CHƯƠNG II
HƯỚNG CAO TĂNG HỌC TẬP THIỀN TÂM
KHÔNG PHẢI GIÓ ĐỘNG CŨNG
KHÔNG PHẢI
PHƯỚN ĐỘNG MÀ CHÍNH LÀ TÂM
CỦA NHƠN GIẢ ĐANG ĐỘNG
LỤC TỔ
HUỆ NĂNG
Đời
Đường có một vị thiền tăng vĩ đại, đó là Lục Tổ Huệ Năng đại sư (Tây
nguyên 638-713) “Cao Tăng truyện” ghi chép rằng ngài mất cha, nhà
nghèo, và v́ phụng dưỡng mẹ già nên phải bán củi để duy tŕ sự sống.
Đối với đoạn truyền kư này, tôi cảm thấy hoài nghi về tính chân thật
của nó. Có lẽ người đời sau v́ muốn cường độ sự so sánh giữa Lục Tổ
Huệ Năng đại sư và đối thủ của Ngài là Thần Tú (Đại Thông Thần Tú
thiền sư), mà cố ư miêu tả ngài là người nghèo khổ lại mù chữ để
nhấn mạnh tánh chất b́nh phàm và thảo căn của Ngài!
Tạm
thời xin miễn luận việc chân giả, để chúng ta tiếp tục suy xét về sự
nghiệp bán củi để duy tŕ sinh sống của Lục Tổ Huệ Năng
Một
hôm nọ, trong lúc vô t́nh Huệ Năng đă nghe một vị khách đến từ Huỳnh
Mai Am niệm tụng “Kim Cang Kinh” (1) mà khai ngộ. Cũng do chính
người khách cho biết là Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đại sư đang ở Huỳnh Mai
Sơn, thế là ngài phát tâm cầu pháp và liền bái biệt mẹ già để dấn
thân đi đến Huỳnh Mai Sơn.
Trên
sự thật, sự tu hành của Huệ Năng tại Huỳnh Mai sơn mà người tu hành
chúng ta thường biết đến, những tương truyền ấy đă không giống nhau,
chỉ biết là mỗi ngày ngài phải đạp cối đá không ngừng ở pḥng giă
gạo, thế thôi. Đấy là khóa tu hành thường nhật của Tổ Huệ Năng.
Chợt
đến một ngày.
Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn muốn chọn người để kế thừa trong số các đệ
tử, nên đă ra lệnh cho những đệ tử mỗi người cần đem cảnh địa mà
ḿnh đă liễu ngộ viết thành một bài kệ để biểu đạt. Đương thời trong
đám đệ tử của ngài, ưu tú nhất là Thần Tú thiền sư. Thiền sư Thần Tú
làm và dâng lên Ngũ Tổ một bài kệ như sau:
Thân thị Bồ Đề thọ
Tâm như Minh Kính dài
Thời thời cần phất thức
Vật sử nhá trần ai
Tạm
dịch:
Thân là cây Bồ Đề
Tâm như đài gương sáng
Luôn cần mẫn lau chùi
Đừng để cho bụi bám
Đại ư
là: Chúng ta vốn có sẵn tâm thức thanh tịnh, giống như tấm gương
sáng nhưng đang bị che phủ bởi bụi bặm phiền năo, v́ thế để khôi
phục sự chiếu sáng của nó, cần phải lau chùi liên tục bụi bặm đang
phủ bám bên trên.
Đối
lại, Huệ Năng cũng củng làm một bài kệ:
Bồ Đề bổn vô thọ
Minh Kính diệc phi đài:
Bản lai vô nhứt vật
Hà xứ nhá trần ai?
Tạm
dịch:
Trí giác vốn không cây
Gương sáng cũng không đài
Xưa nay không một vật
Chỗ nào bụi nhuốm đây?
So
sánh hai bài kệ này, quả thật Thần Tú là một vị Thiền sư cố gắng
không ngừng để đoạn trù phiền năo mà siêng năng cần mẫn, c̣n Huệ
Năng th́ giác ngộ đến tận đầu nguồn đạo lư phiền năo vốn là không
thật. Bởi v́ tự tánh tốn thanh tịnh, căn bản đă không có cái gọi là
phiền năo. Đă không phiền năo, th́ cần ǵ phải khổ cực bận tâm đoạn
trừ phiền năo? Sự phát biểu của Huệ Năng đích thật là một lời nói đă
mở toang (đập vỡ) sự chấp trước của thường nhân đối với phiền năo.
