PHÁP BẢO ĐÀN KINH
|
THÍCH THANH TỪ |
Phẩm thứ Hai : BÁT NHĂ
GIẢNG KINH
Niệm Ngu - Niệm TRí
Này Thiện tri thức, người mê miệng nói, người trí tâm hành.
Người mê chỉ nói suông ngoài miệng, c̣n người trí hành ở trong tâm. Người mê đi đâu cũng nói Bát-nhă,cũng tụng làu làu Bát-nhă ở ngoài miệng, c̣n người trí không nói một câu Bát-nhă nào nhưng gặp duyên, gặp cảnh th́ không chạy theo, như thế trong hai người,người nào tu thật? Một người gặp việc ǵ cũng nói đó là không, là hư dối, không thật, chỉ nói suông thôi, nhưng tâm vẫn duyên theo; c̣n một người hằng thấy, hằng biết, tâm không duyên với cảnh th́ đó gọi là hành trong tâm. Thế nên tụng ở ngoài miệng với hành trong tâm là hai việc khác nhau. Hiện nay, đa số người tu chúng ta thích tụng ngoài miệng hơn hành trong tâm. Kinh nào cũng thuộc làu...rồi lấy đó làm sự nghiệp! Tụng cho ḿnh, tụng luôn cả cho người, độ người cũng bằng tụng, như vậy cho là tu Bát-nhă! V́ thế chúng ta phải hiểu rơ chân tinh thần của đạo Phật là phải tỉnh giác, tỉnh giác cái chân thật của chính ḿnh.Nghe kinh để biết điều đúng sai, tà chánh, bỏ những cái sai, cái tà, trở về cái chánh, cái đúng, như thế mới là học đạo, chớ không phải chúng ta học thuộc ḷng để nói nhiều, tụng nhiều, căn bản là chúng ta phải hành ở trong tâm, thế mới gọi là người trí biết tu.
Lại có người mê, để tâm rỗng không ngồi tĩnh tọa, trăm việc không cho nghĩ tự gọi là đại, một bọn người này không nên cùng họ nói chuyện v́ là tà kiến.
Tổ quở nặng những người nói để tâm rỗng không, không cho nghĩ ǵ cả, đó gọi là đại, bọn người này không nên cùng họ nóichuyện, v́ sao? V́ họ rơi vào tà kiến. Tâm không ngơ là vô kư không. V́ những người này không biết vọng lặng th́ chân hiện, họ chỉ biết cái vọng thôi mà không biết cái chân, như vậy là tà, tức là nh́n lệch; chỉ để tâm không ngơ tức nhiên rơi vào không, mà rơi vào không, không phải tà kiến là ǵ? Chúng ta ngồi thiền trăm vật có nghĩ không? Có niệm ǵ không? Có hai lối niệm: cái niệm dấy lên từng câu, từng lời là cái niệm động, c̣n cái niệm hằng nhớ Tánh giác của ḿnh, biết ḿnh có Tánh giác, hằng sống với cái tỉnh giác đó th́ niệm đó là niệm tỉnh, nên gọi là niệm Chân như. Niệm là nhớ, hằng nhớ Tánh giác, không chạy theo vọngtưởng, như vậy đâu phải chúng ta không nghĩ. Tổ Qui Sơn có nói “tư lương phi tư lương xứ”, nghĩa là suy nghĩ chỗ không suy nghĩ, tức là hằng nhớ chỗ không suy nghĩ, chớ không phải là không ngơ. Như vậy mới hằng giác, chính đó gọi là “nhất niệm vạn niên”, là một niệm muôn năm. Bởi v́ nhớ là tỉnh, quên th́ mê, quí vị ngồi một lúc mà quên không biết ḿnh làm ǵ th́ khi đó muốn gục, hoặc bị dẫn đi chỗ khác. Thế nên ḿnh hằng tỉnh hằng giác, hằng nhớ ḿnh đang sống bằng Tánh giác, chớ không phải là không nhớ, không nghĩ. C̣n người nói ngồi không nghĩ ǵ hết th́ họ rơi vào không ngơ, như vậy không phải tà kiến là ǵ? Thế nên đoạn này không giản trạch khéo một chút, th́ người đọc kinh Pháp Bảo Đàn dễ lầm. Quívị thấy nói để tâm trống không là đúng th́ bị Tổ quở nặng, đám người đó không nên nói chuyện với họ, v́ đó là tà kiến. Chúng ta không nghĩ tới một vật ǵ ởngoài, nhưng hằng nhớ Chân như hằng nhớ Tánh giác, hằng nhớ nên mới tỉnh, chớc̣n quên th́ mê rồi. Hằng nhớ Tánh giác, nhớ mà không t́m, tỉnh giác mà không t́m nó, t́m nó là sai, chỗ này thật khó nói, nhưng phải hiểu thật rơ mới khônglầm. Nếu chúng ta cứ đè, không cho nó nghĩ ǵ cả, mà nói là Đại, nên bị Tổ quở là tà kiến.
