PHÁP BẢO ĐÀN KINH
|
THÍCH THANH TỪ |
Phẩm thứ Hai : BÁT NHĂ
GIẢNG KINH
ĐÀO XỚI NGAY TRONG TÂM M̀NH
Sao gọi là Ba-la-mật? Đây là lời nói của Ấn Độ, Trung Hoa dịch là đến bờ kia, giải nghĩa là ĺa sanh diệt.
Tôi nhắc lại một lần nữacho quí vị nhớ, những chữ Phạn mà chúng ta thường tụng: “Ma-ha Bát-nhăBa-la-mật”.Ma-ha là lớn, là thênh thang, chỉ cho Tâm thể chúng ta khi không c̣n một niệm nào dấy khởi.Bát-nhă là trí tuệ, cái trí tuệ không bị các pháp làm nhiễm, làm chướng tức là đối với tất cả pháp luôn hằng giác hằng tri nhưng không dính mắc.Ba-la-mật là đến bờ kia, bờ kia là bờ Niết-bàn. Đến bờ kia là đến được bờ Niết-bàn. Bờ Niết-bàn là bờ không sanh diệt, thế nên nói bên này là bờ sanh tử, bên kia là bờ Niết-bàn. Sanh tử là sanh diệt.Niết-bàn là không sanh diệt, nên đến bờ kia dịch nghĩa là ĺa được sự sanh diệt.
Chấp cảnh th́ sanh diệt khởi như nước có sóng ṃi, tức gọi là bờ này, ĺa cảnh th́ không sanh diệt như nước thường thông lưu, ấy gọi là bờ kia, nên gọi là Ba-la-mật.
Ngài chỉ cho chúng ta phương pháp tu thật là rơ. Thế nào là sanh diệt? Thế nào là ĺa sanh diệt? Vừa chấp cảnh th́ tâm sanh diệt khởi. Chấp cảnh là thế nào? Tỉ dụ thấy người liền chấp người đẹp xấu, hay dở, phải quấy v.v... đó là chấp cảnh; hoặc thấy vật cũngchấp là đẹp xấu... đó cũng là chấp cảnh. Vừa chấp đẹp xấu th́ niệm thương ghét dấy lên, gọi là tâm sanh diệt. Thế nên nói chấp cảnh th́ sanh diệt khởi, ví dụ như mặt nước bằng mà có gió. Chấp cảnh dụ như gió. Mặt biển nguyên bằng phẳng,vừa có gió thổi là sóng lớn, sóng nhỏ nổi lên. Sóng lớn sóng nhỏ nổi lên dụ cho sanh diệt. Vừa chấp cảnh th́ tâm sanh diệt khởi. Trái lại ĺa cảnh th́ không sanh diệt, như nước thường thông lưu, ĺa cảnh tức là thấy cảnh, thấy người, thấy vật nhưng không có niệm phân tích đẹp xấu... Thấy nghe nhưng không bị dính gọi là ĺa. Ĺa cảnh th́ tâm sanh diệt không khởi, dụ như nước không có sóng, nhưng vẫn hằng trôi, hằng chảy. Cũng như vậy, chúng ta không chấp cảnh, tâm sanh diệt không khởi, nhưng hằng tri giác chớ không phải không tri không giác, đó gọi là “Ba-la-mật”.
Tóm lại, “Ma-ha” là lớn,“Bát-nhă” là trí tuệ. Tâm thể hay Tự tánh của chúng ta thênh thang, không tướng mạo, nhưng hằng tri hằng giác không dính với cảnh gọi là trí tuệ, là Bát-nhă.Ba-la-mật là đến chỗ không sanh diệt. Tại sao gọi là không sanh không diệt? Bởi v́ vừa dính với cảnh th́ tâm niệm sanh diệt dấy lên, c̣n đối cảnh mà không dính đó là ĺa được sanh diệt. “Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật” từ đâu mà có? Có sẵn nơi chúng ta. Do đâu mà được? Do biết ĺa cảnh, đối cảnh không chấp. Nếu người nào đối cảnh mà chấp đó là mất. Vậy mỗi khi chúng ta khởi xướng “Ma-ha Bát-nhăBa-la-mật” đừng lắng nghe lời người này hay, lời người kia dở, nên nhớ rơ rằng“Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật” là cái để ḿnh hằng sống, đó là ḿnh biết tu.