Đúng
thế, sau khi so sánh hai bài kệ, rơ ràng cảnh giới của Huệ Năng thật
cao siêu mầu nhiệm. Nếu xét trên mặt hiện tượng, có thể dùng đao
chặt đứt phiền năo thành hai đoạn quả thật đó là một vấn đề tương
đối khá lợi hại. Người thường v́ thế mà đă cho rằng chỉ có thiền tài
của Huệ Năng mới là nguồn thiền chân chính, nhưng thực ra, nếu nhận
xét như vật th́ đă không chính xác. Bởi lẽ, nếu muốn đạt đến cảnh
giới mà Huệ Năng đă có, mà không trải qua gia đoạn mà Thần Tú đă đề
cập là một điều bất khả. Điểm này tuyệt đối chúng ta không thể thờ
ơ.
Đúng
vậy, nếu đứng trên lập trường khai ngộ để khẳng định th́ căn bản đă
không có phiền năo để nói, nhưng, muốn đạt đến cảnh giới như thế th́
đó không phải là một việc dễ dàng. Hăy lấy thí dụ về kinh nghiệm cai
thuốc lá của tôi:
Đă
từng bao phen thử cai thuốc, nhưng cuối cùng v́ không cách nào khắc
chế được ḿnh nên tôi đă tuyên bố thất bại. Rồi có một lần, tôi
quyết định thử thả lỏng tâm t́nh để theo dơi việc cai thuốc, nên đă
cố ư mang thuốc lá đặt trong túi áo. Trải qua thời gian không lâu,
phương pháp của tôi quả nhiên có hiệu nghiệm, kết quả tôi không phí
sức chút nào mà đă cai được thuốc.
Sau
khi cai thuốc thành công, tôi mới hiểu rơ rằng phàm sự việc khi bắt
đầu không cần thiết phải khổ cực và khẩn trương quá độ như thế,
nhưng, những lời nói này chỉ có thể nói được sau khi đă thành công.
Đối với một số người đă cố gắng không ngừng để cai thuốc, quá tŕnh
kỷ luật chắc chắn là cả một tích luỹ của vô số đau khổ, và trước khi
cai thuốc thành công, dầu sao th́ vẫn phải trải qua cái khảo nghiệm
đau khổ ấy. V́ thế, để giác ngộ thấu triệt cái đạo lư phiền năo vốn
không của Huệ Năng đại sư cố nhiên đó là việc trọng yếu, nhưng trước
khi giác ngộ một cách thấu triệt, th́ cái giá đau khổ phải trả trong
một giai đoạn vẫn là một sự cần thiết.
Điều
đó có nghĩa là, chúng ta cần trải qua giai đoạn tu hành “Thời thời
cần thiết phất thức, vất sử nhá trần ai”, mới có thể liễu ngộ cảnh
giới “Bản lai vô nhứt vật, hà xứ nhá trần ai”. T́nh h́nh này giống
như đạo lư trông thấy một con chim nước với thần thái tự tại đang
bơi trên mặt nước, trong khi đôi chân của nó ở dưới nước quạt đi
quạt lại không ngừng. V́ thế nếu một mực cố chấp lấy bài kệ ngữ của
Huệ Năng đại sư để lư giả sai lầm về thiền, rằng là, không cần thiết
phải trải qua bất cứ sự tu hành nào, như thế là rơi vào cạm bẫy nguy
hiểm mà tự ḿnh không hay. Đây là điểm cần lưu ư khi b́nh phẩm và
tán dương bài kệ kiến tánh của Huệ Năng đại sư.
Lục Tổ
Huệ Năng đại sư c̣n có một truyền thuyết khác, miêu tả rằng sau khi
thừa kế y bát của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Huệ Năng đại sư đă v́ sự tu
hành sau khi ngộ đạo mà đời chân đến Nam Hải.
Bấy
giờ tại Pháp Tánh Tự Quảng Châu có vị Ấn Tôn thiền sư đang giảng về
“Kinh Niết Bàn”, thế là Huệ Năng đại sư quyết định ở lại mấy ngày
tại Pháp Tánh tự để nghe Thiền sư giảng kinh.
Hôm
ấy, v́ thiền sư giảng kinh nên trước chùa dựng rợp cờ phướn.
