PHÁP BẢO ĐÀN KINH

 

THÍCH THANH TỪ

 

Phẩm thứ Hai : BÁT NHĂ

 

 

GIẢNG KINH

Trí Tuệ Bát-Nhă

Thích Thanh Từ

Trong bộ Pháp Bảo Đàn,phẩm Bát-nhă là phẩm rất quan trọng, tất cả chúng ta học, nếu thâm nhập được phẩm này, mới thấy rơ chủ trương, đường lối tu của Lục Tổ, nên ở đây quí vị nghe hiểu cho kỹ. Tại sao chúng tôi dám nói như thế? V́ Lục Tổ ngộ từ kinh Kim Cang,mà kinh Kim Cang tức là Bát-nhă; cái chủ yếu mà Ngài ngộ được, Ngài diễn đạt lại cho chúng ta biết khiến chúng ta thấy được tầm quan trọng của nó th́ sự tu hànhmới khỏi lầm lẫn.

          Ngàykhác, Vi sử quân thưa thỉnh, Tổ đăng ṭa bảo đại chúng: “Tất cả nên tịnh tâmniệm Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật-đa.” Lại bảo:

          NàyThiện tri thức, trí Bát-nhă Bồ-đề, người đời vốn tự có, chỉ nhân v́ tâm mê khôngthể tự ngộ, phải nhờ đến Đại thiện tri thức chỉ đường mới thấy được tánh. Phảibiết người ngu, người trí Phật tánh vốn không có khác, chỉ duyên mê ngộ khôngđồng nên có ngu có trí.

          Mở đầu Lục Tổ chỉ chochúng ta thấy rơ rằng, tất cả chúng ta ai cũng sẵn có Đại trí tuệ Bát-nhă. Sở dĩ người quên nó, mê tức là quên, do tâm quên không nhận được nên gọi đó là ngu;trái lại người tỉnh giác được Trí tuệ Bát-nhă th́ gọi là trí. V́ chúng ta mê nên phải nhờ Thiện tri thức chỉ dạy, nếu chúng ta nhân lời chỉ dạy của Thiệntri thức, nhận ra được Bản tánh ḿnh tức là từ ngu chuyển thành trí hay là từ mê đổi thành ngộ. Như vậy mê hay ngộ chỉ là do chúng ta biết sống với trí Bát-nhă hay là bỏ quên nó thôi, chớ không phải có người ngộ khác với người mê. V́ ai cũng sẵn có, nhưng người biết sống trở lại th́ gọi là ngộ, người quên đi th́ gọi là mê, mê ngộ không đồng, lỗi tại quên và nhớ, chớ không có ǵ lạ cả. Như vậy từ Trí tuệ Bát-nhă, chúng ta suy ra đến Phật cũng thế. Do chúng ta mê Tánh giác nêngọi là chúng sanh, đức Mâu Ni ngộ được Tánh giác nên gọi là Phật, thế nên làm chúng sanh hay làm Phật chẳng qua tại mê với ngộ thôi. Cũng thế, chúng ta thành trí, thành ngu cũng do nhớ, biết trở về với tánh Bát-nhă hay không biết đó thôi.V́ thế người học đạo không cần t́m những ǵ xa xôi, chỉ cần phải khai thác chỗ sâu thẳm nơi ḿnh sẵn có, khai thác được đó là giác, bỏ quên tức là mê, chớ đừng t́m cái ǵ ở bên ngoài. Đó là điểm chủ yếu Lục Tổ nêu lên, Ngài muốn chúng ta mỗi người nhận ra chớ đừng lầm lẫn t́m kiếm ở đâu khác. Tiếp đến Tổ dạy:

          Naytôi v́ nói pháp Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật, khiến cho các ông, mỗi người được trítuệ, nên chí tâm lắng nghe, tôi v́ các ông mà nói.

          NàyThiện tri thức, người đời trọn ngày miệng tụng Bát-nhă nhưng không biết Tự tánhBát-nhă ví như nói ăn mà không no, miệng chỉ nói Không, muôn kiếp chẳng đượcthấy tánh, trọn không có ích.