NàyThiện tri thức, người mê miệng tụng, chính khi đang tụng mà có vọng có quấy;niệm niệm nếu hành Bát-nhă, ấy gọi là Chân tánh. Người ngộ được pháp này, ấy là pháp Bát-nhă; người tu hạnh này, ấy là hạnh Bát-nhă. Không tu tức là phàm, một niệm tu hành tự thân đồng với Phật.
Giống như chúng ta hiện nay, chính trong khi đang tụng mà đă có vọng tưởng, có những niệm sai quấy. Ngài nói thẳng người không tu theo Bát-nhă là phàm, c̣n một niệm tu hành th́ một niệm đó đồng với Phật. Phật là giác, một niệm tu Bát-nhă tức là một niệm giác, một niệm giác tức là đồng với Phật, đồng một niệm chớ không phải đồng suốt đời. Tổ muốn phá mặc cảm của chúng ta. Chúng ta cho Phật với ḿnh cách biệt rất xa nên Ngài muốn chỉ Phật với chúng ta không cách xa, chỉ mê là chúng sanh, ngộ làPhật. Nhưng mê ngộ chia nhiều phần, ngộ toàn phần hay ngộ một cách viên măn, khác với ngộ từng ly từng tí. Trong một giờ đồng hồ tức trong sáu mươi phút,chúng ta không được trọn sáu mươi phút nhưng được một phút bằng với Phật th́ cũng bằng được một phút. Nếu hiện đời chúng ta chưa hẳn là giác, nhưng được một niệm giác th́ niệm đó chúng ta cũng bằng với Phật. Như vậy chúng ta thấy tại chúng ta không ưng làm Phật, chớ Phật đâu có cấm chúng ta làm Phật. Có ai ngăn trở quí vị làm Phật không? Không một ai, kể cả Phật cũng không ngăn trở, nên Ngài mới nói Ngài là “Vô thượng giác” tức là người giác mà không ai trên, chớ không phải không ai bằng, nếu ai ưng giác như Ngài th́ bằng Ngài!
NàyThiện tri thức,
Phàm phu tức Phật, phiền năo tức Bồ-đề.
Niệm trước mê tức phàm phu, niệm sau ngộ tức Phật;
niệm trước chấp cảnh tức phiền năo, niệm sau ĺacảnh tức Bồ-đề.
Thật là hay! Lục Tổ dạy thẳng tắt vô cùng. Ngài chỉ cho chúng ta thấy phàm phu tức Phật, phiền năo tức Bồ-đề. Thế nào là tức? Ngài bảo: niệm trước mê tức là phàm phu, niệm sau ngộ tức là Phật. Tỉ dụ nh́n b́nh bông, vừa nh́n liền phân biệt nhánh trắc đẹp, bông cúc xấu v.v... vừa có niệm phân biệt, đó là mê, nhưng liền tỉnh giác biết dù đẹp xấu cũng là huyễn hóa. Như vậy niệm trước mê là phàm phu, niệm sau ngộ là Phật. Có người thứ hai chen vào làm Phật không? Cũng chỉ là ḿnh, nhưng niệm trước mê, đó là phàm phu, chuyển niệm sau ngộ là thành Phật. Như vậy đâu có Phật ngoài phàm phu, phàm phu ngoài Phật, nên nói phàm phu tức là Phật. Thí dụ thứ hai, như có một món quí kim rơi ngoài đường hay ở trong nhà một người nào, vừa thấy món quí kim chúng ta dấy niệm nó có giá trị, vừa dấy niệm tham, liền biết đó là sai quấy, v́ người biết đạo lư không được có niệm tham. Vậy niệm trước là niệm ǵ? Niệm sau là niệm ǵ? Tất cả những thay đổi đó đâu có người thứ hai chen vào.Chính ngay người phàm phu trước đổi thành người giác sau. Người mê trước đổi thành người giác sau, không có một người mê riêng, một người giác riêng, như vậykhông phải “tức” là ǵ? Như khi c̣n ở trong hoàng cung Thái tử Tất-đạt-đa làPhật chưa? Nhưng khi xuất gia, Ngài tu thành Phật. Cũng là Ngài, con người phàm phu ở trong hoàng cung rồi thành Phật chớ không phải ai khác. Đó là nói xa, c̣n Lục Tổ nói thẳng trên niệm, niệm trước mê là phàm phu, niệm sau ngộ là Phật.Chúng ta thấy phàm phu khác, Phật khác là tự phỉ báng ḿnh, phỉ báng chánh pháp.Rơ ràng ḿnh với Phật không có khác, chỉ khác chỗ mê ngộ, mà mê ngộ do nơi ḿnh,niệm trước mê là phàm, niệm sau giác là Phật!
