CHƯƠNG II
HƯỚNG CAO TĂNG HỌC TẬP THIỀN TÂM
CẢM THỌ MŨI TÊN THỨ HAI
Đức
Thích Tôn (Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn) là tổ sư của Phật giáo, từ đây,
xin bắt đầu từ ngài để luận cập
Tuy
bảo là từ đức Thích Tôn trở về sau, nhưng nếu chỉ tuỳ tiện bàn về
cuộc đời của đức Thích Tôn, th́ lại có lỗi với độc giả. Tôn chỉ chủ
yếu của quyển sách này là muốn đưa quư vi bước vào “Cảnh địa thiền”.
Mặc dù thiền sở nghiễm nhiên có thể là đại danh từ của Phật giáo,
nhưng chắc chắn phải có điểm vô cùng đặc sắc hướng dẫn mọi người lần
lượt thể nhập vào diệu cảnh, nếu không thấy ngay điểm này, mà chỉ
nói về thuở b́nh sanh của đức Thích Tôn, th́ đó là sự sơ suất của
bút giả.
Mặc dù
nói thế, nhưng trong việc ghi chép nếu có bất cứ sự kiện nào có liên
quan đến cuộc đời của đức Thích Tôn, cũng điều có những lời lẽ có
thể làm kim chỉ nam để Phật giáo thành một nhất thể. Đồng thời, bởi
v́ kinh điển nguyên thuỷ của Phật giáo (A Hàm Kinh) (1) đă ghi chép
về những bài thuyết pháp đối với đệ tử của ngài, v́ thế việc hướng
dẫn quư vị lư giải giáo nghĩa Phật giáo cũng là một trợ ích rất lớn.
Như thế, bút giả đă không thờ ơ đối với quư vị.
Mặc dù
đọc qua đoạn trên có lẽ có ǵ rất nghiêm túc, thật sự, nội dung đă
chẳng có ǵ hứng thú. Tôi cũng muốn ở ngay nơi khởi đầu bắt chước
các thiền sư “thét” một tiếng lớn trước, để triển hiện nhiều phương
diệu dụng của tâm thiền ngộ, nhằm dễ tạo cho độc giả thêm phần hứng
khởi, và dần dần sẽ đưa tới thoại đề sâu hơn. Trong đầu tuy sắp xếp
bài bản đại cương như thế, thực tế đă không tiến hành theo ư nghĩ.
Mong rằng quư vị độc giả chịu khó nhẫn nại:
“Này
các Tỳ Kheo (2): Phàm phu quả văn (ít nghe) có cảm thụ chân t́nh, đệ
tử hữu văn cũng có cảm thụ chân t́nh, thế th́ đệ tử hữu văn và phàm
phu có học đă khác nhau điểm nào?”
Đức
Thích Tôn khi bắt đầu thuyết pháp, thường có vấn đề được khơi mào
trước để mở đầu. Đoạn mào đầu này đương nhiên liên quan đến chủ đề
thuyết pháp hôm ấy. Thường là lúc ấy có những đệ tử tác bạch rằng:
“Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, chúng con đều là người tính phụng những
lời đă dạy của đức Thế Tôn (Thích Tôn), cúi xin đức Thế Tôn từ bi
dạy dỗ chúng con!”
Quan
lời thỉnh cầu này, đức Thích Tôn bắt đầu thuyết pháp. Đây là phương
thức thường được sự dụng để dạy Phật tử của Phật giáo nguyên thuỷ.
Nói
đến thánh đệ tử hữu văn và phàm phu quả văn, th́ cái gọi là “văn”,
là lắng nghe giáo pháp, là ư nói học tập. Giữa những đệ tử học Phật
và phàm phu không học Phật đă có điểm nào sai biệt? cả hai đều có
tác dụng cảm thụ, có đúng thế không? Đức Thích Tôn đă đưa ra vấn đề
như thế.
Tác
dụng cảm thụ nếu lấy dụng ngữ Phật giáo để bàn luận th́ bảo đó là
“Thọ”. Ví như vào một buổi sáng tuyết phủ khắp nơi, khi chúng ta vừa
chợt mở mắt đă thấy chung quanh là một thế giới phủ đầy màu bạc
trắng, trên không trời lại trong xanh, v́ không dằn được xúc cảm,
chúng ta bật miệng la lớn: “A! đẹp quá!” cảm quan như thế chính là
“THỌ”.
