BƯỚC VÀO THIỀN CẢNH

 

Tác Giả-HIROSACHIYA - Dịch Giả-Thích Viên Lư
Viện Triết Lư Việt Nam & Triết Học Thế Giới Xuất bản 1998

CHƯƠNG II
HƯỚNG CAO TĂNG HỌC TẬP THIỀN TÂM

KHÔNG PHẢI GIÓ ĐỘNG CŨNG KHÔNG PHẢI
PHƯỚN ĐỘNG MÀ CHÍNH LÀ TÂM
CỦA NHƠN GIẢ ĐANG ĐỘNG


 

     LỤC TỔ HUỆ NĂNG 

     Đời Đường có một vị thiền tăng vĩ đại, đó là Lục Tổ Huệ Năng đại sư (Tây nguyên 638-713) “Cao Tăng truyện” ghi chép rằng ngài mất cha, nhà nghèo, và v́ phụng dưỡng mẹ già nên phải bán củi để duy tŕ sự sống. Đối với đoạn truyền kư này, tôi cảm thấy hoài nghi về tính chân thật của nó. Có lẽ người đời sau v́ muốn cường độ sự so sánh giữa Lục Tổ Huệ Năng đại sư và đối thủ của Ngài là Thần Tú (Đại Thông Thần Tú thiền sư), mà cố ư miêu tả ngài là người nghèo khổ lại mù chữ để nhấn mạnh tánh chất b́nh phàm và thảo căn của Ngài! 

     Tạm thời xin miễn luận việc chân giả, để chúng ta tiếp tục suy xét về sự nghiệp bán củi để duy tŕ sinh sống của Lục Tổ Huệ Năng 

     Một hôm nọ, trong lúc vô t́nh Huệ Năng đă nghe một vị khách đến từ Huỳnh Mai Am niệm tụng “Kim Cang Kinh” (1) mà khai ngộ. Cũng do chính người khách cho biết là Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đại sư đang ở Huỳnh Mai Sơn, thế là ngài phát tâm cầu pháp và liền bái biệt mẹ già để dấn thân đi đến Huỳnh Mai Sơn. 

     Trên sự thật, sự tu hành của Huệ Năng tại Huỳnh Mai sơn mà người tu hành chúng ta thường biết đến, những tương truyền ấy đă không giống nhau, chỉ biết là mỗi ngày ngài phải đạp cối đá không ngừng ở pḥng giă gạo, thế thôi. Đấy là khóa tu hành thường nhật của Tổ Huệ Năng. 

     Chợt đến một ngày. 
     Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn muốn chọn người để kế thừa trong số các đệ tử, nên đă ra lệnh cho những đệ tử mỗi người cần đem cảnh địa mà ḿnh đă liễu ngộ viết thành một bài kệ để biểu đạt. Đương thời trong đám đệ tử của ngài, ưu tú nhất là Thần Tú thiền sư. Thiền sư Thần Tú làm và dâng lên Ngũ Tổ một bài kệ như sau: 

          Thân thị Bồ Đề thọ 
           Tâm như Minh Kính dài 
           Thời thời cần phất thức 
           Vật sử nhá trần ai 

     Tạm dịch: 
           Thân là cây Bồ Đề 
          Tâm như đài gương sáng 
          Luôn cần mẫn lau chùi 
          Đừng để cho bụi bám 

     Đại ư là: Chúng ta vốn có sẵn tâm thức thanh tịnh, giống như tấm gương sáng nhưng đang bị che phủ bởi bụi bặm phiền năo, v́ thế để khôi phục sự chiếu sáng của nó, cần phải lau chùi liên tục bụi bặm đang phủ bám bên trên. 

      Đối lại, Huệ Năng cũng củng làm một bài kệ: 

          Bồ Đề bổn vô thọ 
          Minh Kính diệc phi đài: 
          Bản lai vô nhứt vật 
          Hà xứ nhá trần ai? 

      Tạm dịch: 
          Trí giác vốn không cây 
          Gương sáng cũng không đài 
          Xưa nay không một vật 
          Chỗ nào bụi nhuốm đây? 

     So sánh hai bài kệ này, quả thật Thần Tú là một vị Thiền sư cố gắng không ngừng để đoạn trù phiền năo mà siêng năng cần mẫn, c̣n Huệ Năng th́ giác ngộ đến tận đầu nguồn đạo lư phiền năo vốn là không thật. Bởi v́ tự tánh tốn thanh tịnh, căn bản đă không có cái gọi là phiền năo. Đă không phiền năo, th́ cần ǵ phải khổ cực bận tâm đoạn trừ phiền năo? Sự phát biểu của Huệ Năng đích thật là một lời nói đă mở toang (đập vỡ) sự chấp trước của thường nhân đối với phiền năo. 