“Niệm trước chấp cảnh tứcphiền năo, niệm sau ĺa cảnh tức Bồ-đề.” Thí dụ nghe người nào nói một lời trái tai, vừa chấp đó là lời ngang ngược trái tai, muốn nổi sân, nhưng liền biết lời nói giả dối không thật th́ không giận. Niệm trước vừa chấp lời nói trái tai liền nổi giận, gọi là chấp cảnh tức phiền năo sanh; niệm sau biết lời nói không thật,nên không chấp liền ĺa cảnh, ĺa cảnh đó là Bồ-đề. Như vậy tức phiền năo là Bồ-đề đâu có Bồ-đề ngoài phiền năo. Nếu t́m Bồ-đề ngoài phiền năo th́ không cần tu, v́ nó ở ngoài, tu là ngay niệm mê đổi thành niệm giác, ngay phiền năo biến thành Bồ-đề. Có nhiều người nói phiền năo là phiền năo, tại sao nói phiền năo tức Bồ-đề? Họ cứ nghĩ phiền năo là riêng, Bồ-đề là riêng, nhất là những vị chưa thông kinh Đại thừa hay chấp phiền năo khác, Bồ-đề khác, nhưng thật ra ngay phiền năo mà tỉnh lại tức là Bồ-đề. Mê th́ phiền năo, tỉnh là Bồ-đề, chúng ta thấy thực tế vô cùng. Phiền năo tức Bồ-đề, phàm phu tức Phật là như thế. Như vậy ai dám khi ai không? Ngày nay họ là phàm phu, ngày mai họ giác thành Phật; giờ này họ sân là phàm phu, chốc nữa họ tỉnh cũng là Phật. Đừng nghĩ ta giác hơn người, v́ khi người tỉnh giác người cũng bằng ta. Trên thế gian này không ai hơnai cả. Ngay phàm phu tức là Phật, ngay phiền năo tức là Bồ-đề. Người có nhiều phiền năo, v́ cố chấp nên những ǵ đến với họ đều biến thành phiền năo; đến khi họ tỉnh, họ xả được cái chấp đó tức nhiên thành Bồ-đề. Không có Bồ-đề ngoài phiền năo, không có Phật ngoài chúng sanh.
NàyThiện tri thức, Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất, khôngtrụ, không qua cũng không lại, chư Phật ba đời từ trong đó mà ra. Phải dùng đạitrí tuệ này đập phá ngũ uẩn, phiền năo, trần lao, tu hành như đây quyết địnhthành Phật đạo, biến tam độc thành giới định tuệ.
Tổ ca ngợi Bát-nhă vô cùng. Ngài bảo Bát-nhă là tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất, Bát-nhă là không trụ, không qua, không lại, nghĩa là nó không có những tướng qua lại, trụ trước ǵ cả. Tất cả chư Phật ba đời cũng từ Bát-nhă mà ra. Muốn giác ngộ làm Phật phải từ trí tuệ mà được. Không ai giác ngộ ngoài trí tuệ, nên nói ba đời chư Phật đều từ đó mà ra. Như vậy phải dùng đại trí tuệ này đập phá phiền năo trần lao ngay trong thân ngũ uẩn. Tu hành như vậy th́ quyết định thành Phật đạo không nghi và người đó đă chuyển tam độc thành giới định tuệ. Ngay nơi ba độc tham sân si chúng ta chuyển thành giới định tuệ, đó là chỗ chân chánh tu hành.
NàyThiện tri thức, pháp môn của tôi đây từ một Bát-nhă phát sanh tám muôn bốn ngàntrí tuệ. V́ cớ sao? V́ người đời có tám muôn bốn ngàn trần lao, nếu không có trần lao th́ trí tuệ thường hiện chẳng ĺa Tự tánh. Người ngộ pháp này tức là vô niệm, vô ức, vô trước, chẳng khởi cuống vọng, dùng tánh Chân như của ḿnh, lấytrí tuệ quán chiếu, đối với tất cả pháp không thủ không xả tức là thấy tánh thành Phật đạo.
