CHƯƠNG I
THIẾN LÀ TRÍ TUỆ CỦA SINH HOẠT
THIỀN LÀ THUỐC CÓ CÔNG HIỆU
ĐẶC BIỆT ĐỂ AN ĐỊNH TÂM
THẦN
Có lẽ
độc giả sẽ nghi ngờ về những lời nói của tôi, nhưng tôi cũng chẳng
phải là ngữ bất kinh nhân. Tôi nghĩ rằng muốn dùng nhận xét của tôi
để giải thích về thiền, th́ tốt hơn nên dùng quan điểm của Phật giáo
nguyên thuỷ sẽ chính xác hơn.
Cái
gọi là “Thiền”, kỳ thực không phải là chiến lợi phẩn của Phật giáo.
Chữ
“Thiền”, nguyên là tiếng Ấn Độ. Phạn ngữ của Ấn Độ gọi là dhyana,
tiếng paĺ th́ đọc là jhàna, âm Hán ngữ dịch là “Thiền Na’ hoặc
“Thiền”
Ngoài
ra cũng c̣n gọi là “Thiền định”, lấy cái ư để dịch là “Định”, cộng
thêm dịch âm chữ “Thiền” gộp lại thành “Thiền định”. Ư thiền (Thiền
định) là một phương pháp điều phục tán loạn, và là một phương thức
chuyên nhứt làm cho an định. Cho nên cũng có người phiên dịch chữ
“Thiền” là “Tịnh lự”.
Theo
truyền thuyết, đó là một phong tục tập quán từ ngàn xưa của Ấn Độ.
Dựa vào suy đoán của các chuyên gia học giả, th́ trước khi dân tộc
Nhă Lợi An xâm nhập Ấn Độ (3), dân nguyên quán của Ấn Độ đă có phong
tục tập quán này. Từ các di vật văn minh cổ dưới sông Ấn Độ được
ngành khảo cổ khai quật, đă phát hiện những h́nh tượng người đàn ông
ngồi thiền, do đó có thể tin tưởng rằng suy đoán đó là chính xác.
V́
thế, không riêng Phật giáo, các tôn giáo khác ở Ấn Độ cũng đă sử
dụng phương thức thiền định để tu hành. Trong gia đoạn tu hành của
đức Thích Tôn, ngài đă từng tập ngồi thiền với hai vị khổ hạnh tăng,
nghĩa là toạ thiền đă có trước khi ngài khai ngộ, chuyện Bồ Đè Ca
việc ngồi thiền dưới gốc cây Bồ Đề cùng là việc ai cũng biết. Từ đó,
chúng ta biết rằng trong thời đại Phật Giáo nguyên thuỷ, ngồi thiền
là phương thức tu hành của mọi hành giả thuộc các tôn giáo Ấn Độ chứ
chẳng phải chỉ chuyên biệt của Phật giáo đồ.
Đă
biết thế, tại sao mỗi khi đề cập đến “Thiền” (hoặc ngồi thiền) th́
bị cho là pháp riêng của Phật giáo đồ? Đây là một vấn đề hết sức thú
vị.
Thực
ra, v́ do có điển cố.
Phật
giáo nguyên thuỷ, đă đem pháp môn tu hành chia ra làm giới, định,
huệ, gọi là tam học. Ba loại pháp môn này lấy hoạt động của tâm thức
chia ra làm 3 lực vực “Tri, T́nh, Ư”, rồi phân biệt từng thứ của ba
lănh vực, và tu hành thêm để đạt đến cảnh giới tối cao. Ư nghĩa đó
xin được nêu rơ dưới đây:
Giới
học – Ư – Pháp môn tu hành của chỉa ác tu thiện.
Định
học – T́nh -- Bỏ hết tạp niệm, pháp môn tu hành của thống nhất tâm
thức
Huệ
học – Tri -- Đoạn trừ phiền năo, pháp môn tu hành của triệt ngộ thế
gian chân tượng.
Ba
loại công phu tu hành này nếu thiếu một th́ không thể được, nó tương
phụ tương thành, nhưng chẳng qua v́ phương tiện đối với chúng sanh
mà nó được chia làm ba.
Nhưng,
cái gọi là thiền trong Phật giáo Trung Quốc (Thiền định, thiền toạ),
thông thường không chỉ nói về “Định học trong tam học”, mà c̣n bao
hàm cả sự thống hợp của cả tam học. Có thể nói,
thiền không
những bao hàm việc mở mang trí huệ và công phu toạ thiền, mà hơn thế
nữa, sự đi đứng ngồi nằm thường ngày đều cũng có thể tu thiền như
nhau.
Người đă hoàn thành lư luận này để làm nguyên lư phát biểu, chính là
Lục Tổ Huệ Năng đời Đường. V́ thế ở Trung Quốc, có thể nói “Thiền
tức là Phật giáo”.