     Đúng thế, sau khi so sánh hai bài kệ, rơ ràng cảnh giới của Huệ Năng thật cao siêu mầu nhiệm. Nếu xét trên mặt hiện tượng, có thể dùng đao chặt đứt phiền năo thành hai đoạn quả thật đó là một vấn đề tương đối khá lợi hại. Người thường v́ thế mà đă cho rằng chỉ có thiền tài của Huệ Năng mới là nguồn thiền chân chính, nhưng thực ra, nếu nhận xét như vật th́ đă không chính xác. Bởi lẽ, nếu muốn đạt đến cảnh giới mà Huệ Năng đă có, mà không trải qua gia đoạn mà Thần Tú đă đề cập là một điều bất khả. Điểm này tuyệt đối chúng ta không thể thờ ơ. 

     Đúng vậy, nếu đứng trên lập trường khai ngộ để khẳng định th́ căn bản đă không có phiền năo để nói, nhưng, muốn đạt đến cảnh giới như thế th́ đó không phải là một việc dễ dàng. Hăy lấy thí dụ về kinh nghiệm cai thuốc lá của tôi: 

     Đă từng bao phen thử cai thuốc, nhưng cuối cùng v́ không cách nào khắc chế được ḿnh nên tôi đă tuyên bố thất bại. Rồi có một lần, tôi quyết định thử thả lỏng tâm t́nh để theo dơi việc cai thuốc, nên đă cố ư mang thuốc lá đặt trong túi áo. Trải qua thời gian không lâu, phương pháp của tôi quả nhiên có hiệu nghiệm, kết quả tôi không phí sức chút nào mà đă cai được thuốc. 

     Sau khi cai thuốc thành công, tôi mới hiểu rơ rằng phàm sự việc khi bắt đầu không cần thiết phải khổ cực và khẩn trương quá độ như thế, nhưng, những lời nói này chỉ có thể nói được sau khi đă thành công. Đối với một số người đă cố gắng không ngừng để cai thuốc, quá tŕnh kỷ luật chắc chắn là cả một tích luỹ của vô số đau khổ, và trước khi cai thuốc thành công, dầu sao th́ vẫn phải trải qua cái khảo nghiệm đau khổ ấy. V́ thế, để giác ngộ thấu triệt cái đạo lư phiền năo vốn không của Huệ Năng đại sư cố nhiên đó là việc trọng yếu, nhưng trước khi giác ngộ một cách thấu triệt, th́ cái giá đau khổ phải trả trong một giai đoạn vẫn là một sự cần thiết. 

     Điều đó có nghĩa là, chúng ta cần trải qua giai đoạn tu hành “Thời thời cần thiết phất thức, vất sử nhá trần ai”, mới có thể liễu ngộ cảnh giới “Bản lai vô nhứt vật, hà xứ nhá trần ai”. T́nh h́nh này giống như đạo lư trông thấy một con chim nước với thần thái tự tại đang bơi trên mặt nước, trong khi đôi chân của nó ở dưới nước quạt đi quạt lại không ngừng. V́ thế nếu một mực cố chấp lấy bài kệ ngữ của Huệ Năng đại sư để lư giả sai lầm về thiền, rằng là, không cần thiết phải trải qua bất cứ sự tu hành nào, như thế là rơi vào cạm bẫy nguy hiểm mà tự ḿnh không hay. Đây là điểm cần lưu ư khi b́nh phẩm và tán dương bài kệ kiến tánh của Huệ Năng đại sư. 

     Lục Tổ Huệ Năng đại sư c̣n có một truyền thuyết khác, miêu tả rằng sau khi thừa kế y bát của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Huệ Năng đại sư đă v́ sự tu hành sau khi ngộ đạo mà đời chân đến Nam Hải. 

     Bấy giờ tại Pháp Tánh Tự Quảng Châu có vị Ấn Tôn thiền sư đang giảng về “Kinh Niết Bàn”, thế là Huệ Năng đại sư quyết định ở lại mấy ngày tại Pháp Tánh tự để nghe Thiền sư giảng kinh. 

     Hôm ấy, v́ thiền sư giảng kinh nên trước chùa dựng rợp cờ phướn. 

