TÌNH THƯƠNG

GIÒNG CHẢY CỦA VŨ TRỤ…

Tâm Huy

I.                    Tình Thương: Nó Là Gì?

            Chúng ta hãy tưởng tượng, có một ngày vũ trụ này không còn nữa, chúng ta sẽ ra sao? Hãy tưởng tượng, có một ngày, chúng ta thức dậy, chỉ có một mình chúng ta trong thế gian này, không có một bóng hình của cha mẹ, anh chị em, thân nhân, thân bằng quyến thuộc, bà con lối xóm, không có cả loài chim chóc, chó mèo, vạn vật vân vân và vân vân, thì chúng ta sẽ ra sao? Chúng ta sẽ khám phá ra chúng ta sẽ buồn tẻ đến mức độ nào. Chúng ta sẽ kinh hoàng khi cảm nhận rằng chỉ có một mình ta trơ trọi trong một thế giới quá mênh mông, không có bóng hình của một ai, ngoại trừ chỉ có riêng ta, như Tom Hank trong chuyện phim Cast Away, một mình lưu lạc trên hải đảo không một bóng người khi ông bị rớt máy bay. Lúc đó, có lẽ chúng ta sẽ cảm nhận được nỗi buồn thảm của Adam, khi sống đơn độc trong Vườn Địa Đàng, không có Eva, không có Thượng Đế, không có cả con rắn, không có cả cây Kiến Thức và cây Bất tử, có lẽ, Adam sẽ không còn muốn sống nữa, bởi cuộc đời của Adam sẽ hoàn toàn vô nghĩa dù rằng ông đang sống trong Vườn Địa Đàng, trong hạnh phúc trường cửu, liệu ông có còn muốn bất tử khi không có một ai để ông yêu thương, chia sẻ lẫn hy sinh hay không?

 Một con người, trong một thế giới quá lớn, chỉ có thể đối diện với chính mình trong nỗi đơn độc vô cùng tận, thì lúc đó chúng ta mới thắm thía được sự tương quan giữa ta và người, giữa ta và vạn vật, giữa ta và bất kỳ một sự vật gì nhỏ nhặt nhất trong đời sống. Cái ta và vũ trụ có một sự tương quan huyền diệu. Cái Ta liên hệ với tất cả mọi người, mọi loài, vạn vật, và toàn vũ trụ. Chúng ta sống trong một màng nhện khổng lồ. Chỉ một tác động nhỏ nhoi của chúng ta cũng có thể làm cho vũ trụ  rung động trong cùng một giai điệu. Chỉ một tác động nhỏ, dù thiện dù ác của chúng ta, cũng có thể  làm cho cả thế gian chuyển xoay. Có lẽ, bạn sẽ cười tôi, có lẽ, bạn sẽ cho rằng tôi đang nói chuyện viễn vông. Có lẽ, nhưng tôi xin bạn cho tôi một vài giây phút, chúng ta hãy nói về một khía cạnh quan trọng nhất trong cuộc đời của chúng ta,  một trọng tâm trong gần hầu hết mọi tôn giáo, và cũng là mục tiêu của những  bậc Giải Thoát, cũng như của những vĩ nhân, thi nhân, văn sĩ, đều đề cập đến nó…Chúng ta hãy nói về tình thương , và mức độ quan trọng của tình thương trong đời sống của chúng ta. 

Hãy cho phép tôi kể cho bạn nghe về những câu chuyện của lòng từ, về những con người sống với hạnh từ bi của họ. Hãy khoan đề cập đến tôn giáo, chúng ta hãy đặt thẳng vấn đề với chúng ta. Tình thương có quan hệ gì với chúng ta? Tại sao chúng ta phải có tình thương? Tại sao chúng ta cần lòng bác ái cũng như chúng ta cần hơi thở? Tại sao? Nó là gì? Có muôn ngàn vạn câu hỏi, nhưng bạn biết tại sao, tôi biết tại sao, nhưng chúng ta vẫn chưa thực thi một cách toàn vẹn lắm, có phải không? Để khỏi phí phạm thời giờ quí báu của bạn, chúng ta hãy đi vào những câu chuyện nhỏ này, những câu chuyện rất thật, nhan nhãn trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Dù muốn dù không, ít nhiều chúng ta cũng nghe nói đến, và ít nhiều chúng ta, kể cả chim choc, thú rừng, và vạn vật đã và đang sống trong nó, với nó.