NàyThiện tri thức, tâm lượng rộng lớn khắp giáp cả pháp giới, dụng tức rơ ràng,phân minh ứng dụng liền biết tất cả, tất cả tức một, một tức tất cả, đi lại tự do, Tâm thể không bị ngăn ngại tức là Bát-nhă.
Ngài chỉ cho chúng ta thấy tâm lượng rộng thênh thang đó nếu dụng tức liễu liễu thường tri, nếu dùng th́ hằng tri hằng giác chớ không phải không ngơ, rơ ràng ứng dụng chớ không phải là không biết, nghe vẫn hằng nghe, thấy vẫn hằng thấy, đó gọi là liễu liễu thường tri.Biết tất cả, tất cả tức một, một tức tất cả, Tâm thể đó thênh thang nên bao trùm tất cả. Như tôi nói tất cả núi sông, cây cối, muôn vật đều nằm trong hư không. Đứng về tất cả cây cối núi rừng v.v... th́ rất là nhiều,nhưng đứng về hư không th́ không nhiều. Hư không chỉ có một mà trùm tất cả muônvật, nên một là tất cả; tất cả cây cối núi rừng đều không ngoài hư không, nên tất cả là một. Cũng như vậy, muôn pháp không rời Tự tánh, th́ đó là tất cả là một, Tự tánh tức là tâm tánh ḿnh, tất cả không rời tâm tánh ḿnh nên nói tất cả là một. Tâm tánh ḿnh bao trùm tất cả, nên nói một là tất cả.Chúng ta nói hư không bao trùm vạn tượng, điều đó ai cũng hiểu, nhưng nói tâm ḿnh bao trùm muôn vật th́ ai hiểu nổi? Nói bao trùm, đừng hiểu nó bao trùm tất cả những hiện tượng. Muôn vật có tên là từ đâu mà ra? Muôn vật thành vật này vật vật kia... thành muôn vật là do tâm, như vậy tâm không trùm muôn vật là ǵ? Nếu không có tâm th́ muôn vật có tên muôn vật hay không? Nếu không có tâm th́ đâu gọi đây là bàn, đây là ly, đây là đồng hồ v.v... Không có tất cả tên đó, th́ muôn vật không thành muôn vật. Tâm trùm muôn vật, muôn vật từ tâm mà ra, điều đó rất là rơ ràng. Tỉ dụ nơi đây chúng ta có cả trăm người, mỗi người có mỗi tên khác nhau, nên nói cả trăm người khác nhau. Tên khác nhau là từ đâu có? Rơ ràng là từ tâm dấy niệm của cha mẹ hoặc Thầy Tổ ban cho ḿnh một cái danh thành mỗi người khác biệt nhau. Như vậy sự khác biệt đó là do tâm khởi, nếu tâm không khởi th́ chắc gặp nhau chúng ta không biết chào gọi nhau bằng ǵ. Như vậy muôn pháp có là từ tâm. Đa số người không hiểu cứ nghĩ muôn pháp có là từ tâm ḿnh biến ra, biến cái này nó nhảy ra cái này, biến cái kia nó nhảy ra cái kia, nhưng không ngờ chính v́ tâm mới có tên muôn pháp. Nếu không tâm th́ đâu có tên muôn pháp. Muôn pháp không có tên th́ đâu thành muôn pháp. Thế nên nói tâm trùm muôn pháp là vậy. Đă trùm muôn pháp th́ tâm đó rộng lớn, khắp giáp, nó hằng liễu tri nên khi ứng dụng th́ biết tất cả, bởi v́ nó an danh tất cả mà không biết tất cả sao được? Tất cả tên là một tâm đặt, nói một tâm, quí vị đừng hiểu là một người,tâm tôi, tâm quí vị cũng là tâm thôi, chúng ta an danh cho mọi sự vật là tâm của chúng ta, mà tâm th́ đâu có hai. Muôn vật từ tâm mà có tên nên nói tất cả là một; từ tâm đó mà có tên muôn vật nên một là tất cả.