          Trước hết Ngài chỉ sự lầm lẫn của chúng ta. Ngài bảo có người trọn ngày cứ tụng Bát-nhă mà không biết Tự tánh Bát-nhă. Tự tánh Bát-nhă tức là tánh Bát-nhă sẵn nơi ḿnh. Hầu hết Phật tửchúng ta ít có người không thuộc kinh Bát-nhă. Ai cũng nói ngày nào tôi cũng tụng đôi ba biến Bát-nhă, nhưng nếu có ai hỏi Tự tánh Bát-nhă là ǵ th́ đều không biết! Như vậy là miệng chỉ tụng mà tâm không thấy, không đạt được, thế nênNgài mới nói: Ví như người nói ăn mà không no, nói tôi ăn bánh bao, tôi ăn bánhḿ v.v... cả trăm thứ bánh nhưng rốt cuộc bụng vẫn đói meo! Nói ăn chưa phải là ăn, ăn phải thực sự ăn, chỉ nói suông chưa đủ. Cũng thế, nếu chúng ta tu mà chỉ một bề đọc tụng, đó chỉ có giá trị bên ngoài, chớ chưa có giá trị thật ở trong,giá trị thật ở trong là giá trị chúng ta nhận được. Đức Phật v́ chúng ta chỉ cái chúng ta đă bỏ quên, nhân lời chỉ đó chúng ta nhận ra nó, đó là chúng ta biết tụng kinh để thấy tánh; trái lại chúng ta chỉ một bề đọc tụng cho hay, nhưng không nhận ra Phật muốn chỉ cái ǵ cho ḿnh, ví như người nói ăn mà bụng không no, thế nên Tổ mới bảo: “miệng chỉ nói không, muôn kiếp chẳng thấy tánh”, như vậy trọn không có lợi ích. Người trí khác hơn người mê ở điểm: Lục Tổ nghe người tụng một câu, chỉ mới nghe thôi mà đă thấy, c̣n chúng ta hiện nay đích thân tụng mà vẫn không thấy ǵ cả. Đó là điểm khác nhau. Như vậy chúng ta phải cố gắng lắng nghe lời dạy của Tổ, để biết tinh thần Tự tánh Bát-nhă ra sao, đó là cái chủ yếu mà Ngài cố dạy chúng ta trong phẩm này.

          NàyThiện tri thức, Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Đại TríTuệ Đến Bờ Kia, nó phải là hành nơi tâm, không phải tụng ở miệng.

          Đại Trí Tuệ Đến Bờ Kia hay có chỗ cũng dịch là Trí tuệ cứu kính viên măn, trí tuệ đó phải nơi tâm ḿnh phát ra, phải ngộ lấy, chớ không phải tụng suông ngoài miệng, nếu cứ cho tụng suông là đủ, là chúng ta không hiểu được trí tuệ này, v́ trí tuệ này là trí tuệ của ḿnh nên cần phải hành ở tâm chớ không phải tụng ở miệng.

          Miệng tụng mà tâm chẳng hành như huyễn như hóa, như sương, như điện. Miệng niệm tâmhành ắt tâm và miệng hợp nhau, Bản tánh là Phật, ĺa tánh không riêng cóPhật.

          Câu này nhiều người dễ hiểu lầm. Lục Tổ dạy: “miệng tụng mà tâm chẳng hành như huyễn, như hóa, như sương, như điện v.v...” ư Ngài như thế nào? Có phải tụng kinh Bát-nhă thấy các pháp như mộng, như huyễn, như sương v.v... phải không? Hay là nghĩa như thế nào? Đoạn này ư Ngài bảo: Chúng ta chỉ tụng suông ở miệng th́ việc đó chợt qua rồi mất cũng như huyễn, như hóa, như sương, như điện chớp chớ không có thật. Nếu chỉ tụng suông, khi tụng th́ c̣n nói Bát-nhă, dừng tụng th́ Bát-nhă mất, cũng như sương mù, điện chớp, chợt thấy rồi mất, không có thật. Thế nên chủ yếu Ngàikhuyên chúng ta miệng tụng tâm phải hành, như thế tâm miệng tương ưng, tâm và miệng hợp nhau tự nhiên chúng ta sẽ thấy được Phật tánh, chính Bản tánh ấy là Phật, ĺa Bản tánh ra không c̣n có Phật nào khác.

          Sao gọi là Ma-ha? Ma-ha là lớn, tâm lượng rộng lớn ví như hư không, không có bờ mé,cũng không có vuông tṛn lớn nhỏ, cũng không phải xanh vàng đỏ trắng, cũng khôngcó trên dưới dài ngắn, cũng không sân không hỉ, không phải không quấy, khôngthiện không ác, không có đầu đuôi, cơi nước chư Phật trọn đồng với hư không;diệu tánh của người đời vốn không, không có một pháp có thể được, Tự tánh chân không cũng lại như thế.

