bồ Đề Đạt Ma, người vùng Trung Á, chứ không phải Ấn Độ, v́ không có sách Phật giáo Ấn Độ nào nói đến Bồ Đề Đạt Ma cả, ngay cả tài liệu Tây Tạng về Phật giáo Ấn Độ cũng không có nói đến Bồ Đề Đạt Ma), ngay đến Bồ Đề Đạt Ma, người vùng Trung Á, cũng phải đi đường biển và mất hết ba năm trời mới đến Trung Hoa, như thế trong thời gian ba năm đó, Bồ Đề Đạt Ma cũng phải lưu lại Việt Nam trước khi sang Trung Hoa. Việt Nam đă từng chịu ảnh hưởng mạnh về h́nh thức Phật giáo Trung Hoa, nhưng ngược lại Việt Nam đă ảnh hưởng lại Trung Hoa rất mănh liệt mà ít ai thấy được, và trường hợp Huệ Năng là một thí dụ điển h́nh.

Phật giáo Việt Nam đă ảnh hưởng mănh liệt đến Phật giáo nước ngoài, như một trường hợp điển h́nh khác ít ai biết: năm 735, Thiền sư Việt Nam tên là Phật Triệt đă đến Nhật Bản và dạy chữ Phạn cho những Tăng sĩ Nhật Bản, và đồng thời Tổ sư trao truyền nhạc Phật giáo cho nền vũ nhạc triều đ́nh Nhật Bản mà ngày nay người Nhật rất hănh diện đă giữ lại nền vũ nhạc tuyệt vời ấy và coi như "một trong những kỳ quan của thế giới" và chính người Nhật cũng công nhận rằng đó là nền vũ nhạc mà chính một người Việt Nam đă trao truyền cho họ vào thế kỷ thứ VIII đang khi đó ở Việt Nam chúng ta đă quên mất hết tất cả những ǵ gọi là tinh túy của dân tộc (*). Đây là một trường hợp đáng lưu ư cho những người quan tâm đến quốc học mà tôi sẽ đề cập trong dịp khác. Bây giờ xin đóng dấu ngoặc lại và trở về ngài Huệ Năng.

Chúng ta thử tưởng tượng h́nh dung một đứa con nít Việt Nam khi sinh ra đời th́ nước Việt Nam đă trở thành lănh thổ của nước Trung Hoa. Chúng ta chỉ biết đứa con nít ấy tên là Năng (chữ "Huệ" có thể do Ngũ Tổ đặt thêm cho Năng). Không ai biết rơ tung tích của đứa bé ấy, chỉ biết rơ rằng đứa bé ấy là người đất Lĩnh Nam (tức là Việt Nam). Ngay đến tên tuổi cha mẹ của Huệ Năng trong bản Đôn Hoàng và những bản sau của Pháp Bảo Đàn kinh đều do những thế hệ sau thêm vào (bản Đôn Hoàng Pháp Bảo Đàn kinh xuất hiện sau năm viên tịch của Huệ Năng ít nhất trên một thế kỷ sau). Khi đứa trẻ ấy lớn lên khoảng ngoài hai mươi tuổi, ở vùng gần biên giới Trung Hoa, nghèo khổ, phải đi bán củi nuôi sống, người nhỏ bé, ốm yếu, gầy đét, nhưng thông minh siêu phàm xuất chúng; t́nh cờ chỉ nghe một người tụng kinh Kim Cang mà giác ngộ; Huệ Năng biết nói tiếng Tàu, nhưng nói đại khái thôi và không rành lắm: dữ kiện lịch sử đă chứng minh rằng Huệ Năng nói không rành tiếng Tàu (đă được những hậu bản kinh Pháp Bảo Đàn ghi chép) dù Huệ năng có nói tiếng Tàu theo giọng Quảng Đông đi nữa th́ không có lư do ǵ mà Huệ Năng phải cần tự biện hộ (ngài đối đáp với Hoằng Nhẫn) lúc Ngũ Tổ đưa ngài đến trạm Cửu Giang để trở về Việt Nam, nhất là trong một lúc nghiêm trọng như sắp vĩnh biệt Ngũ Tổ. Chẳng hạn đọc lại bản Tông Bảo của Pháp Bảo Đàn kinh:

"Lúc vào canh ba, Huệ Năng lănh được y bát rồi th́ mới hỏi: "Năng này gốc gác là người Việt Nam, vốn chẳng biết đường đi vùng núi này, làm thế nào mà ra vàm sông?". Ngũ Tổ đáp, con chẳng cần đi, tự ta sẽ đưa con đi. Tổ đưa Huệ Năng thẳng tới trạm Cửu Giang. Rồi Tổ bảo Huệ Năng lên thuyền, ngài cầm mái chèo lấy, nhưng Huệ Năng nói: "Xin Ḥa thượng ngồi và hăy để đệ tử chèo lấy mới phải". Tổ nói: "Đáng lẽ ta độ cho người". Huệ Năng trả lời: "Khi mê th́ thầy độ cho, ngộ rồi th́ ḿnh độ lấy ḿnh. Chữ "độ" tuy có một mà chỗ dùng chẳng giống nhau. Huệ Năng này sinh ở chốn biên thùy xa xôi, thành ra tiếng nói không được đúng. Nhờ thầy truyền pháp rồi và nay đă đắc ngộ rồi th́ chỉ tự ḿnh mà độ lấy ḿnh thôi". Chúng ta thấy ǵ trong lời ghi chép trên? Hiển nhiên chữ Hán "độ" có nghĩa là "đưa" mà cũng có nghĩa là "cứu độ". Khi Huệ Năng trả lời: "Lúc mê th́ Tổ sư độ, ngộ rồi th́ tự độ lấy ḿnh. Huệ Năng này sanh tại xứ dă man và giọng nói không đúng, nhờ Tổ sư truyền pháp, nay đă được tỏ sáng th́ chỉ nên ḿnh tự độ lấy ḿnh". Đoạn này mới nghe qua tưởng dễ hiểu. Nếu chúng ta biết nh́n thấy qua bên trong sự việc th́ chúng ta sẽ thấy được mật ư của đoạn văn. Đây không phải lúc mà Huệ Năng có thể "chơi chữ" với Tổ sư, v́ đây là giây phút vô cùng nghiêm trọng và ngôn ngữ ở đây là ngôn ngữ bí mật giữa hai thiền sư; ngôn ngữ bí mật nằm giữa hai biên giới, biên giới Sống và Chết: một Tổ sư rút lui về sự Chết và một Tổ sư khác mới khai sinh. Huệ Năng đă hiểu mật ư của Ngũ Tổ và muốn nói với Ngũ Tổ rằng: "Thầy muốn đưa con về Việt Nam là để cứu thoát con để khỏi bị lâm nạn ở đất Tàu, v́ con nói tiếng Tàu không rành, là người mọi rợ, lại lên ngôi vị Tổ sư, nhưng thầy đưa con đi đây có nghĩa rằng thầy muốn cứu thoát con, dù con nói không rành tiếng Tàu, nhưng con cũng hiểu ư của thầy khi thầy muốn "đưa" con đi và đồng thời muốn "cứu thoát" con ("độ"), con đă hiểu ư thầy rồi th́ con phải tự cứu thoát lấy ḿnh và trở về Việt Nam". Tất cả mật ư trên chỉ muốn nói lên điều duy nhất: Huệ Năng hiểu lư do tại sao Ngũ Tổ đưa trả Huệ Năng về Việt Nam, v́ rất nguy hiểm cho tính mệnh của một người thanh niên trẻ tuổi, người "man rợ dă man" mà được trao truyền ngôi vị Tổ sư thống lănh tất cả Đông Sơn pháp môn, trường phái nổi tiếng nhất của Trung Hoa hồi đó. Chỉ có thể hiểu như vậy mới không thấy cái "lố bịch" của Huệ Năng khi tỏ vẻ "khôn vặt" chơi chữ với chữ "độ" trong một giây phút linh thiêng nhất, lúc giă biệt thầy. Sau đó, chàng thanh niên Huệ Năng phải mai danh ẩn tích ở rừng núi Việt Nam trong khoảng mười sáu năm trời, rồi mới dám xuất đầu lộ diện thuyết pháp ở vùng biên giới Trung - Việt.