Như vậy nh́n hai mặt: một là tất cả là từ tâm mà đặt muôn tên khác nhau;
tất cả là một v́ tất cả đều gốc từ tâm mà có.
Lại tới lui được tự do, không có ǵ ngăn trở, đó là Bát-nhă. Như vậy Bát-nhă là thênh thang nhưng hằng tri hằng giác, chớ không phải thênh thang như hư không rỗng, không biết ǵ cả. Cái thể đó, nếu tế nhị một chút là thấy rơ, nhất là khi ngồi thiền, có những phút giây không có một niệm ǵ, xem như tâm ḿnh trống rỗng, nhưng khi ấy mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, ḿnh vẫn biết, như vậy là hằng tri, hằng giác mà trống rỗng, không phải Bát-nhă là ǵ? Ai không có cái đó? Chính sống được với cái đó là trở về tâm Phật của ḿnh. Trái lại, nếu không sống với cái đó mà sống với những buồn thương giận ghét là trở về tâm chúng sanh, tâm tạo nghiệp. Như vậy ai sống với những buồn thương giận ghét hằngngày, đó là người sống với tâm chúng sanh, c̣n ai biết buông xả, sống với tâm rỗng rang hằng tri hằng giác không một niệm thương ghét chen lẫn vào, đó là sống với tâm Phật. Thật là rất gần! Nơi ḿnh có sẵn một kho báu mà không biết dùng.Nếu người có kho báu nhưng không biết dùng, lại than nghèo than khổ th́ có đángthương không? Có mà không biết dùng rồi than trời trách đất, thật là đáng thương. V́ họ không biết dùng nên mới khổ, chúng ta thấy cái khổ đó thật đáng thương, v́ vậy đức Phật mới bốn mươi chín năm thuyết pháp độ sanh, nhưng có độ chi đâu. Ngài có cho chúng ta chi đâu mà gọi là độ, Ngài chỉ cho chúng ta biết chúng ta có cái đó, sống trở về với cái đó th́ hoàn toàn hết khổ, trái lại không sống với cái đó th́ khổ không biết chừng nào dứt.
NàyThiện tri thức, tất cả trí Bát-nhă đều từ Tự tánh sanh, chẳng từ bên ngoài vào,chớ lầm dụng ư nên gọi là Chân tánh tự dụng.
Ngài chỉ thật là xác đáng. Ngài bảo: Tất cả trí Bát-nhă đều từ nơi Tự tánh của ḿnh, không phải từ ngoài vào, chớ lầm dụng ư. Như có nhiều người tu cứ mong thành Phật, hoặc mong Phật đến ấn chứng, như vậy là trông ra ngoài, nhưng cái đó đâu phải từ ngoài đến, nó sẵn nơi ḿnh, có ở đâu xa mà t́m mà cầu? Nếu t́m cầu ở ngoài đó là lầm dụng ư. Ngược lại là Chân tánh tự dụng, khéo như vậy th́ Tánh chân thật của ḿnh tự ḿnh dùng thôi.
Một chân th́ tất cả chân, tâm lượng rộng lớn không đi theo con đường nhỏ, miệng chớ trọn ngày nói Không mà trong tâm chẳng tu hạnh này, giống như người phàm tự xưng là Quốc vương, trọn không thể được, không phải là đệ tử của ta.
Có người trọn ngày nói không mà trong tâm chẳng không, tỉ dụ như đă xuất gia rồi nhưng ai làm buồn ḷng một chút liền mắng chửi người, khi ấy nếu có người khác quở tại sao tu mà ác khẩu, tạo nghiệp, th́ nói ác khẩu có thật không? nghiệp có thật không? Như vậy là nói không mà tâm chẳng không. Nếu không th́ đâu có giận, mắng chửi người, nếugiận mắng chửi người th́ tâm chưa không. Tâm chẳng không mà miệng nói không, th́ không xứng đáng là đệ tử của Tổ, huống chi là của Phật. Ai lỡ có bệnh đó th́ nhớ, Tổ không chấp nhận làm đệ tử của Ngài, c̣n đứng ngoài xa chớ chưa bước vào chùa, người như vậy là người nói rỗng không có thực hành. Thế nên chúng ta phải hiểu cho thật rơ, khi lỡ có sân si nếu có ai hỏi tại sao tu mà c̣n sân si, th́ nói tại tôi c̣n dở, tại tập khí lâu đời, như vậy là người tốt. Nếu nghe hỏi tại sao sân si, liền hỏi lại sân si có thật không, th́ kẻ đó đáng ăn đ̣n, không xứng đáng là đệ tử của Phật. Tôi giản trạch để quí vị đừng hiểu lầm, khi nghe nói như trên th́ vội cho người ấy rất hay, rất hiểu đạo. Nếu c̣n sân si là chưa hiểu đạo và nói như thế là nói để che lỗi, kẻ đó là kẻ đáng tội. Hiểu như thế, quí vị mới thấy chỗ tu chân thật, nên Tổ ví dụ như kẻ thường dân mà xưng là Quốc vương. Có ổn không? Thế nào cũng bị ngồi khám, hoặc bị đứt đầu. Cũng như tâm th́ có mà miệng nói không, có ngày phải đền tội, v́ vậy Ngài bảo không phải là đệ tử của ta.