Câu chuyện thứ nhất: 10 giờ, 30 phút ngày 8-10-2003, tại ấp Chợ, xã Định An, huyện Trà Cú (Trà Vinh), anh Phạm Văn Nghĩa, quê ở xã Yên Tiến, huyện Ý Yên (Nam Định) là công nhân công trình bến cá Định An, vận chuyển vật tư từ bờ ra cột mốc để thi công. Do sóng lớn thuyền nhỏ làm hai anh công nhân cùng đi trên thuyền của anh Nghĩa té xuống sông. Không quản nguy hiểm, anh Nghĩa nhảy xuống cứu được hai người bạn, nhưng do nước chảy mạnh, làm anh Nghĩa kiệt sức chết đuối.

Câu chuyện thứ nhì: Một tên cướp cầm dao lẻn vào nhà bếp của tiệm bánh mì ở vùng Hamilton, Ontario xứ Canada, và yêu cầu ông chủ tiệm, 48 tuổi, phải đưa tiền. Ronald Joseph Crawford, bạn của ông chủ tiệm và cũng là người mua hành thường xuyên, lúc đó đang ở đằng sau phòng nhà bếp, nghe tiếng la hét của ông chủ tiệm, vội bước vào nhà bếp, can ngăn tên cướp, nhưng lại bị hắn đâm vào ngực rồi bỏ chạy. Ông Crawford ngã quỵ xuống đất và được nhân viên cứu cấp đưa vào nhà thương, nhưng qua đời vì tim bị thương nặng.[1]

Chúng ta đã đọc qua ba câu chuyện trên về hạnh Bồ tát vĩ đại của ba nhân vật trên. Chúng ta hãy đi sâu vào tình thương. Tại sao họ lại có những nghĩa cử trên? Tại sao họ phải hành động như vậy? Và chúng ta hãy tìm hiểu tại sao tình thương lại có tầm mức quá quan trọng như vậy đối với chúng ta, đối với thế gian này, và kể cả mọi tôn giáo trên quả đất này…

 

II Tình Thương: Tiên Dược Chữa Lành Mọi Căn Bệnh

Chúng ta khi mới sinh ra đời, đã bắt đầu với tình thương của cha mẹ. Lớn lên một chút thì chúng ta sống trong vòng tay bao bọc của thế nhân, qua tình thương  của thầy cô, bạn bè, thân hữu. Sau đó, chúng ta lớn lên một chút nữa, thì chúng ta sống với vợ, với chồng, với con cái của chúng ta. Sợi dây tình thương bắt đầu nối kết từ thuở khai sơn lập địa và kéo dài mãi mãi cho đến bây giờ và mãi mãi ngàn sau. Nó là một dòng chảy không ngừng luân lưu, không biên giới, vô tận, và có lẽ đến cả vô thỉ vô chung. Chúng ta sống trong nó, sống với nó, như cá sống trong nước, như vạn vật trong vòng quay của vũ trụ. Nếu thiếu tình thương, hãy tưởng tượng chúng ta sẽ ra sao đây?

Trong hai câu chuyện trên, kể về Anh Nghĩa, một con người Việt Nam, và Ông Crawford, một con người Canada, hai người sống hai thế giới khác nhau, nhưng họ cùng hành động như nhau. Họ đã hy sinh thân mình để cứu bạn của họ. Họ là những nhân vật mà Thầy Thích Hành Đạt gọi là “Những Bồ Tát Giữa Đời Thường.” Vì cái gì  mà họ đã hy sinh như vậy? Vì tình thương ? Chắc chắn rồi. Chỉ có tình thương, họ mới có đủ can đảm để đương đầu với nguy hiểm, một cách tự nhiên, không do dự, không nao núng, có lẽ họ không ngờ rằng họ sẽ chết, nhưng điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là họ đã hy sinh thân mạng của họ để cứu người khác. Tôi cho rằng, nếu gặp một trường hợp như vậy, đối với kẻ xa lạ, thí dụ, bị nước lũ lụt cuốn trôi đi, họ cũng sẽ hành động như vậy, không một chút đắn đo và suy xét. Cho nên, tôi đã nhấn mạnh rằng Tình thương  có thể chữa lành mọi căn bệnh. Căn bệnh đầu tiên đó là căn bệnh sợ hãi. Hai câu chuyện trên, chúng ta đã thấy được rằng, anh Nghĩa và Ông Crawfort đã quên mất cả nỗi sợ hãi riêng mình, nỗi sự hãi lớn nhất trong nhân loại là sợ hãi cái chết, nhưng họ đã quên thân mình để cứu người khác. Vậy thì, tình thương  quả thật có công năng chữa lành căn bệnh sợ hãi. Đó là một thực tế hiển nhiên nhất mà chúng ta đã thấy.