          Tôi giảng rơ lại một lần nữa, chữ Ma-ha nghĩa là lớn, v́ tâm lượng của chúng ta rộng lớn như hư không,tâm lượng đó gọi là tâm lượng Bát-nhă, rộng lớn không có bờ mé, không có cáctướng vuông tṛn dài ngắn xanh vàng... cho đến không có những tâm niệm phảiquấy, tốt xấu v.v… Tâm thể đó bao trùm tất cả cơi nước của chư Phật, giống như hư không; diệu tánh của người đời cũng vậy, vốn không một pháp có thể được, bởi không một pháp có thể được nên gọi là Tự tánh chân không. Như vậy quí vị hiểu chữ Chân Không tôi đặt cho Tu viện chưa? Chân không tức là cái thể thênh thang của Bát-nhă. Bát-nhă là trí tuệ, trí tuệ thênh thang không có bờ mé, không cógiới hạn, không có một vật ở trong, chỉ là cái trí tuệ rộng thênh thang, trí tuệ đó gọi là Chân không. Đó là chỗ mà Lục Tổ bảo là “Bản lai vô nhất vật” và do đó mà Ngài được vào cửa Thiền.

          Bản lai vô nhất vật là tinh thần của Chân không, không có một vật, v́ thể đó thênh thang. Ví dụ như trong nhà thiền này, hiện chúng ta gồm cả trăm người tụ họp nơi đây, khi măn giờgiảng rồi nhà thiền này như thế nào? Cả trăm người tụ hội th́ có tiếng ồn, khi tất cả ra khỏi nhà giảng th́ nhà giảng trống không. Trống không là không có người chớ không phải là không có nhà thiền, nhà thiền vẫn có, nhưng không có người, không có tiếng động lao xao nên nói nhà thiền trống. Cũng thế, hiện tâm chúng ta chứa đủ tham sân si nên thương buồn giận ghét v.v... luôn đầy ứ trongđó, do đó chưa bao giờ chúng ta thấy được cái thể rỗng lặng sáng suốt. Sở dĩ chúng ta tu là để loại những niệm tham sân si ra, khi chúng bị loại ra hết th́chỉ c̣n một cái trí sáng ngời, đó gọi là Chân không; cái không chân thật, không c̣n những niệm sanh diệt chứa trong đó. Vậy quí vị thử kiểm lại tâm ḿnh xemsao, nó là Chân không hay nó quá đầy đến độ muốn tràn ra nữa? V́ thế cả ngàychúng ta cứ mê muội theo những tướng sanh diệt, nó dẫn chúng ta chạy ngược chạy xuôi rồi buồn, thương, giận, ghét v.v... do đó mặt mày luôn thay đổi, không b́nh tĩnh, điềm đạm. Nay nếu tâm chúng ta loại hết những niệm đó th́ khi ấy tự nhiên là một Tâm thể rỗng rang, và Tâm thể rỗng rang này gọi là Trí tuệ Bát-nhă, có chỗ khác gọi là Chân tánh hay Tự tánh. Quí vị thấy đâu có ǵ lạ, chính cái đósẵn nơi ḿnh, chỉ v́ chúng ta không thấy được kho chứa mà chỉ thấy những hạt giống chứa trong kho, những hạt giống đó ra vào lăng xăng rồi chúng ta chạy theo chúng măi, nên quên mất cái kho sáng suốt rỗng rang của chính ḿnh. Khi nào tất cả quí vị không c̣n một niệm dấy lên, tôi xin hỏi quí vị lúc đó có tri, có giác hay không? Tai có nghe, mắt có thấy hay không? Tướng mạo của cái hay thấy hay nghe đó như thế nào? Quí vị thử diễn tả xem! Khi tất cả vọng tưởng lặng hết chỉ c̣n cái thấy cái nghe, nghĩa là cảm giác biết tất cả, nhưng không có một niệm nào, khi đó quí vị diễn tả thử xem cái thấy nghe đó tướng mạo ra sao. Nếu có tướng mạo th́ có giới hạn, không tướng mạo tức là vô hạn. Nói Đại là như thế, nó không có giới hạn, nó bao trùm tất cả, nhưng hiện nay nó bị khuôn, bị cột trong tứ đại này thành bị giới hạn; nếu một ngày nào chúng ta sống được với Thể tánh đó, rời khỏi thân này th́ nó trùm cả tam giới. Đây giải nghĩa chữ Đại là như thế.