Ngài Huệ Năng thuyết pháp trên ba mươi mấy năm trời chung quanh vùng Quảng Đông và vùng biên giới Trung - Việt, và cả nước Trung Hoa lúc ấy không ai biết đến tên tuổi ngài cả, lúc ấy Thần Tú được trọng đăi ở triều đ́nh Trung Hoa và được chính thức coi như Lục Tổ của Đông Sơn pháp môn (lúc đó chưa có phân biệt "Bắc Tú, Nam Năng" như ta thấy trong bản Đôn Hoàng và những hậu bản Pháp Bảo Đàn kinh). Danh tiếng, uy thế của Thần Tú và đệ tử Phổ Tịch lẫy lừng vang dội và được vua Trung Hoa coi như Quốc sư, đang khi ấy ngài Huệ Năng chỉ là một ông đạo sĩ "man rợ" tối tăm ở biên cương, chỉ có được một số môn đệ người Trung Hoa trung thành sùng bái, trong số đó có một người tên là Thần Hội; chính Thần Hội sau này đă khôi phục lại ngôi vị Tổ sư thứ sáu cho Huệ Năng và rao truyền đạo lư Đốn ngộ Bát nhă của Huệ Năng và đẩy lùi tất cả những trường phái Thiền tông khác đi vào bóng tối của lịch sử. Tất cả tư tưởng đạo lư của Thần Hội đều được rút ra trực tiếp từ Huệ Năng.

Vai tṛ quyết định của Thần Hội đối với lịch sử Phật giáo Thiền tông Trung Hoa và Nhật Bản chỉ mới được Hồ Thích khám phá ra từ những tài liệu đào ra được ở động Đôn Hoàng, lưu giữ ở Thư viện Quốc gia Paris. Tác phẩm của Thiền sư Thần Hội đă thất lạc từ lâu ở Trung Quốc và Nhật Bản, chỉ nhờ Hồ Thích khám phá ra ở thư loại Pelliot tại Paris mà lịch sử Phật giáo Thiền tông Trung Hoa đă được viết lại hết, chẳng những tài liệu của Hồ Thích thôi mà c̣n bao nhiêu tài liệu khác từ Đôn Hoàng đă giúpc ho các học giả Nhật và phương Tây thấy rằng sự thực lịch sử về sự thành h́nh của Thiền tông không giống như những tài liệu lịch sử Phật giáo Trung Hoa như chúng ta từng quen biết từ lâu.

Những ǵ chúng ta biết được về những Tổ sư Trung Hoa từ Bồ Đề Đạt Ma cho đến Huệ Năng đều do những truyền thuyết nguỵ tạo ở những thế hệ sau. Tất cả những sử gia Trung Hoa và ngoại quốc muốn viết ǵ về Huệ Năng đều lấy tài liệu chứng minh từ bộ Toàn Đường văn (Đài Bắc, 1961, 20 cuốn), nhưng theo giáo sư Yampolsky th́ bộ "Bộ sách Toàn Đường văn" được biên soạn vào năm 1814 và sử dụng tạp nhạp tất cả những tài liệu một cách bừa băi, và nhiều tài liệu đă được viết ra sau này và rất gần đây, thành ra không thể tin vào giá trị của những tài liệu ấy" (Yampolsky, op. cit., trang 31). Sau khi khảo xét rất kỹ lương xtất cả tài liệu liên quan đến Huệ Năng trong bộ Toàn Đường văn, Yampolsky phải đi đến kết luận rằng tất cả đều là ngụy tạo (op. cit., trang 59). Sau khi đă duyệt qua hàng ngàn tài liệu Trung Hoa và Nhật Bản, cùng những tài liệu khai quật ở Đôn Hoàng, Yampolsky đi đến kết luận rằng: "Chúng ta không có được những dữ kiện nào về Huệ Năng cả... (For Hui-Neng we have no facts..." op. cit., trang 60). "Chúng ta chỉ có thể kết luận rằng thực ra gần như không có ǵ để chúng ta có thể nói thực sự về Huệ Năng" ("We may only conclude that there is infacts, almost nothing that we can really say about him", op. cit., trang 69). Theo Yampolsky, chúng ta chỉ biết chắc có một điều là có một người tên là Huệ Năng, một thiền sư có đôi chút tiếng tăm đương thời và sống đâu đó ở vùng miền Nam Trung Hoa".