Khi Đức Chúa Giê Su bị đóng đinh trên Thập Tự Giá, bạn nghĩ ngài có sợ hãi hay không? Tất nhiên là ngài sợ hãi. Bị đóng đinh trên Thập Tự Giá là một cực hình kinh khủng nhất mà loài người đã tạo ra. Tại sao ngài lại không sợ? Cũng vì tình thương của ngài đối với nhân loại. Nếu bạn là một tín đồ Công Giáo, bạn cảm nhận điều đó mỗi ngày. Dù đã hai nghìn năm trôi qua, nhưng bạn vẫn hết lòng tri ân ngài, có phải không? Tình thương của ngài quá lớn, quá lớn đến nỗi tình thương đó được mang theo trong suổi nguồn tâm linh của Thánh Francis, trong mỗi  bậc thánh của thế gian. Cũng vì lòng từ bi đối với mọi chúng sinh, Đức Phật cũng không quản  ngại từ bỏ cung điện vàng son, vợ đẹp con thơ, một mình dấn thân tầm đạo hầu mong cứu độ chúng sinh. Lời pháp của ngài vẫn còn mãi văng vẵng ngàn năm sau về lòng từ bi mà hàng triệu Phật tử đều kính cẩn noi gương. Vì suổi nguồn tình thương đó, bao bậc thánh, kể cả Thánh Gandhi với tinh thần bất bạo động của ông, đã giải phóng Ấn Độ khỏi sự đô hộ của Anh Quốc. Với suối nguồn tình thương đó, Mục sư Mark Luther King với bài diễn văn nổi tiếng của ông, “Tôi Có Một Giấc Mơ.”  Giấc mơ của ông là muốn giải phóng dân tộc của ông không còn bị sống cuộc đời nô lệ. Giấc mơ của ông là mỗi một người dân sống trên mảnh đất  Hoa Kỳ, dù khác mầu da, tín ngưỡng, văn hoá, nhưng vẫn sống với nhau bình đẳng, hòa thuận như anh chị em một nhà. Nhưng cũng vì tình thương vô tận đó mà ông bị ám sát, để sử xanh ngàn năm còn lưu lại trong lịch sử Hoa Kỳ.