Đương
nhiên, “Thọ” không chỉ là một khoái cảm không thôi, ngược lại nó c̣n
bao gồm cả thứ cảm giác khó chịu giống như bị một người nào dẫm phải
chân ḿnh trên xe bus. Ngoài ra, c̣n có một loại cảm ứng không khổ
không sướng. Trong ngôn ngữ Phật giáo, khoái cảm gọi là “lạc thọ”,
cảm giác không vui gọi là “khổ thọ”, cảm giác không nhớ gọi là
“không khổ không sướng thọ hay “xả thọ”. Ba loại thọ này dù bất cứ
người đệ tử nào của Phật dạy hay phàm phu cũng đều có cùng cảm thọ
như nhau. Nói thế, cuối cùng đệ tử Phật và người phàm tục đă khác
nhau điểm nào?
Đức
Thích Tôn đă giáo thị như sau:
Này
các Tỳ Kheo! Ví như lấy tên đâm người, đâm một mũi rồi đâm tiếp mũi
thứ hai. Này các tỳ kheo! người như vậy có cảm thọ hai mũi tên.
Giống như thế, phàm phu chưa tu tập giáo pháp, ngay khi cảm nhận khổ
thọ khó chịu nếu không ưu sầu, năo nộ hoặc bi thương th́ cũng đấm
ngực dậm chân, rên rỉ khóc lóc. Loại phàm phu này có cùng một thức
cảm thọ đồng thời, tức là vừa đau khổ trên nhục thể vừa đau khổ trên
tinh thần.
Này
các tỳ kheo! Ví như lấy tên đâm người, sau khi đâm mũi tên đầu rồi
đâm tiếp mũi thứ hai. Này các tỳ kheo! Người bị như vậy cảm thọ chỉ
một mũi tên. Giống hệt như thế, những thánh đệ tử đă tu tập giáo
pháp, từ cảm thọ tới cảm thọ khó chịu, nhưng chẳng ưu sầu, khổ năo
và bi thương, cũng không đập ngực dậm chân, rên rỉ khóc lóc. Những
thánh đệ tử chỉ có một loại cảm thọ, tức là chỉ có đau khổ trên nhục
thể, mà không có đau khổ trên tinh thần...
“Tương
ứng bộ kinh điển” 36.6 (Tiễn) (3)
Đức
Thích Tôn lấy việc tên đâm để ví dụ tác dụng cảm thọ chớp nhoáng của
chúng ta. Trong mỗi sát na chớp nhoáng, những đau khổ, tốt đẹp, chê
ghét, vui thích, lạnh, nóng, đẹp, xấu mà chúng ta đă cảm thọ v.v.
giống như cảm thọ giác bị đâm trúng một mũi tên.
Những
cảm thọ này, dù là người đă khai ngộ hay người chưa khai ngộ cũng
đều giống hệt như nhau. Nhưng phàm phu sở dĩ là phàm phu, chủ yếu
vấn đề sau khi trúng tên. Thông thường, bị trúng mũi tên thứ nhứt,
kế tiếp lại trúng mũi tên thứ hai. Ví như, khi bị dẫm trúng chân
trên xe buưt: “Đau quá!” sau khi ư niệm này chợt thoáng qua trong
óc, tiếp đến lại nổi lên ư niệm thứ hai: “Đồ khốn nạn! mày muốn chết
à!” chẳng khác nào mống khởi tâm tính giận ghét đối với đối phương.
Hoặc giả khi đi trên đường, trông thấy bên lề có đoá hoa đẹp, th́
trong ḷng phát sinh suy tính: Sau khi thốt lên “Chà! đẹp quá!”, th́
sau đó đưa tay hái đoá hoa ấy mang về để cắm trong b́nh. Đây tức là
mũi tên thứ hai mà phàm phu nhận lấy. Nhưng đối với Phật tử đă khai
ngộ th́ khác. Trông thấy cảnh vật đẹp, chỉ cảm thấy là đẹp để thưởng
thức; lúc đau, chỉ la lên bởi trực giác: “Đau qua!” V́ khác nhau như
thế, nên giữa thánh đệ tử và phàm phu có sự cách biệt rất xa.
Quư vị
độc giả c̣n nhớ mẫu chuyện “Cô mộc hàn nham” ở đoạn đầu? Tôi từng đề
cập câu nói mà ta cho rằng không đúng của Thanh tăng. Quư vị có lẽ
lúc đầu đă không hiểu được ư của tôi, nhưng nay đă tỏ tường tại sao
đối với lời nói ấy tôi lại cảm thấy không đúng.
Bởi v́
đối với ông ta cả đến “mũi tên thứ nhất” cũng đều bị phủ định. Trông
thấy gái đẹp th́ trực giác cảm thấy: “Đẹp quá!”, đây là mũi tên thứ
nhất. Mũi tên này không luận là phàm phu hay thánh đệ tử đều có cùng
cảm thọ.