Theo Yampolsky, chỉ có hai tài liệu đáng tin cậy: thứ nhất là Lăng Già sư tử kư (khai quật ở Đôn Hoàng), và tài liệu này chỉ nhắc đến tên Huệ Năng như là một trong mười học tṛ của Hoằng Nhẫn, chỉ thế thôi và không có ghi chép sự kiện ǵ khác; tài liệu thứ hai là bia kư của thi hào Vương Duy vào khoảng năm 740. C̣n tất cả những tài liệu khác đều do những thời đại sau ngụy tạo. Trong bia kư của thi hào Vương Duy mà Yampolsky đă trích dịch ở trang 66-67 (op. cit.), chúng ta chỉ thấy Vương Duy ghi rằng: "Nơi quê quán của Thiền sư Huệ Năng không ai biết. Thiền sư sinh sống ở một thôn làng mọi rợ. Khi trẻ, học đạo với Hoằng Nhẫn, thiên tài của ngài được Ngũ Tổ ghi nhận và được trao truyền y pháp; Ngũ Tổ bảo ngài phải ĺa bỏ (tức là ĺa bỏ đất Trung Hoa), và trong mười sáu năm, ngài sống ẩn trốn với phường buôn bán dân ngu khu đen (tức là phường dân ngu khu đen ở Việt Nam). Từ hai dữ kiện lịch sử trên và dựa theo tất cả những bản khác nhau của Pháp Bảo Đàn kinh, và loại bỏ tất cả những ǵ có tính cách thần thoại hay truyền thuyết (và ngay cả bản Đôn Hoàng Pháp Bảo Đàn kinh chỉ được chép vào năm 830-860, gọi là do Pháp Hải ghi lại, chưa hẳn là nguyên bản của Pháp Bảo Đàn kinh mà những học giả Nhật cho rằng đă có một nguyên bản khác đă được viết vào khoảng năm 713-714 sau khi Huệ Năng viên tịch, bản này đă mất và chưa t́m lại được); dựa vào tất cả những dữ kiện kiểm chứng được, chúng ta chỉ có thể có những kết luận sau đây:

- Huệ Năng là người Việt Nam, sinh ở Lĩnh Nam;

- Lĩnh Nam là đất Việt Nam (ngày xưa Lưỡng Quảng: Quảng Đông và Quảng Tây cũng thuộc Việt Nam). Ngay đến Yampolsky cũng đă chú thích rất rơ: "Lĩnh Nam là những vùng ở Quảng Đông, Quảng Tây, và miền "Bắc Đông Dương Việt Nam" ("Ling-nan indicates the areas of Kwangtung, Kwangsi, and Northern Indochina", op. cit., trang 126). C̣n địa danhh "Nam Hải" ghi trong tất cả những bản Pháp Bảo Đàn kinh th́ theo Yampolsky đó là Phiên Ngung, tức là thuộc lănh thổ Việt Nam ngày xưa (xin đọc Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, trang 37: "Triệu Đà đánh được An Dương vương, sát nhập nước Âu Lạc vào quận Nam Hải, lập thành một nước gọi là Nam Việt, tự xưng làm vua, tức là Vũ vương, đóng đô ở Phiên Ngung").