          Rộng lớn thênh thang là khi nào không c̣n một niệm duyên theo cảnh, chỉ có cái hằng thấy hằng nghe, hay nói gọn hơn là chỉ một Tánh giác, đó mới là thênh thang, mới là rộng lớn. C̣n tất cả những niệm tưởng, dù là niệm tưởng hư không cũng có giới hạn. Chữ Đại là thoát ra ngoài tất cả những tướng trạng đối đăi, không c̣n đối đăi nữa th́ tướng mạo của Tâm thể này hay của Trí tuệ Bát-nhă là như thế. Nói thênh thang là để chúng ta thấy rơ nơi chúng ta có một cái rộng lớn thênh thang hằng tri hằng giác, mà chúng ta bỏquên, rồi bám vào những tướng buồn vui, giận ghét, theo h́nh sắc, theo âm thanh cho đó là ḿnh, nên chúng ta bị quyện ở trong ấy, như những cọng cỏ bị cuốn trong bánh xe đang quay vùn vụt không gỡ ra được, cứ như thế mà trôi lăn trong sanh tử, lên xuống không có ngày cùng. Nay chúng ta biết gỡ ra, không kẹt vào đó nữa, tự nhiên tâm hồn ḿnh thênh thang. Đó là chỗ mà chư Phật, chư Tổ cố t́nh muốn chỉ cho chúng ta. Sống được với cái đó rồi, mới thấy nó là cái chân thật.V́ thế quí vị mới thấy rơ chủ trương của đạo Phật dạy chúng ta tu là phải định.

          Định là ǵ? Tức là dừng các vọng tưởng lăng xăng, vui buồn giận ghét lao xao. Dừng được chúng rồi mới thấy Tâm thể thênh thang, mới đi đến chỗ giác ngộ. Tất cả phương pháp, không phương pháp nào ngoài định; định là định những vọng tưởng lăng xăng, mà lâu nay chúng ta cứ chấp nhận là ḿnh, nên nó mới dẫn chúng ta chạy vùn vụt không phút nào ngừng, cả đến giờ nghỉ cũng không nghỉ, chạy riết đến nóng đầu, đó là tại chúng ta đă lầm nhận nó là ḿnh! Như thế bao nhiêu phương pháp của Phật, Tổ dạy cốt để chúng ta dừng được vọng tưởng, dừng được rồi mới thấy Tâm thể thênh thang của chính ḿnh, Tâm thể thênh thang đó gọi là Ma-ha Bát-nhă. Như thế hàng ngàyquí vị tụng ba biến, bảy biến Bát-nhă mà những chữ đầu có vẻ chưa thấm. Nếu chúng ta thấm các chữ đó rồi th́ tụng Bát-nhă là để chúng ta sống, chớ không phải tụng suông. Đa số người hiện nay cứ tụng suông, tụng rồi tính biến để cộng sổ, kể công với Phật, mà không hiểu điểm quan trọng chính là phải sống trở lại trí tuệ của ḿnh. Chúng ta chỉ nhớ lời Phật dạy mà không biết trở lại cái Thể chân thật của chính ḿnh nên mới lầm lẫn. Nhân giảng Bát-nhă tôi mới nói cho quí vị biết ư nghĩa chữ Chân Không tên của Tu viện chúng tôi. Chính chỗ mà đức LụcTổ chỉ, chỗ không có một vật, vốn không một pháp có thể được, chỗ đó mới gọi làTự tánh chân không, tức là tánh của chính ḿnh, thật là rỗng rang không c̣n một cái ǵ trong đó.

          Này Thiện tri thức, chớ nghe tôi nói Không liền chấp không, thứ nhất là không nên chấp không, nếu để tâm không ngồi tĩnh tọa, đó tức là chấp kư không.