Đến đây Ngài dạy từ một môn Bát-nhă này sanh ra tám muôn bốn ngàn trí tuệ. Tại sao đến tám muôn bốn ngàn trí tuệ? V́ chúng sanh có đến tám muôn bốn ngàn trần lao, nên người biết tu th́chuyển tám muôn bốn ngàn trần lao thành tám muôn bốn ngàn trí tuệ. Tôi ví dụ như chúng ta nghe lời nói trái tai, chấp là lời nói nặng liền giận, khi vừa giận liền thức tỉnh biết tiếng nói không thật nên không giận, như vậy chúng ta dùng một trí tuệ phá một trần lao. Trên thế gian này, có bao nhiêu thứ để chúng ta phiền năo? Vật nào đẹp th́ muốn lấy, đó là tham, vật nào xấu th́ ghét muốn quăng bỏ, đó là sân v.v... đủ cả tham sân si...! Nếu gặp bất cứ việc ǵ, chúng ta đều dùng Trí tuệ Bát-nhă để phá dẹp, không cho dính mắc, như vậy có bao nhiêu phiền năo tức có bấy nhiêu trí tuệ. Thế nên tám muôn bốn ngàn trần lao trở thành tám muôn bốn ngàn trí tuệ. Như vậy để biết rằng trí tuệ không riêng có, v́ đối trần lao mà lập. Do có trần lao nên trí tuệ không thường hiện, nay các trần lao hết th́ trí tuệ hiện. Trí tuệ hiện là ngay nơi Tự tánh mà hiện, nên nói chẳng ĺa Tự tánh. Người ngộ pháp này tức là vô niệm. Vô niệm là không dấy khởi niệm, vô ức là không nhớ tưởng, vô trước là không dính mắc, chẳng khởi cuống vọng là không khởi hư dối. Dùng tánh Chân như của ḿnh, lấy trí tuệ quán chiếu, đối tất cả pháp ḿnh không khởi thủ xả, đó là thấy tánh thành Phật đạo. Nghĩa là chúng ta không dấy niệm, không nhớ tưởng, không chấp trước cũng không lừa dối, như vậysống với Tự tánh chân thật của ḿnh, hằng dùng trí tuệ quán chiếu để không lầm, th́ đối với tất cả pháp không c̣n thủ xả tức ĺa hai bên. Người được như thế là thấy tánh thành Phật.
NàyThiện tri thức, nếu muốn vào pháp giới thậm thâm và Bát-nhă tam-muội th́ phải tu Bát-nhă hạnh, phải tŕ tụng kinh Kim Cang Bát-nhă tức được thấy tánh, nên biế tkinh này công đức vô lượng vô biên, trong kinh đă khen ngợi rơ ràng không thể nói đầy đủ được. Pháp môn này là Tối thượng thừa, v́ những người đại trí mà nói,v́ những người thượng căn mà nói. Những người tiểu căn tiểu trí nghe pháp này tâm sanh không tin. V́ cớ sao? Ví như có một trận mưa lớn khắp cả cơi nước,thành ấp chợ búa đều bị trôi dạt cũng như trôi những lá táo. Nếu trận mưa lớn đó mưa nơi biển cả th́ không tăng không giảm. Như người Đại thừa hoặc người Tối thượng thừa nghe kinh Kim Cang th́ tâm khai ngộ, thế nên biết Bản tánh họ tự có trí Bát-nhă, tự dùng trí tuệ thường quán chiếu nên không nhờ văn tự. Thí như nước mưa không phải từ trời có, nguyên là từ rồng mà dấy lên khiến cho tất cả chúng sanh, tất cả cỏ cây, hữu t́nh vô t́nh thảy đều được đượm nhuần. Trăm sông các ḍng đều chảy vào biển cả hợp thành một thể, Trí tuệ Bát-nhă nơi Bản tánhchúng sanh cũng lại như thế.
Tức là mọi người chúng ta đều có trí tuệ Bát-nhă sẵn trong Tự tánh của ḿnh như là tất cả ḍng sông đều chảy về biển chớ không có khác.