Này Thiện tri thức, sao gọi là Bát-nhă? Bát-nhă, Trung Hoa dịch là trí tuệ. Tất cả chỗ, tất cả thời, mỗi niệm không ngu, thường hành trí tuệ tức là Bát-nhă hạnh.
Ngài dạy Bát-nhă là tiếngPhạn, Trung Hoa dịch là trí tuệ. Tất cả chỗ như ở chùa, ra xóm, đến chợ..., tấtcả thời là sáng trưa chiều... lúc nào cũng vậy, mỗi niệm đều không ngu. Thế nào là mỗi niệm ngu, thế nào là mỗi niệm không ngu? Tỉ dụ chúng ta đang đi trên đường, bất chợt nghe trong nhà có hai người đang căi nhau, chúng ta dừng lại nghe xem ai phải ai quấy. Niệm dừng lại nghe ai phải ai quấy là niệm ǵ? Là niệm ngu, tức là chạy theo cảnh th́ niệm đó gọi là niệm ngu. Trái lại nếu hằng sốngvới trí tuệ, không theo, không dính với bất cứ điều ǵ, đó là không ngu. Thường hành trí tuệ là hành cái trí không bị kẹt, bị dính nơi mọi cảnh. Đó là chỗ tôi hay nhắc quí vị. Hoặc nghe tiếng nói, hoặc thấy h́nh sắc liền phân biệt hay dở,tốt xấu v.v... đó là người ngu, mải đuổi theo ngoại cảnh nên làm mờ mắt Trí tuệ Bát-nhă. Niệm niệm không ngu là hằng không dấy niệm đuổi theo ngoại cảnh, lúc nào cũng hằng tỉnh, hằng giác, người được như vậy tức là đă hành Bát-nhă.
Một niệm ngu tức Bát-nhă bặt, một niệm trí tức Bát-nhă sanh.
Như vừa rồi tôi nói, nếu chúng ta thấy vật ǵ liền cho là đẹp, đó là niệm ngu. Ngu th́ khi ấy có Bát-nhăkhông? Bát-nhă là thấy các pháp như huyễn, nếu thấy vật đẹp th́ vật là thật nên ngu, tức mất Bát-nhă. Trái lại, vừa thấy một vật ǵ liền biết đó là tướng duyên hợp không thật, v́ biết không thật nên tâm không dính mắc th́ Bát-nhă sanh. Thế nên niệm ngu th́ Bát-nhă tuyệt, niệm trí là Bát-nhă sanh. Tôi giảng cho quí vị thấy cái ngu, cái trí. Thấy người, thấy vật, duyên theo để phân biệt đẹp xấu hoặc khen chê, đó là niệm ngu; thấy người thấy vật mà khởi quán các pháp, người vật đều duyên hợp không thật, đó là niệm trí. Niệm ngu th́ bị tham sân si dẫn,niệm trí th́ tâm an, biết là huyễn tức nhiên tâm lặng, tức là sống với Trí tuệ Bát-nhă. Hai niệm đó, có niệm này là mất niệm kia. Niệm trí là chúng ta thắpđèn, đốt đuốc, niệm ngu là chúng ta đi trong đêm không đèn, không đuốc để rồi phải đau khổ. Quí vị thử nghiệm xem! Thấy người, thấy vật nhưng luôn luôn sống với niệm trí th́ có đau khổ không? Hẳn là không. Như vậy rơ ràng khổ hay hết khổ là do ḿnh sống với trí hay với ngu. Ngu là vô minh, nó dẫn chúng ta đi trong chốn khổ đau, trầm luân sanh tử.