     Ấn Tôn thiền sư nổi tiếng khắp nơi, do đó đă rất đông người từ mọi miền ào ạt t́m đến. Trong ấy có hai vị hoà thượng, trông thấy cờ phướn phất phới trước cửa chùa nên liền bắt đầu nghị luận. Một trong hai vị phát biểu: 

     “Phướn động”. 
     Người kia căi lại: 
     “Không phải, gió động”. 

     Kết quả hai người đă tranh luận không ngừng, dẫn đến t́nh trạng rất đông người dừng bước đứng xem. 

     Lúc ấy Huệ Năng đại sư cũng đến để xem, nghe xong ngài liền lên tiếng: “Không phải phướn động, cũng không phải gió động, mà chính là tâm hai vị đang động”. 

     Hai người đang tranh luận, nghe Huệ Năng đại sư phê chỉnh, tức thời hoát nhiên diạ ngộ. Khi nghe việc này, Ấn Tôn pháp sư tức khắc hiểu rằng những lời nói của Lục Tổ Huệ Năng đại sư, chính là trung tâm tư tưởng của “Kinh Niết Bàn” mà ḿnh đang khai giảng, thế là ngài lập tức cung thỉnh đại sư thăng đàn thuyết pháp và đảnh lễ tôn Lục Tổ làm thầy. 

     Đây chính là trường cảnh khiến người vô cùng cảm động. Thật vậy, phàm phu chúng ta v́ cứ chấp trước hiện tượng ngoại giới mà thờ ơ đối với nội tâm của ḿnh. Phần lớn vấn đề sanh ra lại chính là được xuất phát từ trong nội tâm của chúng ta. 

     Ví như, không biết quư vị có kinh nghiệm giống như sau đây hay không? 

     Một hôm, có người được cấp trên khen thưởng nên vui mừng ra mặt. Nhưng sau đó không lâu, không rơ v́ nguyên nhân nào, mỗi lần gặp cấp trên là ông ta biểu lộ nét mặt chán ghét giống như kẻ thù k hông đội trời chung. Cũng chỉ một người, nhưng v́ tác dụng của chính nội tâm chúng ta nên hiện ra diện mạo khác nhau.. V́ thế, những đối tượng mà chúng ta thấy, kỳ thực đều là vọng tưởng được phát sanh từ trong nội tâm của chúng ta, căn bản đă không có bất cứ một thực thể nào tồn tại cả. 

     Có lần tại Sát Nhữ Nạp Đức (2) Ấn Độ, tôi đă gặp phải một việc thế này: 
     Có một thiếu niên Ấn Độ chiêu dụ khách du lịch để bán vật phẩm, chận một du khách người Mỹ là một bà lăo khoảng 60 tuổi, thiếu niên áo quần lam lũ này nhanh tay móc túi ra một vật phẩm và nháng qua mắt bà. 

     “20 đô la”, thiếu niên kêu giá. 

     Bà Mỹ trông thấy vật phẩm, cặp mắt bỗng sáng trưng, vội vàng mở xách tay móc tờ 20 đô trao cho anh ta và chộp ngay vật trên tay thiếu niên nhanh nhẹn dúi vào ví xách của ḿnh> Chiếu theo t́nh cảnh này, th́ rơ là người đàn bà dường như đă rất ưa thích vật phẩm đó, đại khái bà đă cho rằng ḿnh mua đúng bảo vật! 

     Kết quả bà đă mua được vật ǵ mà khiến tôi cảm thấy hết sức hiếu kỳ như thế? Theo chỗ tôi biết, tại Ấn Độ du khách không thể mua được bảo vật ǵ cả. Một trăm phần trăm là bà ấy đă bị lừa. Tôi nhủ thầm: “Lại một người nữa bị gạt, thân đáng thương hại” 

     Sau khi bà ta đi khỏi, tôi gọi người thiếu niên Ấn Độ lại và dùng vài tiếng Ấn Độ đơn giản bảo hắn: “Khoan đi, hăy cho tôi xem cái vật mà chú vừa bán cho bà nọ!” 

     Thiếu niên lấy từ trong túi ra một pho tượng Phật cao độ 5,6 tấc, được cố ư trạm trổ lồi lơm, thoạt nh́n qua cứ tưởng đó là di vật cổ xua được đào lên từ dưới ḷng đất. Bởi lẽ Sát Nhữ Nạp Đúc là một vùng đất đai của những di tích cổ xưa, có rất nhiều di sản văn hoá vô giá. Người đàn bà Mỹ chắc chắn đă cho rằng tượng Phật do thiếu niên bán là một cổ vật, nên mới vội vàng mua và thủ ngay vào xách tay của ḿnh. 