NàyThiện tri thức, người tiểu căn nghe pháp môn đốn giáo này, ví như là cỏ cây gốcrễ nhỏ, nếu bị mưa to th́ đều ngả nghiêng không thể nào tăng trưởng được. Ngườitiểu căn cũng lại như thế, vốn có Trí tuệ Bát-nhă cùng với người đại trí khôngsai biệt, nhân sao nghe pháp không thể khai ngộ? V́ do tà kiến chướng nặng, cộigốc phiền năo sâu, ví như đám mây lớn che kín mặt trời, không có gió thổi mạnhth́ ánh sáng mặt trời không hiện. Trí Bát-nhă cũng không có lớn nhỏ, v́ tất cảchúng sanh tự tâm mê ngộ không đồng, tâm mê bên ngoài thấy có tu hành t́m Phật,chưa ngộ được Tự tánh tức là tiểu căn. Nếu khai ngộ đốn giáo không thể tu ở bênngoài, chỉ nơi tâm ḿnh thường khởi chánh kiến, phiền năo trần lao thường khôngbị nhiễm tức là thấy tánh.
Trong đoạn trên Ngài nóicó người tiểu căn, người đại căn, người tiểu trí, người đại trí. Tại sao có tiểutrí, đại trí, tiểu căn, đại căn? Trên tánh Bát-nhă không có sai biệt, nhưngngười nghe pháp liền đốn ngộ th́ gọi là đại căn, c̣n người nghe nhưng không đốn ngộ nên gọi là tiểu trí. Sở dĩ nghe Bát-nhă mà không ngộ, không hiểu là v́:
- Một là tà kiến của họ sâu nặng, chấp tà kiến là chấp lệch lạc, nghiêng bên có hoặc nghiêng bên không quá nặng.
- Hai là gốc phiền năo của họ sâu dày, họ hay sân si, đủ các việc lôi thôi...
Ngài thí dụ như có một đám mây đen kịt bao phủ bầu trời vào giữa trưa che kín mặt trời, chúng ta thấy ánh sáng mặt trời mất tiêu, ánh sáng mất là tại mặt trời không có ánh sáng hay tại cái ǵ? Mặt trời lúc nào cũng tỏa ánh sáng đầy đủ và công bằng. Nhưng khi mây dày đen quá th́ ánh sáng phải chịu khuất. Khi không thấy ánh sáng là lỗi tại mặt trời hay lỗi tại mây? Tất cả mọi người ai cũng có Trí tuệ Bát-nhă như là giữa trưa nhất định có mặt trời vậy, nhưng có người nghe pháp liền ngộ, có người nghe mà không ngộ là tại sao? Giữa trưa mà không mây, khi người ta chỉ mặt trời, nh́n lên liền thấy. Trái lại mây dày quá, dù chỉ mặt trời cũng không thấy, chỉ thấy bầu trời đen kịt. Đối với trí tuệ của Phật cũng thế, Ngài dùng trí tuệ đó giảng dạy chúng ta hiểu chỗ ngộ, chỗ sở đắc của Ngài để chúng ta theo đó tu hành. Nếu nghe nhưng không hiểu ǵ cả là tại phiền năo của chúng ta quá nhiều, quá sâu; nếu người nào phiền năo ít, mỏng th́ nghe liền hiểu, mà hiểu th́ tu được. Như thế lỗi không phải tại pháp mà lỗi tại người, pháp th́ b́nh đẳng nhưng tại người phiền năo sâu hay cạn. Biết như vậy, chúng ta thấy nếu căn cơ chúng ta kém, phiền năo dày, chúng ta phải nỗ lực sao cho phiền năo tan và căn cơ được tăng trưởng, chớ đừng tưởng thật có người đại trí và người tiểu trí, v́ trí Bát-nhă là b́nh đẳng, nhưng do các chủng tử tà kiến và chủng tử phiền năo nhiều ít mà thành sai biệt.
NàyThiện tri thức, trong ngoài không trụ, đi lại tự do, hay trừ tâm chấp, thông đạt không ngại, hay tu hạnh này cùng kinh Bát-nhă vốn không sai biệt.