Ngoài ra, c̣n một điểm đáng lưu ư mà Yampolsky đă nêu ra: Bài thuyết pháp quan trọng nhất của Huệ Năng là ở chùa Đại Phạm, nhưng theo Yampolsky th́, không ai có thể truy t́m cho ra chùa Đại Phạm ở đâu, chỉ biết chùa ấy c̣n có tên là chùa Báo Ân. Ngôi chùa quan trọng nhất, nơi xảy ra bài thuyết pháp quan trọng nhất của Huệ Năng và là nội dung quan trọng nhất của tất cả các bản Pháp Bảo Đàn kinh mà không có học giả nào truy ra được địa điểm đích xác, đang khi đó, một sự kiện lạ lùng, là chúng ta đă thấy cái tên chùa Báo Ân rất nhiều lần trong quyển Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, cuốn 1, trang 342 và 344; và điều lạ lùng nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam: trong Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi có hai tên khuyết lục vào thế hệ thứ năm và thế hệ thứ sáu, vào thế kỷ thứ VII và thế kỷ thứ VIII, đồng thời với Huệ Năng và Thần Hội (mà Thần Hội ở chùa Hà Trạch, Hà Trạch nào, phải chăng là Hà Trạch ở Lạc Dương hay Hà Trạch ở Việt Nam?), v́ trong Lĩnh Nam chích quái có ghi rằng: "Thiền sư Không Lộ kết làm đạo hữu với Giác Hải, lần đến chùa Hà Trạch nương thân..." (trang 90). Và riêng về tài liệu Phật giáo Việt Nam có một nghi vấn mà chưa ai trả lời được và c̣n ghi lại trong Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang (trang 224 và 98): có hai hệ phái Đại Điên và Bát Nhă không được chép vào lịch sử những thế hệ truyền thừa.

Chúng ta cũng nên nhớ rằng Huệ Năng và Thần Hội thuộc vào hệ phái Bát Nhă và chống lại hệ phái Lăng Già của Thần Tú và Phổ Tịch. Có một điều đáng nói hơn nữa, đang khi Huệ Năng đương thời không được người Trung Hoa biết đến, và măi sau đến sự xuất hiện hoằng pháp của Thần Hội (sau khi Huệ Năng đă chết lâu rồi) th́ ảnh hưởng của Huệ Năng lớn mạnh như vũ băo quét sạch tất cả tông phái khác ở đất Trung Hoa, đang khi ấy nước Trung Hoa không có một tổ đ́nh nào mang tên là Lục Tổ th́ trái lại tại Việt Nam đă có một tổ đ́nh rất lâu đời, mang tên là Tổ đ́nh Lục Tổ (xin đọc Nguyễn Lang, trang 218, trang 98, trang 101). Như trong Việt Nam Phật giáo sử luận th́ Tổ đ́nh Lục Tổ đă có tới trên 400 năm, tính kể từ cuối thế kỷ thứ XII, tức là Tổ đ́nh Huệ Năng đă có từ thế kỷ thứ VIII, thời đại của Huệ Năng (Huệ Năng viên tịch vào thập niên đầu thế kỷ VIII, tức khoảng năm 713) (Nguyễn Lang, op. cit., trang 101). Thiền sư Thần Hội, đệ tử của Huệ Năng chỉ xuất hiện ở những kinh đô Trung Hoa để vũ băo quét sạch tất cả những tông phái Thiền của Phổ Tịch (đệ tử Thần Tú) và lấy lại ngôi vị Lục Tổ cho Huệ Năng, bắt đầu từ năm 732, và Thần Hội đă chiến thắng vẻ vang rực rỡ và mất đi vào năm 758 hay 760, th́ đang lúc đó ở Việt Nam đă có một tổ đ́nh mang tên là Lục Tổ.