Trong mỗi chúng ta, nỗi sợ hãi thứ nhì, sau cái chết là nỗi sợ hãi hỏa ngục theo Công giáo, và địa ngục, theo Phật Giáo. Chúng ta ai cũng thấy cái chết, cũng nghe qua về sự chết. Chúng ta mỗi người đều có người thân qua đời, và mỗi một ngày, chúng ta nghe nói về cái chết trên báo chí, trên những đài truyền thông, quan tin tức mỗi ngày, nhưng chính chúng ta chưa kinh nghiệm qua, chưa biết cái chết là cái gì? Chuyện gì sẽ xảy ra sau cái chết? Và mọi người ai cũng nơm nớp lo âu, cố gắng hành thiện, cố gắng tránh điều ác, cố gắng đi nhà thờ, hoặc tụng kinh, hoặc tin Thượng Đế, hoặc bất cứ niềm tin gì có thể giúp chúng ta không bị rơi vào địa ngục hay hỏa ngục. Thậm chí, có người còn cầu mong được trường sinh bất tử, một ước mơ mà nhân loại vẫn chưa thể toại nguyện được. Ai cũng sự chết, tất nhiên rồi, nhưng qua hai câu chuyện kể trên, anh Nghĩa và  ông Crawford đã không sợ hãi cái chết, dù họ không biết họ sẽ được lên Thiên đường hay hỏa ngục, dù chúng ta không biết họ có đức tin gì, nhưng điều đó không quan hệ. Tôi tin rằng, với tình thương, với tấm lòng đầy từ ái của họ, họ có thể dấn thân vào bất cứ nơi nào, kể cả hỏa ngục cứu người thân lẫn người sơ. Lửa hỏa ngục sẽ tắt ngắm dưới đôi chân từ ái của họ. Họ sẽ không nao núng, cũng như có nhiều cảnh sát mỗi ngày bước ra khỏi nhà không nao núng, cũng như lính cứu hỏa không nao núng, cũng như những chiến sĩ sa trường không nao núng. Sẽ không có hiểm nguy, nỗi đau đớn hay cực hình, hay khổ nạn nào làm cho họ phải sợ hãi. Sợ hãi làm cho chúng ta cách biệt với Thượng Đế, với nhân loại, với vạn vật, với hỏa ngục. Sợ hãi không giúp gì được cho chúng ta, kể cả nỗi sự hãi Thượng Đế, chỉ làm sa đọa tinh thần của chúng ta, biến chúng ta thành những con người vị kỷ, ham chết cầu sống để hòng lợi lạc cho riêng mình. Đó là con đường vào hỏa ngục nhanh nhất. Trước nhất, nó sẽ hủy diệt lòng từ trong chúng ta, cách biệt chúng ta với mọi loài, mọi người, và sau đó là Thượng Đế, nhưng với tình thương, chúng ta có thể ngang nhiên dẫm chân trên tất cả, thách đố cùng tất cả mọi hiểm nguy, đau khổ lẫn sợ hãi, và dĩ nhiên, Thượng Đế nếu là tình yêu, tôi tin rằng ngài không bao giờ tạo ra hỏa ngục. Nếu có hỏa ngục, hỏa ngục lớn nhất nằm ngay trong tâm của chúng ta, trong dục vọng, trong nỗi sự hãi, qua lòng vị kỷ, và qua tham sân si vô tận của chúng ta. Nếu tâm hồn bạn dồi dào tình thương, như tình thương của Thượng Đế, của Đức Phật, của Đức Chúa Giê Su, tôi bảo đảm với bạn là bạn sẽ đi vào hỏa ngục để giúp đỡ cho mọi chúng sinh, dù là bị lửa hỏa ngục thiêu đốt bạn đời đời, vô lượng kiếp. Chắc các bạn Kitô Giáo cònnhớ lờI khẳng định của Thánh Gioan:

1Ga 4:18:  Tình yêu không biết đến sợ hãi ;
trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi,
vì sợ hãi gắn liền với hình phạt
và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo
.

Lúc nhỏ, khi giảng cho tôi nghe lòng từ, về tình thương, cha tôi viết cho tôi một chữ Trung Hoa, chữ Nhẫn. Tôi thắc mắc hỏi cha tôi, chữ Nhẫn có liên quan gì đến lòng nhân ái, đến lòng từ, đến tình thương. Cha tôi đã giải thích cho tôi nghe. Chữ Nhẫn của người Trung Hoa, là chữ ghép của chữ Trái Tim, và chữ Dao xuyên ngang trái tim. Ông bảo rằng, chữ Nhẫn, nằm ngay trái tim. Với tình thương, tự nhiên chúng ta sẽ có sự nhẫn nhục, sẽ có sự hy sinh, chúng ta sẽ có sự tha thứ, sẽ có sự chịu đựng, sẽ có sự dũng cảm, sẽ có sự can trường, sẽ có sự bền chí, và từ  suối nguồn tình thương, những phẩm hạnh cao quí khác nữa thăng hoa trong chúng ta, trong đời thường, và cả đời sống tâm linh của chúng ta. Từ tình thương, chúng ta gieo trồng hạt giống hạnh phúc khác trên mỗi bước đường của đời sống mà chúng ta đang đi qua.  Tình thương sẽ chữa lành nhiều căn bệnh cho chúng ta, kể cả căn bệnh đau khổ, căn bệnh lười biếng, căn bệnh tham sân si,

 