Trong đoạn này Lục Tổ dạy chúng ta tu. Trong ngoài không trụ là không trụ trong không trụ ngoài, tức là không chấp trong không chấp ngoài. Đi lại tự do là trong mọi hoạt động chúng ta không bị chướng ngăn. Hay trừ tâm chấp, tâm chấp là thế nào? Tôi nói một ví dụ nhỏ cho quí vị thấy, như có người nh́n b́nh bông, phân tích như thế nào đó rồi kết luận b́nh bông đẹp, nhưng có người ngồi bên cạnh bảo xấu quá, đâu có đẹp!Khi đó người ấy nổi sân, tại sao lại nổi sân? V́ chấp lời của họ là chân lư, lời người kia không phải chân lư, họ nói đúng, người kia nói sai... Thế nên tất cả các chấp là gốc của phiền năo. Trái lại nếu chúng ta thấy đẹp, người khác thấy không đẹp chúng ta biết đó là do cái thấy của họ khác ḿnh, th́ không c̣n tranhchấp. Tỉ dụ chúng ta nói cái này có, người kia nói không, chúng ta nói: tôi thấy có, c̣n huynh thấy không là cái thấy của huynh. Trái lại nếu chúng ta nói có,người khác nói không, chúng ta nổi giận, đó là chấp. Vậy tất cả phiền năo đều gốc từ tâm chấp mà ra. Quí vị thấy có ai không chấp? Nếu người nào không chấp th́ người đó không nổi giận, nếu có giận là có chấp! Thí dụ gần nhất như thầygiáo hay cô giáo dạy học tṛ, bảo chúng nó giờ nào học th́ học, giờ nào nghỉ th́cũng ngồi chơi có trật tự đừng la to. Nhưng khi chơi nó hứng la om ṣm, khi ấy thầy cô giận muốn phạt nó. Như vậy là ḿnh không tâm lư, lúc dặn th́ chúng nhớ, khi chơi th́ chúng quên... v́ ḿnh chấp việc chúng không nhớ lời dặn nên nổi giận. Quí vị nhớ con cái ở nhà cũng vậy, khi chúng ta dạy nó, thật ra chúng nó biết, nhớ, nhưng khi gặp cảnh chúng nó quên... Cũng như chúng ta khi nghe kinh th́ nhớ, gặp cảnh th́ quên, chúng ta quên theo người lớn, chúng nó quên theo con nít! Nếu giận chúng nó th́ đúng hơn chúng ta phải giận chúng ta. Nếu không giận ḿnh mà giận chúng nó là ḿnh hơi hẹp lượng đó. Hiểu như vậy, quí vị mới thấy trong cuộc sống này do chấp mà thành hẹp lượng rồi sân hận... đủ các phiền năo.V́ vậy chấp là một cái họa, từ đó sanh ra bao nhiêu thứ bệnh! Khi phá chấp rồi th́ tâm hồn chúng ta thênh thang vô cùng. Chấp có, chấp không, chấp phải, chấp quấy... tất cả chấp đều là gốc phiền năo. Thế nên phá được tâm chấp rồi th́ tríđược thông đạt vô ngại. Người hay tu được hạnh đó gọi là tu Bát-nhă.
NàyThiện tri thức, tất cả kinh điển và các văn tự, Đại thừa, Tiểu thừa, mười hai bộkinh đều nhân người mà an trí, nhân tánh trí tuệ mới hay dựng lập. Nếu không cóngười đời th́ tất cả muôn pháp vốn tự chẳng có, thế nên biết muôn pháp vốn tựnhân nơi người mà dựng lập, tất cả kinh sách nhân người mà nói có; nhân v́ trongngười kia có ngu và có trí, người ngu là tiểu nhân, người trí là đại nhân, ngườingu hỏi nơi người trí, người trí v́ người ngu mà nói pháp, người ngu bỗng nhiênngộ hiểu, tâm được khai tức cùng với người trí không có khác.