Ấn Tôn
thiền sư nổi tiếng khắp nơi, do đó đă rất đông người từ mọi miền ào
ạt t́m đến. Trong ấy có hai vị hoà thượng, trông thấy cờ phướn phất
phới trước cửa chùa nên liền bắt đầu nghị luận. Một trong hai vị
phát biểu:
“Phướn
động”.
Người kia căi lại:
“Không phải, gió động”.
Kết
quả hai người đă tranh luận không ngừng, dẫn đến t́nh trạng rất đông
người dừng bước đứng xem.
Lúc ấy
Huệ Năng đại sư cũng đến để xem, nghe xong ngài liền lên tiếng:
“Không phải phướn động, cũng không phải gió động, mà chính là tâm
hai vị đang động”.
Hai
người đang tranh luận, nghe Huệ Năng đại sư phê chỉnh, tức thời hoát
nhiên diạ ngộ. Khi nghe việc này, Ấn Tôn pháp sư tức khắc hiểu rằng
những lời nói của Lục Tổ Huệ Năng đại sư, chính là trung tâm tư
tưởng của “Kinh Niết Bàn” mà ḿnh đang khai giảng, thế là ngài lập
tức cung thỉnh đại sư thăng đàn thuyết pháp và đảnh lễ tôn Lục Tổ
làm thầy.
Đây
chính là trường cảnh khiến người vô cùng cảm động. Thật vậy, phàm
phu chúng ta v́ cứ chấp trước hiện tượng ngoại giới mà thờ ơ đối với
nội tâm của ḿnh. Phần lớn vấn đề sanh ra lại chính là được xuất
phát từ trong nội tâm của chúng ta.
Ví
như, không biết quư vị có kinh nghiệm giống như sau đây hay không?
Một
hôm, có người được cấp trên khen thưởng nên vui mừng ra mặt. Nhưng
sau đó không lâu, không rơ v́ nguyên nhân nào, mỗi lần gặp cấp trên
là ông ta biểu lộ nét mặt chán ghét giống như kẻ thù k hông đội trời
chung. Cũng chỉ một người, nhưng v́ tác dụng của chính nội tâm chúng
ta nên hiện ra diện mạo khác nhau.. V́ thế, những đối tượng mà chúng
ta thấy, kỳ thực đều là vọng tưởng được phát sanh từ trong nội tâm
của chúng ta, căn bản đă không có bất cứ một thực thể nào tồn tại
cả.
Có lần
tại Sát Nhữ Nạp Đức (2) Ấn Độ, tôi đă gặp phải một việc thế này:
Có một thiếu niên Ấn Độ chiêu dụ khách du lịch để bán vật phẩm,
chận một du khách người Mỹ là một bà lăo khoảng 60 tuổi, thiếu niên
áo quần lam lũ này nhanh tay móc túi ra một vật phẩm và nháng qua
mắt bà.
“20 đô
la”, thiếu niên kêu giá.
Bà Mỹ
trông thấy vật phẩm, cặp mắt bỗng sáng trưng, vội vàng mở xách tay
móc tờ 20 đô trao cho anh ta và chộp ngay vật trên tay thiếu niên
nhanh nhẹn dúi vào ví xách của ḿnh> Chiếu theo t́nh cảnh này, th́
rơ là người đàn bà dường như đă rất ưa thích vật phẩm đó, đại khái
bà đă cho rằng ḿnh mua đúng bảo vật!
Kết
quả bà đă mua được vật ǵ mà khiến tôi cảm thấy hết sức hiếu kỳ như
thế? Theo chỗ tôi biết, tại Ấn Độ du khách không thể mua được bảo
vật ǵ cả. Một trăm phần trăm là bà ấy đă bị lừa. Tôi nhủ thầm: “Lại
một người nữa bị gạt, thân đáng thương hại”
Sau
khi bà ta đi khỏi, tôi gọi người thiếu niên Ấn Độ lại và dùng vài
tiếng Ấn Độ đơn giản bảo hắn: “Khoan đi, hăy cho tôi xem cái vật mà
chú vừa bán cho bà nọ!”
Thiếu
niên lấy từ trong túi ra một pho tượng Phật cao độ 5,6 tấc, được cố
ư trạm trổ lồi lơm, thoạt nh́n qua cứ tưởng đó là di vật cổ xua được
đào lên từ dưới ḷng đất. Bởi lẽ Sát Nhữ Nạp Đúc là một vùng đất đai
của những di tích cổ xưa, có rất nhiều di sản văn hoá vô giá. Người
đàn bà Mỹ chắc chắn đă cho rằng tượng Phật do thiếu niên bán là một
cổ vật, nên mới vội vàng mua và thủ ngay vào xách tay của ḿnh.