C̣n một điều nữa là quyển Nam Tông tự pháp đồ (ghi lại lịch sử truyền thừa của Phật giáo Việt Nam) đă bị mất, và chính mấy chữ "Nam Tông" đáng cho chúng ta lưu ư, v́ mấy chữ ấy chỉ xuất hiện với sự xuất hiện của Thần Hội vào khoảng từ năm 732 trở đi. C̣n một điểm lịch sử vô cùng quan trọng đáng cho chúng ta suy nghĩ: "Thiền sư Việt Nam La Quư An quyên góp tài sản và đúc một tượng Lục Tổ bằng vàng, chôn ở gần tam quan để khỏi bị trộm cắp, dặn rằng khi nào có bậc minh vương ra đời để giúp dân cứu nước th́ đào lên". Đây có ngụ ư chính trị ǵ đối với dân tộc Việt Nam lúc ấy, và nhất là một điểm khác sau đây: "Ngày Lư Công Uẩn được suy tôn hoàng đế trong cung th́ Thiền sư Vạn Hạnh đang ở chùa Lục Tổ (đọc Nguyễn Lang, op. cit., trang 243-24). Nơi đây chứa đựng những bí mật nào về lịch sử của dân tộc mà chúng ta không c̣n để ư tới? Nhất là phải cần nhớ rằng Huệ Năng là đại diện cho ư thức độc lập của Việt Nam chống lại Trung Hoa, chẳng những về phương diện đạo lư mà c̣n đại diện ư thức độc lập tự chủ chính trị của chính trị Việt Nam đối với Trung Hoa; chúng ta phải cần nhớ lại rằng Thần Hội đă bị triều đ́nh Trung Hoa bắt giam và lưu đày v́ bị kết án là "muốn âm mưu chính trị có hại cho chính quyền Trung Quốc". (cf. Yampolsky, op. cit., trang 36). Và chính Thần Hội đă tạo ra vai tṛ Bồ Đề Đạt Ma (truyền thừa y bát của Bồ Đề Đạt Ma cho đến Huệ Năng) và cũng chính Thần Hội lật đổ vai tṛ tối ư quan trọng của Thần Tú và Phổ Tịch (đệ tử Thần Tú) lúc bấy giờ và giành lại ngôi vị Lục Tổ cho Huệ Năng và đưa Thiền Việt Nam của Huệ Năng thống trị cả Phật giáo Trung Hoa. Đây không phải chỉ là sự chiến thắng về mặt ư thức đạo lư Việt Nam mà cũng là sự chiến thắng của tư tưởng Bát nhă đối với tư tưởng Lăng già (của phái Lăng Già tông, tức là tất cả trường phái Thiền Trung Quốc đương thời mà đại diện là Pháp Như, Thần Tú và Phổ Tịch). Tất cả bản kinh khác nhau của Pháp Bảo đàn kinh đều xác nhận hai điều quan trọng:

- Thứ nhất: Huệ Năng không biết đọc và không biết viết chữ Tàu;

- Thứ hai: Huệ Năng sinh trưởng tại Lĩnh Nam và hoằng pháp chung quanh vùng Nam Hải, tức là Phiên Ngung (thuộc lănh thổ Việt Nam thời đó).

Và điều quan trọng là tất cả các bản khác nhau của Pháp Bảo Đàn kinh đều c̣n giữ lại ít nhất hai lần, nếu không muốn nói là năm sáu lần những câu đại loại sau đây để chứng tỏ Huệ Năng không phải là người Hán tộc mà là người Việt Nam:

- Hoằng Nhẫn mắng Huệ Năng: "Mi là dân Lĩnh Nam, vốn là đồ mọi rợ, làm thế nào thành Phật được?" (phân đoạn 3, bản Đôn Hoàng).

- "Thực không ai ngờ nơi đất Lĩnh Nam lại được phúc có Phật sinh ra nơi ấy" (phân đoạn 37, bản Đôn Hoàng).

Mấy chữ "đồ mọi rợ" ở đây là dịch mấy chữ chửi thề ở đời đường "các lăo" mà Yampolsky đă chú thích như sau: "Ko-lao" (các lăo) là một tiếng mắng chửi, có nghĩa là dân dă man, gần như súc vật ở phương Nam nước Trung Hoa (tức là Việt Nam)" (op. cit., trang 127).