III. Tình Thương: Hữu Lậu Và Vô Lậu.

Có lẽ, bạn sẽ thắc mắc, đáng lý tình thương phải mang đến cho chúng ta hạnh phúc, của cải vật chất lẫn tinh thần và sự phong phú nội tâm, kể cả một chỗ đứng trong Thiên đường, thay vì hỏa ngục, nhưng tại sao trong tình thương, chúng ta phải nhẫn nhục, phải tha thứ, phải chịu đựng, phải dũng cảm, phải bền chí, phải khốn khổ, phải hy sinh kể cả thân mạng của chúng ta?  Trong nhà Phật, tình thương gồm chứa hai phần, lòng từ hữu lậu và lòng từ vô lậu.

Tình thương  hữu lậu là chúng ta ban bố tình thương, nhưng chúng ta cầu được đền đáp, được bồi đắp, hay được ban thưởng trở lại. Còn tình thương vô lậu là tình thương chúng ta chỉ hành mà không cần sự ban thưởng của bất kỳ một ai, hay cần một ai biết đến. Thí dụ, tình thương cha mẹ, chúng ta hiểu rằng đó là tình thương vô lậu. Cha mẹ cho mà không đòi hỏi con cái phải đền đáp lại, nhưng tình yêu vợ chồng, giữa nam và nữ, có thể kể là  tình thương hữu lậu vì chúng ta cần được bồi đắp, cần được đền đáp. Nếu chúng ta đi chùa, hay nhà thờ, vì chúng ta sợ hãi địa ngục, hỏa ngục. Chúng ta tin Thượng Đế nhưng chúng ta muốn ngài phải dành cho chúng ta một chỗ ngồi trong Thiên đường, hay một đời sống giầu sang đầy phước báu, thân thể tươi đẹp, hay một cảnh giới nào đó, đều đều hưởng những phúc lành tốt đẹp thì niềm tin này là niềm tin hữu lậu. Đối với niềm tin vô lậu, chúng ta làm qua tâm tự nhiên, không đòi hỏi ngài phải ban bố hạnh phúc trường cửu, một chỗ ngồi trong thiên đường cho chúng ta. Chúng ta chỉ hành nhưng quên đi, có lẽ chính vì vậy, Đức Chúa Giê Su đã nhấn mạnh, “Mt 6:3   Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, [2] Đây là một cách cho vô lậu, không đòi hỏi phải đền đáp lại. Cho một cách tự nhiên. Tình thương nếu đến tự nhiên, như sự hy sinh của Anh Nghĩa, và ông Crawford, đó là tình thương vô lậu. Tình thương của Đức Chúa Giê Su, Đức Phật Thích Ca, của những bậc thánh nhân, vĩ nhân đều là tình thương vô lậu, một tình thương vác Thập Tự Giá, hay từ bỏ tất cả để dấn thân vào con đường hạnh nguyện, giúp chúng sinh ly thoát đau khổ, Tình thương đó sẽ có đầy đủ những đức tánh cao quí như hạnh nhẫn nhục, chịu đựng, đau khổ, hy sinh, tha thứ, dũng cảm, bền chí, vân vân và vân vân, bởi vì tình thương của những bậc như vậy, quá lớn lao, quá vĩ đại, nên tình thương của họ của họ có thể để lại cho hậu thế hằng nghìn năm, có tác động lớn trong tâm linh nhân loại, và tình thương của họ có thể thay đổi chúng ta, hoán chuyển chúng ta cực kỳ mãnh liệt và vĩnh viễn. Trong khi tình thương hữu lậu trong con người bình thường, sẽ có phần thưởng của hạnh phúc, nhưng hạnh phúc đó ngắn hạn, không trường tồn, và sau hạnh phúc ngắn hạn đó, chúng ta, lần nữa, sẽ chìm đắm trong sợ hãi lẫn đau khổ. Trong niềm tin hữu lậu của chúng ta, mong cầu thoát ly hỏa ngục, chỉ kéo chúng ta gần với hỏa ngục hơn. Nhưng với niềm tin vô lậu, chúng ta không cần hỏi, không cần tìm kiếm, chúng ta vẫn có thể an nhiên tự tại trong hạnh phúc vô tận của thiên đường ngay tại trần gian này.