Mặc dù
như thế, nhưng ngay cả cái cảm thọ lẽ ra nên có nầy đă bị ông cố ư
phủ định. Có lẽ v́ ông cho rằng, là người xuất gia, cho nên thậm chí
mũi tên thứ nhất cũng không thể cảm thọ! Đây thực là lối kiến giải
hoàn toàn sai lầm. Đức Thích Tôn chưa từng dạy bảo như thế. Trông
thấy mỹ nữ cảm thấy “đẹp” là lẽ tự nhiên. Chỉ cần không nhận thêm
mũi tên thứ hai.
Dù bảo
như thế, nhưng làm thế nào để khỏi cảm thọ mũi tên thứ hai? Đó là
trọng điểm. Khi gái đẹp gọi: “Lại đây! Ôm lấy tôi”, lúc ấy nên ôm
hay không? Mũi tên thứ nhất dứt từ lúc nào và khi nào mới có thể bắt
đầu tính là mũi tên thứ hai?
Có một
mẫu chuyện như sau:
Một vị
thiền sư nọ dẫn theo một số đồ đệ đi vân du. Một hôm, đoàn người gặp
một cô gái ở bờ sông. Cô này muốn qua bên kia sông nhưng ngặt không
có ai giúp cho, nên đành buồn bă ngồi đó chịu đựng. Khi đoàn người
của thiền sư vừa đi đến, cô liền thỉnh cầu giúp đỡ.
“Ô!
được! được!”
Thiền
sư không chút do dự, thản nhiên ẵm cô gái lội qua sông.
“Thật
là một sư phụ sảng khoái, nhanh nhẹn!” Cô gái thốt lời dịu ngọt tâng
bốc trêu ghẹo thiền sư. Sau khi qua sông cô cảm ơn rồi từ biệt, đoàn
thiền giả lại tiếp tục cuộc hành tŕnh.
Một
lúc sau, có một vị đệ tử trong đoàn không nhịn được, cuối cùng mở
miệng: “Bạch thầy! Vừa rồi thầy làm như vậy có đúng không? Chúng con
xưa nay vốn rất tôn trọng thầy, nhưng vừa rồi trông thấy hành động
và lời nói của thầy, thật là khiến chúng con vô cùng thấy vọng”.
Những đệ tử khác hùa theo, tỏ ra thái độ bất măn, kích động hỏi gằn
thiền sư “Thái độ vừa rồi của Thầy thật khác xa những điều dạy dỗ
thường ngày...” Không trách được sự bắt lỗi của họ. Nguyên là từ khi
qua sông đến giờ, họ măi canh cánh sự việc này trong ḷng cho nên
tức nước vỡ bờ, thế là hằng loạt kiểu trách móc áo ra đến độ không
nghe kịp.
Thiền
sư nghe đám đệ tử chỉ trích như thế, chỉ bật cười.
“A! Ha
ha!...Cái ǵ? Các con măi đến bây giờ vẫn c̣n ôm ẵm người con gái
ấy!. Ta th́ đă đặt cô gái ấy xuống từ lâu rồi”. Th́ ra là thế, chấp
trước và không thể buông bỏ chính là nhóm đệ tử kia. Loại chấp trước
này, có thể ví như mũi tên thứ hai. Đối với thiền sư, ông không cảm
thọ mũi tên thứ nh́.
Đức
Thích Tôn đă chỉ rơ, điểm sai biệt giữa người khai ngộ và phàm phu
chính là mũi tên thứ hai này. V́ chúng ta chỉ là phàm phu, cho nên
không thể tránh khỏi cảm thọ mũi tên thứ hai. Dù chúng ta có muốn
hấp tấp tránh nó th́ củng không thể thực hiện được. Chấp trước những
việc mà sức ḿnh không thể kham được th́ đó chính là người ngu xuẩn
nhất. Khi nhận thức được những sự việc mà chúng ta không đủ năng lực
để thực hiện nhưng không chấp trước nó, đó mới đích thật là giáo
nghĩa của Phật giáo. Tuy nhiên, ít ra chúng ta cũng thể phân biệt
được điểm sai biệt mũi tên thứ hai, bằng tự giác:
“À!
hiện tại ḿnh đang cảm thọ mũi tên thứ hai....”
Có thể
nhận thức như vậy, là đă nắm vững vấn đề. Lây ngày công phu thâm
cao, nên trong khi sinh hoạt nếu có gặp bất cứ vấn đề ǵ, tất nhiên
đều có thể giải quyết một cách tức khắc. Hoặc nói cách khác, ngày
nào nhận chân ra ḿnh, th́ vấn đề sẽ không nghiêm trọng như ḿnh
tưởng tượng. Bởi v́ vấn đề sở dĩ phát sinh, phần lớn là do không thể
tri nhận bản tâm của ḿnh một cách rơ ràng chân xác.