Chúng tôi giải thích cho quí vị thấy Lục Tổ dạy rất là thực tế. Ngài bảo tất cả kinh điển Phật lập ra,trong đó chia ra Đại thừa, Tiểu thừa, cả mười hai bộ kinh đều nhân nơi người mà lập. Tại sao? V́ người đời căn tánh bất đồng, có kẻ thấp người cao nên kinh Phật dạy có khi thấp, có khi cao. Nói thấp gọi là nói cho Tiểu thừa, nói cao gọi là nói cho Đại thừa. Như vậy kinh điển có sai biệt là nhân trí tuệ của con người,người thấp th́ phải nói theo chỗ thấp, người cao phải giải thích theo chỗ cao.Tất cả muôn pháp trên thế gian này vốn không có, nhưng hiện có là do nơi người.Có người mới có muôn pháp. Tại sao? Như tôi thường nhắc quí vị, nếu không có tâm trí của con người th́ lấy cái ǵ đặt tên đây là đồng hồ, kia là b́nh bông, đó làcái bàn v.v.... Như vậy tất cả các tên sai biệt của muôn pháp gốc từ nơi người mà lập. Thế nên biết rằng từ kinh điển đến vạn vật có các tên sai biệt, đều gốc từ tâm trí sai biệt của con người, chớ không phải ngẫu nhiên. Như vậy không phảiđức Phật muốn nói nhiều thứ, sở dĩ Ngài phải nói nhiều là do tŕnh độ sai biệtcủa con người; cũng như tất cả sự vật ở thế gian không phải có nhiều thứ nhưngcó nhiều thứ là tại người đặt. Người ta đặt ra thứ này, thứ kia, mỗi thứ mỗi tên. Tỉ dụ như tất cả chúng ta, nếu cha mẹ không đặt tên ḿnh th́ đến đây gặp nhau chỉ cười chớ không biết ai tên ǵ mà gọi. Nay có cả trăm tên khác nhau làtại sao? Tại vọng thức của cha mẹ chúng ta an bày người này tên A, người kia tênB v.v... rồi chúng ta thấy có cả trăm tên. Sự thật nếu không có đặt tên th́ thấy mặt nhau là thấy chớ không biết tên ǵ, nếu không tên th́ đâu thành người nàyngười kia... tất cả chỉ có tên “người”. Tóm lại muôn pháp nhân người mà lập là v́ nhân nơi tâm trí của con người mà đặt tên thành ra muôn pháp, chớ sự thật muôn pháp không có tên, thành tên là từ nơi người.
Ngài lại giải thích về người ngu và người trí. Người ngu là họ chưa hiểu, chưa thấy được đạo. Người trí là đă hiểu, đă thấy được đạo. Như vậy người chưa hiểu, chưa thấy đối với người đă hiểu, đă thấy th́ gọi là người ngu, c̣n người đă hiểu, đă thấy gọi là ngườitrí. Nhưng cái ngu, trí đó có cố định hay không? Giả sử ông A hiểu, ông B chưa hiểu, đối với chỗ hiểu và chưa hiểu th́ ông A gọi là trí, ông B gọi là ngu.Nhưng nay ông B hỏi, ông A nói cho ông B hiểu bằng ông A th́ hai người ai ngu ai trí? Cả hai đều trí! Như vậy ngu trí cũng không cố định. Chúng ta thường tự cao nghĩ rằng ta là trí, người khác là ngu, tưởng ngu trí là thật. Đối với Tổ không phải vậy. Khi chưa biết gọi là ngu, biết rồi cũng là trí. Thí dụ một đứa bé khi mới vào học lớp một, nó thấy thầy giáo, cô giáo là trí, c̣n nó là ngu. Nhưng nếu nó học đến mười mấy năm sau, khi ấy lớp nó học hoặc bằng hoặc trên thầy giáo, cô giáo nó, như vậy nó đâu c̣n ngu nữa. Thế nên trí, ngu đâu có cố định, nhưng chúng ta có tật thấy bất cứ người nào đều cố định là khôn hoặc là dại. Tóm lại ngu trí chẳng qua là biết và chưa biết; biết th́ gọi là trí, chưa biết gọi là ngu, khi người chưa biết mà biết được rồi th́ họ cũng là trí... Từ đó chúng tasuy ra, chúng sanh với Phật có khác nhau không? Có cố định chúng sanh là chúng sanh, Phật là Phật hay không? Nếu chúng ta hiểu ngu và trí th́ chúng sanh với Phật cũng như vậy. Nay chúng ta chưa giác, chúng ta là chúng sanh, c̣n Phật đă giác th́ Phật là Phật. Mai kia theo đường lối Phật dạy, chúng ta giác ngộ như Phật th́ khi ấy chúng ta cũng ngang với Phật. Như vậy chúng ta không có mặc cảm là ḿnh phải làm chúng sanh kiếp kiếp đời đời, mà chỉ có mặc cảm là ḿnh không chịu giác. Nếu ngày nào tất cả chúng ta đều giác th́ đương nhiên chúng ta như Phật. Vậy phàm phu và Phật không có hai, hai là v́ có mê ngộ. Nếu chúng ta bỏ mê và ngộ như Phật, khi ấy ḿnh với Phật là đồng, không c̣n hai nữa. Từ nghĩa nguvà trí đến nghĩa mê giác, chúng ta thấy giống như nhau. Không có một pháp cốđịnh mà chúng ta lầm tưởng là cố định rồi tự khinh ḿnh, đó là điều dở. Thế nênLục Tổ dạy tiếp:
NàyThiện tri thức, chẳng ngộ tức Phật là chúng sanh, khi một niệm ngộ, chúng sanhlà Phật.