          Ngài dạy đừng có nghe Ngài nói không rồi chấp không, như chấp Chân không là không có ǵ cả, nếu cho thật không có ǵ cả là lầm. Không có tất cả những vọng tưởng lăng xăng, chớ cái rỗng rang chân thật đâu phải không, cũng như tôi đă thí dụ không có người lao xao trong nhà thiền, chớ không phải cái nhà là không. Nhiều khi chúng ta hiểu lầm nghe nói không là bám vào không, nói là không ngơ rồi nghĩ tu đến chỗ không ngơ đó làm chi. Thế nên chấp không là một bệnh, Lục Tổ mới bảo: “Thứ nhất là không nên chấp không, nếu để tâm không ngồi tĩnh tọa đó là chấp vô kư không.” Cóngười v́ nghe nói giữ tâm ḿnh cho đừng xao xuyến, đừng loạn động, cho nó không ngơ mới đúng, nên khi ngồi để tâm không ngơ, nghĩa là không cho nó có ǵ hết,như vậy đúng không? Đó là vô kư không, cái không mà không biết ǵ cả. Trái lại người biết tu, khi không có vọng niệm th́ cái Thể tri giác tràn đầy. Cũng như nghe tôi nói trong nhà thiền không có người, quí vị biết đây là nhà thiền trống.Nhà thiền trống chớ không phải không có nhà thiền. Tôi nói trong nhà thiền không có người th́ đừng chấp là không có nhà thiền, không là không người, chớ khôngphải là không có nhà thiền. Cũng thế không có những tâm loạn tưởng, chớ không phải không có trí Bát-nhă thênh thang. Hiểu như vậy th́ khi chúng ta lặng hết những vọng tưởng tức trí Bát-nhă thênh thang hiện tiền, hằng nghe, hằng thấy,như thế làm sao nói là không. Thế mà có nhiều người đọc kinh Pháp Bảo Đàn đến đoạn này th́ sợ, nói rằng: Thầy dạy con buông xả, đừng để tâm theo vọng tưởng,măi rồi nó im ĺm, nó không ngơ th́ lúc đó lạc vào chỗ chấp vô kư không của LụcTổ nói rồi! Đó là đa số người đă lầm lẫn. Thật ra chúng ta nói không và ngườikhông biết mà nói không, hai bên khác nhau. Người không biết khi nói không là để không ngơ luôn không biết chi cả; c̣n chúng ta nói không vọng tưởng, khi vọng tưởng lặng cái tri giác hay cái hằng tri hằng giác đó hằng nghe hằng thấy. Tôi thường chỉ quí vị tuy không có vọng tưởng, nhưng mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, tất cả giác quan đều có biết th́ làm sao nói không được. Không là không vọng tưởngchớ cái hằng giác đó đâu có không, như thế đâu có rơi vào “vô kư không” như LụcTổ nói. Hiểu thật rơ, quí vị mới không bị lầm. Thế nên người tu chỉ nhích một tí là sai, khéo một chút là đúng.

Tôi thường nhắc quí vị lời dạy của ngài Huyền Giác:

“tỉnh tỉnh lặng lặng phải” và “lặng lặng tỉnh tỉnh phải”, lặng lặng là không nhưng hằng tỉnh tỉnh, chớ không phải là không ngơ.

Trái lại “tỉnh tỉnh loạn tưởng sai” và “lặng lặng hôn trầm sai”.

Thế nên chúng ta phải thấy rơ lặng trong cái tỉnh, tỉnh trong cái lặng th́ phải. Nếu tỉnh mà loạn th́ sai, khi ngồi tỉnh táo mà nghĩ đủ chuyện th́ đó là bệnh. Nếu lặng lặng mà vẫn tỉnh vẫn sáng th́ đúng, nếu lặng lặng mà hôn trầm, gật lên gật xuống là sai. Quí vị nhớ đó là một công thức rơ ràng trong khi tu để biết thế nào là đúng, thế nào là sai. Có nhiều người ngồi gật lên gật xuống, nói: “hôm nay tôi ngồi không có chút vọng tưởng nào”, ngồi ngủ th́ làm sao có vọng tưởng. Có người nói: “tôi ngồi tỉnh táo” mà thật là nghĩ nhớ đủ chuyện, như thế cả hai đều sai.Phải tỉnh mà lặng, lặng mà tỉnh mới đúng, chớ lặng mà thiếu tỉnh, tỉnh mà thiếu lặng đều là sai. Quí vị phải nhớ lặng là không, tỉnh là hằng giác, như thế luônluôn cạnh cái không có cái giác chớ không phải là không ngơ, nên không lạc vào vô kư không. Những người không biết, ngồi để tâm không ngơ, đâu biết thế nào là tỉnh, thế nào là lặng nên rơi vào vô kư không, đó là do không biết được cái tỉnh trong cái không; trái lại chúng ta không mà tỉnh, chớ không phải chỉ có lặng, đó là yếu điểm của sự tu.

          NàyThiện tri thức, thế giới hư không hay bao hàm vạn vật sắc tượng, mặt trời, mặt trăng, sao, núi, sông, đất liền, suối khe, cỏ cây rừng rậm, người lành người dữ, pháp lành pháp dữ, thiên đường địa ngục, tất cả biển lớn, các núi Tu-di, thảy ởtrong hư không. Tánh không của người đời cũng lại như thế.