 

IV. Tình Thương: Giữa Con Người Và Vạn Vật Chúng sinh.

            Chúng ta đã qua đề cập tình thương giữa con người với con người, giữa con người và vấn nạn tâm linh, tình thương giữa con người so sánh với tình thương của các Đấng Giải thoát. Chúng ta hãy thử nói về tình thương giữa con người và thế giới của họ, giữa họ và mọi loài. Khi tâm hồn chúng ta dồi dào tình thương, chúng ta sẽ thẩy mọi loài đều bình đẳng. Đức Phật có dạy, “Đồng Thể Tức Đại Bi” hay câu “Chúng sinh đồng nhất thể.” Một trong năm giới đầu tiên của người Phật tử là không sát sinh. Tình thương của ngài không chỉ riêng dành cho con người, nhưng cho cả vạn loài chúng sinh trong sáu cõi lục đạo, từ loài nhỏ bé nhất đến loài người trong cùng khắp thế giới. Trong Kinh Thánh có lời dạy, “Một người thiện sẽ xem trọng sự sống mọi loài vật.”[3]. Isais còn xác định Kẻ sát tế bò cũng là kẻ sát nhân,
người hiến tế chiên cũng là người giết chó,
kẻ dâng lễ phẩm lại là kẻ dâng máu heo,
người dâng hương kính Đức Chúa lại là người thờ ngẫu tượng..”[4] (Isaia 66:3)

Thánh Vịnh cũng nhắn nhủ dân Ngài: “Thiên Chúa thương yêu tất cả. Ngài luôn dịu dàng và nhân từ với mọi sáng tạo của ngài.”[5] Thánh Francis là một điển hình. Nghe nói, ngài rất nhân từ với mọi loài vật. Ngài còn là một tu sĩ theo phái khổ tu. Tình thương của chúng ta không nên chỉ giới hạn với con người, nhưng đồng với mọi loài, mọi giới, mọi vật. Chúng ta hãy tưởng nghĩ, khi bạn bắt một con vật ra sát hại, nỗi sự hãi của nó cũng kinh khủng như sự sợ hãi của con người  khi đối diện với cái chết. Nhưng cái chết của nó khủng khiếp hơn. Mỗi một con vật nào mà có thể ăn được, khi rơi vào đôi tay của con người, chúng ta sẽ tùng xẻo nó không một chút nương tay. Chúng ta bầm con vật ra thành từng mảnh, xào nấu, có khi ném chúng vào lò nước sôi, hay lò lửa khi chúng còn dẫy dụa trong sự sợ hãi. Đây là một cái chết khủng khiếp, tàn nhẫn, như bao cái chết khác của người dân Do thái trong lò hỏa thiêu. Chúng ta có thể nào vẫn sát sinh hại vật khi chúng ta còn ca tụng lòng yêu thương của Thượng Đế? Chúng ta có thể nào xé nát con vật làm thức ăn khi chúng ta vẫn mỗi ngày nguyện cầu, hay van vái, Thượng Đế, hay các bậc Bồ tát cứu độ chúng ta? Chúng ta có thể nào, tàn hại những sinh vật yếu đuối để chỉ thoả mãn lòng tham dục của chúng ta? Chúng ta nuôi một con bò, chúng cày bừa nuôi sống cả gia đình chúng ta, nhưng có một ngày, chúng ta đem nó ra tùng xẽo, xào nấu, vui thú trên xác thân của chúng? Đối với một con người bình thường, khi có ai ban bố, hay giúp đỡ chúng ta một điều gì, chúng ta sẽ luôn hết lòng tri ân. Khi Đức Chúa Giê Su hy sinh sự sống của ngài cho loài người, chúng ta tri ân ngài đến ngàn năm sau, nhưng khi một con bò, con trâu, cấy cày, làm việc cật lực mỗi ngày, dưới ánh nắng thiêu đốt, dưới lằn roi hung bạo, tàn nhẫn của chúng ta, sau đó, chúng ta còn băm da xẽ thịt nó để thụ hưởng. Chúng có thể được xem là một bậc bồ tát, đã hy sinh tận tụy một đời cho chúng ta như vậy, thử hỏi, chúng ta có thể nở lòng nào lập đi lập lại nhiều câu sáo ngữ về tình thương Thượng Đế? Về tình thương đối với tất cả?  Chúng ta có thể nào, kêu gào, tụng niệm mỗi ngày, trong khi con dao đồ tể của chúng ta không ngừng chém xuống trên xác thân của những con vật yếu đuối, cũng cầu sống sợ chết như con người? Nếu tình thương bao gồm cả sự bình đẳng, chúng ta đã không nở phá rừng, xẻ núi lẫn hủy diệt mọi loài thủy sản đang nhởn nhơ dưới lòng biển xanh bao la, tàn hoại bao sinh linh để cầu sống cho riêng mình. Mỗi bước chân của chúng ta đi qua, để lại bao nhiêu sự chết chóc cho mọi loài yếu đuối, kể cả vạn vật lẫn thiên nhiên tươi đẹp, trong khi chúng ta kêu gọi lòng từ bi, và mỗi ngày khuyến dụ lòng nhân ái, trong khi chúng ta chưa bao giờ thực thi  những điều đó. Có lẽ, bạn sẽ cho rằng tôi quá cực đoan. Tôi nhớ có đọc một bản văn, không nhớ là của ai, nói rằng bao tử  loài người là nghĩa địa của chúng sinh. Đó là một sự thật, một biểu hiện tình thương trong chúng ta một cách chua chát.  Chúng ta sợ hãi hỏa ngục, nhưng sẽ không bao giờ nương tay ném những con vật yếu đuối, đáng tội nghiệp vào lò lửa, vào lò nướng, lò nước sôi. Chúng ta sáng tạo địa ngục, hỏa ngục cùng khắp thế gian, nhưng chúng ta lại tuyên dương tình thương, và cầu nguyện mỗi ngày để khỏi bị sa vào hỏa ngục, hay địa ngục. Một thực tế khá trắng trợn, nhưng chúng ta không nhận thức được trong cái chiêu bài được gọi là tình thương.  Thánh Phaolô cảnh báo “Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy.”[6] Nếu chúng ta mang hoà bình đến cho mọi loài, mọi người, mọi vật, chúng ta sẽ không bao giờ còn sợ hãi hỏa ngục nữa. Trong chúng ta đã tìm thấy nước Trời rồi.