Chỉ nội mấy chữ "các lăo" trên cũng đủ để chứng minh Huệ Năng không phải người Trung Hoa mà là người Lĩnh Nam. Và riêng mấy chữ "Lĩnh Nam", chúng tôi xin trở lại Lĩnh Nam chích quái: theo giáo sư Lê Hữu Mục, dịch giả Lĩnh Nam chích quái th́ "Lĩnh Nam chích quái c̣n mang nhiều giá trị lịch sử, lịch sử vẻ vang của tổ tiên trong công cuộc xây dựng đất nước" (trang 28). Từ đó, chúng ta có thể kết luận rằng: Nếu nói Lĩnh Nam là của Trung Hoa th́ chúng ta phải bôi hết Lĩnh Nam chích quái và phải bôi hết "lịch sử vẻ vang của tổ tiên trong công cuộc xây dựng đất nước" (Lê Hữu Mục). Nếu có người Việt Nam nào lên tiếng nói rằng Huệ Năng người đất Lĩnh Nam là người Trung Hoa, th́ tôi phải kết luận rằng "người Việt Nam" ấy cho tới thế kỷ thứ XX vẫn chấp nhận "sự Bắc thuộc lần thứ ba" của Trung Hoa, v́ lúc đó vào thời Huệ Năng, chúng ta bị coi như lệ thuộc Trung Hoa. Mặt khác, nếu có người Trung Hoa nào muốn chứng minh Huệ Năng là người Trung Hoa th́ phải bôi mấy chữ "các lăo" "Lĩnh Nam" trong tất cả những bản Pháp Bảo Đàn kinh được chép ra liên tiếp trong mười ba thế kỷ.

Giữa những khó khăn lớn lao đang xảy đến cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại quê hương, giữa những ngày khó khăn trong thời gian phải đối diện và hóa giải những thử thách gay gắt dành cho Tổng hội Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ mà tôi là đại diện lănh đạo, mỗi khuya tôi đă thức dậy tụng kinh Lăng Nghiêm, sau đó, tôi đă kiên nhẫn âm thầm yên lặng trong ba tháng An cư kiết hạ ngồi dịch lại tiếng nói của ngài Huệ Năng, trả lại tiếng nói của ngài về đúng tiếng mẹ đẻ của ngài: tiếng Việt Nam, để cho tất cả chúng ta, những người Phật tử Việt Nam ở hải ngoại, trong t́nh cảnh sống tha phương trên đất khách, được nghe lại tiếng nói của hồn Dân tộc và Đạo pháp, tiếng nói của một thiên tài vĩ đại nhất Việt Nam và một trong những thiên tài tâm linh lớn nhất của nhân loại. Dù bất cứ chúng ta lưu lạc ở phương trời nào, mỗi khi chúng ta không quên được tiếng nói của quê hương, tiếng nói suối nguồn trong khiết của đạo lư, th́ "chính thân thể ḿnh là quê hương" như ngài Huệ Năng đă nói, và dù có ai đă đem vô minh đen tối đến cho quê hương và đạo pháp, nhưng chơn lư vẫn luôn luôn chiến thắng như ngài Huệ Năng đă nhắn lại với chúng ta: "Cũng như một ngọn đèn có thể trừ được một ngàn năm bóng tối th́ một ánh sáng của trí tuệ cũng có thể diệt được một vạn năm ngu si đen tối".

Los Angeles, ngày 1 tháng 9 năm 1985
Ḥa thượng THÍCH MĂN GIÁC

(*) Theo học giả Hajime Nakamura, vũ nhạc triều đ́nh Nhật Bản (tên Nhật là bungaku hoặc gagaku) đă được du nhập vào Nhật Bản cách đây 1.200 năm do một thiền sư Việt Nam tên là Phật Triệt. Đó thật là một trong những kỳ quan của nhân loại (one of wonders of the world). Người Nhật đă hănh diện chí lư về nghệ thuật này mà họ đă ǵn giữ được qua bao nhiêu thế kỷ (cf. Hajime Nakamura, Contribution of Eastern Thought and Buddhism to world culture, Vạn Hạnh Bulletin, Vol.V, Number 2, June, 1973, trang 157).

Theo học giả Nhật Kỵsḥ Hayashima th́ Thiền sư Phật Triệt đă dạy nhạc Việt Nam ở Học nhạc viện Hoàng gia Nhật, vũ nhạc tên là rinyù-hachiraku, và Thiền sư Phật Triệt dạy chữ Phạn cho Tăng sĩ Nhật (cf. Encyclopedia of Buddhism, Vol.III, 1972).