          Trong đoạn này, Ngài dùng hư không để ví dụ cho Tánh không của chúng ta, hư không bao trùm tất cả thế giới, người vật v.v... đều nằm trong hư không. Có thế giới nào không nằm trong hư không? Có vật nào không nằm trong hư không? Như vậy hư không bao trùm muôn tượng, muôn tượng đều nằm trong hư không. Lục Tổ bảo tâm tánh chúng ta khi rỗng lặng cũng như thế, rộng như hư không nên nói tâm như hư không.Như hư không chớ không phải hư không, nhớ như thế. Hư không vô tri c̣n chúng ta hằng giác,như là như cái thể rỗng rang rộng lớn đó, nhưng một bên vô tri, một bên hằng giác nên khác nhau. Nhiều người không hiểu nghe nói tâm như hư không, họ tưởng tu rồi tâm thành hư không, đó là sự lầm lẫn của một số học giả, họ cho Niết-bàn là chỗ không ngơ. Đă không ngơ th́ tu làm chi? Thế nên phải biết rơ tất cả sự tu hành chủ yếu là đến chỗ rỗng lặng đó, nó có diệu dụng ǵ chúng ta mới muốn đến đó, chớ thành không ngơ th́ đến làm chi?

          NàyThiện tri thức, Tự tánh hay bao hàm muôn pháp ấy là Đại. Muôn pháp ở trong Tự tánh của mọi người, nếu thấy tất cả người ác cùng với lành, trọn đều không chấpkhông bỏ, cũng không nhiễm trước, tâm cũng như hư không, gọi đó là Đại, nên nóilà Ma-ha.

          Đoạn trước Ngài diễn tả thể đại của tâm, của Bát-nhă,đoạn này Ngài chỉ chúng ta cách được thể đại đó, tức là Ngài dạy chúng ta tu.Trước hết Ngài bảo Tự tánh của chúng ta bao hàm muôn pháp, nó trùm tất cả. Tấtcả muôn pháp đều ở trong Tự tánh; muốn được tánh rỗng rang đó chúng ta phải làm sao. Phải thấy tất cả người ác, người lành đều không thủ, không xả, cũng không nhiễm trước, tâm như hư không, đó là Đại. Như thế là được cái tánh rỗng rang đó.Chúng ta được như thế không? Thấy người ác th́ giận, thấy người hiền th́ thương,b́nh thường mọi người đều như vậy. Thấy tốt th́ thích, thấy xấu th́ chê, v́ thế mới có nhiễm, có trước, nên tâm ḿnh luôn luôn chớ không thể không. Trái lại, nếu thấy tất cả việc đó mà không dính, không nhiễm, tâm rỗng rang như hư không là được tánh như hư không. Dễ hay khó? Quí vị chỉ cần thấy được tất cả mà tâm vẫn như hư không th́ tâm đó rỗng rang, c̣n nếu thấy mà có thêm điều ǵ như yêu ghét v.v... th́ nó hết rỗng rang, tức là nó cuốn theo h́nh ảnh ḿnh thấy. Đó là Tổ dạy chúng ta tu một cách hết sức đơn giản, như vậy lúc nào chúng ta cũng tu được, đi đâu, đối tiếp ai... nếu muốn được tâm thênh thang th́ phải như thế. Nếu kẹt vào bất cứ một cái nào là mất thênh thang, đó là chỗ ứng dụng tu rất rơ ràng. Nhiều khi đọc qua chúng ta không thấy Tổ dạy tu,nhưng khi nghiên cứu kỹ mới thấy Ngài dạy rất rơ. Vậy muốn được cái tánh rỗng rang đó th́, khi thấy tất cả người thiện ác, tốt xấu v.v... chúng ta đừng thủ,đừng xả, không nhiễm trước th́ lúc đó tâm ḿnh đồng với hư không, thể tâm đồng với hư không, thể đó là thể đại nên gọi là Ma-ha. Thể đại của tâm ḿnh, thể đại của Bát-nhă thênh thang như hư không, nó không tướng mạo, nó trùm hết muôn pháp.Muốn được cái thể đó th́ phải tu thế nào? Đối với tất cả việc tốt xấu, phải quấy của người, chúng ta đừng nhiễm, đừng dính mắc. Như thế là Đại,là Ma-ha. Mỗi khi tụng Ma-ha Bát-nhă th́ quí vị phải nhớ như vậy, chớ không phải cứ đọc suông là đủ.