 

IV. Tình Thương: Tâm Tương Ứng Với  Cõi Thiên Quốc.

          Chúng ta luôn hằng cầu mong Thiên Quốc, chúng ta cầu mong hạnh phúc đời đời. Tâm là biến hiện của tất cả. Nếu chúng ta lành, chúng ta sẽ nhận lãnh điều lành. Chúng ta với trái tim bất thiện, chúng ta sẽ nhận lãnh điều thiện. Ai cũng biết đến điều đó. Chúng ta sống trong thế giới Ta Bà vì tâm của chúng ta chỉ tương ứng với cảnh giới Ta Bà. Nếu có người bị đày đọa hỏa ngục đời đời, cũng vì tâm của họ tương ứng với cõi hỏa ngục. Nếu chúng ta muốn tiến hóa lên cảnh giới cao hơn như Thiên Quốc, hay cõi Tịnh độ, tâm của chúng ta phải tương ứng với cảnh giới đó. Đức Chúa Giê Su có một chỗ ngồi bên cạnh Thượng Đế, bởi tâm ngài tương ứng với cõi Nước Trời. Có những bậc thánh có thể nhỡn nhơ vui chơi trên tầng trời của họ, bởi tâm họ tương ứng với tầng trời đó. Nếu bạn muốn lên nước Trời, muốn được hạnh phúc, muốn được sống trong cõi vĩnh hằng, bạn phải có tâm tương ứng với cảnh giới đó. Chúng ta không thể ô nhiễm Thiên Quốc, Niết bàn qua mọi thói quen xấu của chúng ta. Chúng ta không thể đặt chân luôn nước Trời, trong khi chúng ta vẫn còn thoả mãn dục vọng trên sự sống của muôn loài. Chúng ta muốn sống trong cảnh giới của tình thương, của Thượng Đế, của Đức Chúa Giê Su, hay những cảnh giới cao, tâm của chúng ta phải sở hữu loại tình thương vô lậu như các ngài. Chúng ta không thể đòi hỏi chúng ta có được chỗ ngồi trên Thiên Quốc, trong khi chúng ta vẫn luôn gian dối, vẫn tham sân si, vẫn nói lời ác độc, vẫn tàn nhẫn với người khác, với mọi loài, với mọi chúng sinh. Chính như vậy, Thượng Đế là tình yêu[7].  Ngài biểu hiện cho tình yêu. Ngài không ban bố tình yêu, nhưng hiện thân của ngài là tình yêu, nên ngài bất tử, và ngài bao la trong mọi ngỏ ngách của sự sống. Nếu chúng ta muốn cùng tận hưởng thế giới của ngài, chúng ta phải có một tâm hồn như ngài. Nếu chúng ta muốn phúc lạc, mỗi bước đi của chúng ta phải ban bố phúc lạc. Nếu tâm hồn của chúng ta không siêu việt như ngài, chúng ta không thể sống được trong thế giới huyền diệu của ngài. Chúng ta phải tự Nếu tâm của chúng ta không tương ứng với ngài, làm sao chúng ta có thể sống nổi trong thế giới của ngài đây?   