Kỳ
thực, tượng Phật đó chỉ là loại thủ công phẩm dùng đất nhào nắn tái
tạo lại.
“Pho
tượng Phật này dại khái chỉ đáng 30 đồng Ấn”
“Hừ!”
30
đồng Ấn Độ trị giá bằng 3 đồng tiền Đài Loan, nhưng trên thực tế có
thể không tới 3 đồng. Cuối cùng, tôi mua của thiếu niên nọ hai pho
tượng với giá 7 đồng tiền Đài Loan.
“Hưu
khô ly a! (Dhanyavad: Cảm ơn)” Gă thiếu niên vô cùng mừng rỡ, dù hai
pho tượng chỉ bán được 7 đồng Đài Loan, nhưng đối với họ đă là có
lời. Tôi nghĩ có lẽ trong nhà của thiếu niên này dám có đến trên 100
pho tượng như thế!
Tôi
manghai pho tượng trở lại lên xe bus của đoàn du lịch. V́ với danh
nghĩa cố vấn của đoàn hành hương Ấn Độ, nên mọi người trong đoàn đều
gọi tôi là “Thầy”
“Thưa
thầy! tôi cũng định mua loại tượng Phật này, không hiểu thầy mua bao
nhiêu?”
“Hai
pho tượng chỉ 1 đồng Ấn?”
“Cái
ǵ, chỉ có 1 đồng Ấn?”
Người
hỏi đột nhiên sắc diện tái xanh, ông thú nhận là đă mua một tượng
giống hệt tôi đă mua đến 200 đồng tiền Ấn.
“Bậy
rồi!”, tôi nghĩ, tưởng chỉ có bà Mỹ bị gạt 20 Mỹ kim, nào ngờ ông
bạn đồng hành cũng bị mua lầm. Nếu biết như thế th́ tôi đă không nói
thật giá.
Ngẫm
nghĩ cho cùng, bà Mỹ vẫn hạnh phúc hơn v́ có lẽ măi cho đến giờ này
bà vẫn tin rằng tượng Phật ấy là một di vật cổ xưa! Và v́ gặp vận
hên nên chỉ tốn 20 đô la mà đă mua được, có thể bà c̣n cảm ơn ân tứ
của Thưọng đế!
Thương
hại nhất là người nghe giá tôi mua. Ban đầu ông ta chắc rằng với cái
giá trên 1000 đồng Đài Loan mà mua được báu vật vô cùng trân quư thế
này đă là rẻ chán. Không ngờ chỉ trong khoảnh khắc, ông phát giác
rằng bảo vật chỉ là loại thủ công nghệ phẩm làm bằng thứ đất sét thô
thiển! Chỉ e sau này mỗi khi trông thấy bất cứ tượng Phật nào cũng
sẽ khiến ông dấy lên cảm giác khó chịu.
Nhưng, tượng Phật vẫn là Phật tượng, tự nó vốn không có ǵ thay đổi.
Thuỷ chung cũng đều là một pho tượng. Có thay đổi chăng th́ đó chính
là cái tâm của ta. Tuỳ theo sự thay đổi của tâm t́nh mà Phật tượng
giống nhau đó bị tặng cho những ư nghĩa khác nhau.
Sau
này tôi đă mang một pho tượng làm lễ vật để tặng bạn tôi, tuy không
nói ra trị giá, nhưng bạn tôi rất mừng và bày tỏ là ông đă măi ao
ước một pho tượng như thế và nay v́ do phúc duyên nào đó mà ông có
thể có được một tượng Phật có pháp tướng tôn nghiêm từ bi thánh
thiện như thế.
Thật vậy, Phật tượng ấy đă có một khuôn mặt từ bi vô cùng khả kính
và tôi cũng đă tôn trí pho tượng c̣n lại để thờ phụng trên một hương
án.
Chú (1):
Toàn danh là “Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh” lược gọi là “Kim Cang
Kinh” Toàn kinh thuật rơ đạo lư của “Không” và “Vô Ngă”, là một
trong những kinh điển đại biểu cho Đại Thừa Phật Giáo.
Chú (2): Tức “Lộc đă uyển” đă nói trong kinh Phật. Đức Thích Tôn đă
chuyển pháp luân ở đây và đă trở thành một trong những thánh địa của
Phật giáo.