     Kỳ thực, tượng Phật đó chỉ là loại thủ công phẩm dùng đất nhào nắn tái tạo lại. 

     “Pho tượng Phật này dại khái chỉ đáng 30 đồng Ấn” 

     “Hừ!” 

     30 đồng Ấn Độ trị giá bằng 3 đồng tiền Đài Loan, nhưng trên thực tế có thể không tới 3 đồng. Cuối cùng, tôi mua của thiếu niên nọ hai pho tượng với giá 7 đồng tiền Đài Loan. 

     “Hưu khô ly a! (Dhanyavad: Cảm ơn)” Gă thiếu niên vô cùng mừng rỡ, dù hai pho tượng chỉ bán được 7 đồng Đài Loan, nhưng đối với họ đă là có lời. Tôi nghĩ có lẽ trong nhà của thiếu niên này dám có đến trên 100 pho tượng như thế! 

     Tôi manghai pho tượng trở lại lên xe bus của đoàn du lịch. V́ với danh nghĩa cố vấn của đoàn hành hương Ấn Độ, nên mọi người trong đoàn đều gọi tôi là “Thầy” 

     “Thưa thầy! tôi cũng định mua loại tượng Phật này, không hiểu thầy mua bao nhiêu?” 

     “Hai pho tượng chỉ 1 đồng Ấn?” 

     “Cái ǵ, chỉ có 1 đồng Ấn?” 

     Người hỏi đột nhiên sắc diện tái xanh, ông thú nhận là đă mua một tượng giống hệt tôi đă mua đến 200 đồng tiền Ấn. 

     “Bậy rồi!”, tôi nghĩ, tưởng chỉ có bà Mỹ bị gạt 20 Mỹ kim, nào ngờ ông bạn đồng hành cũng bị mua lầm. Nếu biết như thế th́ tôi đă không nói thật giá. 

     Ngẫm nghĩ cho cùng, bà Mỹ vẫn hạnh phúc hơn v́ có lẽ măi cho đến giờ này bà vẫn tin rằng tượng Phật ấy là một di vật cổ xưa! Và v́ gặp vận hên nên chỉ tốn 20 đô la mà đă mua được, có thể bà c̣n cảm ơn ân tứ của Thưọng đế! 

     Thương hại nhất là người nghe giá tôi mua. Ban đầu ông ta chắc rằng với cái giá trên 1000 đồng Đài Loan mà mua được báu vật vô cùng trân quư thế này đă là rẻ chán. Không ngờ chỉ trong khoảnh khắc, ông phát giác rằng bảo vật chỉ là loại thủ công nghệ phẩm làm bằng thứ đất sét thô thiển! Chỉ e sau này mỗi khi trông thấy bất cứ tượng Phật nào cũng sẽ khiến ông dấy lên cảm giác khó chịu. 
     
Nhưng, tượng Phật vẫn là Phật tượng, tự nó vốn không có ǵ thay đổi. Thuỷ chung cũng đều là một pho tượng. Có thay đổi chăng th́ đó chính là cái tâm của ta. Tuỳ theo sự thay đổi của tâm t́nh mà Phật tượng giống nhau đó bị tặng cho những ư nghĩa khác nhau. 

     Sau này tôi đă mang một pho tượng làm lễ vật để tặng bạn tôi, tuy không nói ra trị giá, nhưng bạn tôi rất mừng và bày tỏ là ông đă măi ao ước một pho tượng như thế và nay v́ do phúc duyên nào đó mà ông có thể có được một tượng Phật có pháp tướng tôn nghiêm từ bi thánh thiện như thế. 
     
Thật vậy, Phật tượng ấy đă có một khuôn mặt từ bi vô cùng khả kính và tôi cũng đă tôn trí pho tượng c̣n lại để thờ phụng trên một hương án. 

Chú (1): Toàn danh là “Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh” lược gọi là “Kim Cang Kinh” Toàn kinh thuật rơ đạo lư của “Không” và “Vô Ngă”, là một trong những kinh điển đại biểu cho Đại Thừa Phật Giáo. 
Chú (2): Tức “Lộc đă uyển” đă nói trong kinh Phật. Đức Thích Tôn đă chuyển pháp luân ở đây và đă trở thành một trong những thánh địa của Phật giáo.