IV. Kết Luận.

          Một đời sống vĩnh cửu là một đời sống tràn trề tình thương. Tình thương là một dòng chảy không ngừng, là suối nguồn hạnh phúc của mọi loài, mọi người, của tinh tú, của trăng sao, của mật ngọt loài ong, của lời chim líu lo ngọt ngào của bình minh rực chiếu. Nếu thế giới chúng ta thiếu vắng tình thương, chúng ta không thể tồn tại. Chúng ta ra đời trong vòng tay yêu thương của cha mẹ, rồi sau đó là tha nhân. Chúng ta một mai sẽ chết đi trong tình yêu vô sanh vô diệt của Thượng Đế. Thế giới này sẽ bị hủy diệt nếu chúng ta không thực thi lòng từ với người thân, kẻ sơ. Nếu chúng ta muốn có một cuộc sống đấy dẫy ân huệ, hãy sống với một tấm lòng đầy ân huệ. Hãy tri ân thế giới này, kể cả cành cây ngọn cỏ, kể cả những chú  kiến cần cù làm việc, kể cả tàng cây xanh trước nhà. Hãy tập những thói quen mới, luôn trân trọng những gì mình sở hữu, luôn hân hoan đón chào những ngày dù tốt dù xấu. Hãy sống với trái tim Thiên quốc của chúng ta. Hãy tập sống như một con dân trong cõi Thiên Quốc mỗi thời khắc, mỗi giây phút với bất kỳ một ai, với bất kỳ mọi loài nào với một tâm thức bình đẳng, luôn tôn trọng sự sống của mọi loài, như chúng ta hằng mong Thượng Đế trân trọng sự sống của chúng ta. Hãy tập sống tương ứng với cảnh giới Thiên đường ngay bây giờ. Đó là con đường hướng ta về Nước Trời. Hãy bắt đầu với chúng ta trước. Hãy để dòng chảy của tình thương, Alpha và Omega, luôn luân lưu. Hãy là suối nguồn của tình thương trước khi chúng ta mong mỏi tình thương của Thượng Đế.  Hãy thực thi lòng nhân ái ngay bây giờ , trong giây phút của thực tại…Tôi xin cầu nguyện cho tất cả…hằng sống trong…tình thương…vô lậu…như những bậc Bồ tát trong đời thường…

           

 

07/25/2007

 


[1] Bồ Tát Giữa Đời Thường: Thích Hành Đạt. www.thuvienhoasen.org

 

[2] when you give alms, do not let your left hand know what your right is doing Mat 6:3

[3] "A righteous man regardeth the life of his beast." Proverbs 12:10.

[4] "He that killeth an ox is as he that slayeth a man." Isaiah 66:3

[5] "The LORD is good to all: and his tender mercies are over all his works." Psalms 145:9

[6] “What You Sow, You Reap” Galatians 6:7

[7] Whoever is without love does not know God, for God is love." ( 1 John 4:8 ) Tạm dịch “Bất cứ một ai  thiếu vắng tình yêu sẽ không biết Thiên Chúa là gì?” (1 John 4:8)