C̣n niệm trí là trí tuệ để giác ngộ thành Phật.Như vậy sự tu hành thật là cụ thể. Nếu đối duyên, đối cảnh chúng ta luôn luôn sốngvới niệm trí th́ chúng ta giải thoát sanh tử;
Trái lại đối duyên đối cảnh chúng ta sống với niệm ngu th́ chúng ta luân hồi không cùng. Quí vị thử tập xem, kể từ nay ráng sống với niệm trí, làm sao trong mười hai giờ ít ra cũng được sáu giờ trí, nếu không có lời, ít ra cũng đừng lỗ. Nhưng hiện nay quí vị đă sống được mấy giờ trí? Thử kiểm lại xem! Được bao nhiêu? Trong mười hai giờ chỉ sống được một giờ rưỡi, chưa đủ cái lẻ nữa th́ biết rằng đó là ánh sáng đom đóm. Đêm ba mươi có ánh sáng đom đóm nên khó tránh khỏi hầm hố. V́ thế chúng ta tu là hiểu cho rơ lời Phật Tổ dạy và hiểu cho rơ điều ḿnh đang hành, biết ḿnh như thế nào, không cần phải t́m hỏi ḿnh có căn tu hay không. Tóm lại Tổ dạy rất rơ ràng: một niệm ngu th́ Bát-nhă bặt, một niệm trí th́ Bát-nhă sanh, một giờ chúng ta ngu th́ giờ đó không có Bát-nhă, giờ đó là vô minh; c̣n một giờ chúng ta trí th́ đó là giờ Bát-nhă, giờ sáng suốt. Như vậy người nào sống trong tỉnh nhiều hơn mê th́ bảo đảm ngày ra đi sẽ đi vào con đường của Thánh Hiền, c̣n người nàosống với mê nhiều hơn trí, chắc chắn người đó sẽ đi vào lục đạo, hoặc ba đường trên thiên, nhân, a-tu-la, hoặc ba đường dưới địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Quí vị hăy tự xét là biết, ḿnh tu ḿnh phải tự giác, tự tri, không cần phải hỏi ai cả. Lại ngu có nghĩa là theo cảnh, trí có nghĩa là ĺa cảnh. Một niệm tâm theo cảnh là ngu, một niệm tâm ĺa cảnh là trí. Trong bốn oai nghi hằng ĺa cảnh đó là hằng sống với Trí tuệ Bát-nhă.
Người đời ngu mê không thấy Bát-nhă, miệng nói Bát-nhă mà trong tâm thườngngu.
Miệng nói vật này không thật, vật kia không thật, nhưng gặp vật ǵ cũng duyên theo, đó là nói Bát-nhă mà trong tâm thường ngu. Có người khi lư luận nói cái ǵ cũng không thật, nói nghe thật hay, nhưng gặp cảnh gặp duyên th́ đuổi theo, đó là người ngu, miệng nóiBát-nhă mà tâm thường ngu.
Thường tự nói ta tu Bát-nhă, niệm niệm nói không nhưng không biết được chân không.
Miệng luôn luôn nói không nhưng thật không biết được Chân không. Chân không là không có một niệm, một pháp nào chứa chấp ở trong, chỉcó cái hằng tri hằng giác. Như vậy quí vị từ nay vừa bước đến cổng “Chân Không”phải nhớ chỗ đó, biết ḿnh phải sống với Chân không.
Bát-nhă không có h́nh tướng, tâm trí tuệ ấy vậy.
Trí tuệ Bát-nhă không có tướng mạo, nó là tâm trí tuệ tức là cái tâm hằng sáng hằng giác chớ không có ǵlạ, nên nói Bát-nhă chỉ là tâm trí tuệ hằng giác của chúng ta.
Nếu khởi hiểu như thế tức gọi là Bát-nhă trí.
Thường chữ trí tuệ là dịch hai chữ Bát-nhă. Tại sao lại c̣n nói Bát-nhă trí? Nếu nói trí tuệ e có sự lầm lẫn v́ người đời nếu khôn ngoan một chút th́ nói là người có trí tuệ, thành ra trí tuệ của người đời là trí tuệ sắp đặt công ăn việc làm hoặc là trí tuệ tính toán lấn hiếp người... Trí tuệ Bát-nhă là trí tuệ thấy rơ cái chân thật của Tự tâm, biết rơ Tự tâm ḿnh cái nào là hư giả, cái nào là chân thật, biết rơ Tự tánh của các pháp, biết các pháp do duyên hợp không thật, tánh là không. V́ thế để tránh sự hiểu lầm, chữ Bát-nhă phải dịch đủ là Trí tuệ Bát-nhă.