Khi chưa ngộ tức Phật làchúng sanh, tại sao? Nơi ḿnh có Phật sẵn nhưng ḿnh chưa thấy nên khi ấy ôngPhật đó làm chúng sanh; đến khi ḿnh thấy th́ thế nào? Th́ chúng sanh đó naybiến thành Phật. Thế nên nói một niệm ngộ chúng sanh là Phật. Như vậy giữa ḿnhvà Phật không cách biệt bao xa. Theo chúng ta học th́ từ phàm phu lên đến Phậtphải trải qua bao nhiêu số kiếp xa thật là xa. C̣n Tổ nói th́ quá gần, nghĩa làkhi chưa ngộ th́ Phật là chúng sanh, c̣n một niệm ngộ th́ chúng sanh là Phật.Như vậy sở dĩ có chúng sanh, có Phật là tại mê với ngộ, chớ không phải riêng cómột cái cố định là chúng sanh, cố định là Phật. Đó là điểm then chốt.
Thế nên biết muôn pháp trọn ở nơi Tự tâm, sao chẳng từ trong Tự tâm liền thấy được Chân như Bản tánh?
Biết rằng muôn pháp đều từ nơi Tự tâm, tại sao chúng takhông ngay nơi Tự tâm chóng thấy được Chân như, lại đi t́m Phật ở đâu cho xa. Mêth́ Phật là chúng sanh, ngộ th́ chúng sanh là Phật, như vậy thành Phật là thànhở trong Tự tâm. Mê ngộ là tâm, vậy tại sao không đào xới ngay trong tâm ḿnh để thành Phật, lại chạy đi cầu ở chỗ nào làm chi? Có cần đi lên núi ông Cấm hay NgũĐài Sơn v.v... hay là đi tới những núi thật xa, thật cao t́m chỗ thanh tịnh đểt́m Phật không? Nếu biết th́ ngồi ở giữa chợ cũng có Phật. V́ tâm ḿnh là Phậtth́ ngay trong tâm, nếu biết chuyển đương nhiên chúng sanh trở thành Phật, nếukhông biết chuyển tức nhiên Phật làm chúng sanh. Thế nên Lục Tổ cố dạy chúng tamuốn thành Phật th́chuyển ngay Tự tâm ḿnh,đừng t́m kiếm nơi nào khác, t́m nơi khác là lầm! V́ thế Ngài bảo: Tất cả đềutrọn nơi tâm ḿnh, tại sao không ngay trong tâm ḿnh chóng thấy Chân như Bảntánh?
KinhBồ Tát Giới nói: Bản tánh của ta nguyên tự thanh tịnh, nếu biết được Tự tâm,thấy tánh đều thành Phật đạo. Kinh Tịnh Danh nói: Liền khi đó bỗng hoát nhiên được Bản tâm.
Tóm lại, trong đoạn này Lục Tổ muốn chỉ chúng ta rơ rằng, thành Phật hay thành chúng sanh là gốc nơi Tự tâm mê hay Tự tâm ngộ. Tâm mê là chúng sanh, tâm ngộ là Phật, nay chúng ta tu,muốn thành Phật phải nhắm vào chỗ nào mà tu? Muốn chuyển chúng sanh thành Phật phải chuyển từ đâu? Từ ngay nơi tâm chớ không c̣n lối nào khác! Như vậy chúng ta không thể nghe nói ông Phật hiện ở trên núi Cấm rồi nhất bộ nhất bái đến lạy để Ngài chứng minh cho ḿnh được thành Phật. Chúng ta phải ngay nơi tâm ḿnh khéo chuyển mê thành ngộ th́ đó là Phật. Chúng ta phải đào xới ngay nơi Bản tâm chớ đừng t́m kiếm ở đâu xa. Đây là gốc của sự tu hành.