BƯỚC VÀO THIỀN CẢNH
Tác
Giả-HIROSACHIYA - Dịch Giả-Thích Viên Lư
Viện Triết Lư Việt
Nam & Triết Học Thế Giới Xuất bản 1998
CHƯƠNG I
THIẾN LÀ TRÍ TUỆ CỦA
SINH HOẠT
LÀM THẾ NÀO VẸT MÂY ĐỂ THẤY MẶT TRỜI
“Xem ra, vị Thanh Tăng này thật đă tu đến cảnh giới “như như bất động”. Ở trên, tôi đă nói thế. Kỳ thực, lời nói này hàm ẩn mùi vị mỉa mai. Bởi v́ giống như lăo thái bà, đối với thái độ của vị Tăng này tôi cho là không đúng. Vị Thanh tăng có đích thật là thánh tăng, cao tăng? Nhưng cao tăng cũng là người, tại sao trông thấy gái đẹp phải tạo ra tư thái “cô mộ hàn nham”? Tôi lại muốn lột tấm da của quyển Chánh Kinh nghiêm túc nầy để tra t́m cứu cánh.
Nhưng, cần phải hỏi lại, thái độ vị Thanh tăng này có điểm nào không đúng? Mặc dù thái độ của ông gây cho người khác có những phản cảm, nhưng nếu suy ngẫm kỹ, th́ không thể bảo rơ chỗ nào là điểm không đúng. Ông là bậc xứng đáng để được khen ngợi? Lư do, ở địa vị bạn, khi một thiếu nữ xin đẹp đến liếc mắt đưa t́nh để t́m cách rung động ḷng bạn, rồi chu mồm nũng nịu thốt lên:
“Hăy lại đây ôm lấy tôi” – lúc ấy bạn sẽ phản ứng ra sao? Nếu như tôi... Đương nhiên thực tế th́ tuyệt đối chẳng có ai ngă vào ḷng tôi. Nhưng cứ giả thử có một cô gái xinh đẹp thật sự xuất hiện trước mắt, th́ thôi phải làm sao cho chu toàn đây? “Được rồi! nếu không dám tiếp nhận sự mời gọi nồng nàn của mỹ nhân th́ không đáng là bậc hảo hán!” – Tôi nghĩ, kết quả chắc phải như vậy thôi – v́ dù sao th́ ḿnh cũng chỉ là hạng phàm phu tục tử.
Nhưng, một khi vai chánh hảo nam nhân kia đổi thành vị hoà thượng mà làm như thế th́ quả thật không nên. Nếu hoà thượng mà ôm lấy đàn bà, th́ phải chăng công phu tu hành mấy mươi năm khổ nhọc đă huỷ hoại trong một ngày? Kết quả không những uổng công mà không chừng danh dự c̣n bị chà đạp! Nhưng, trong cảnh ngộ nầy, hoà thượng phải hành xử thế nào ngoài cách nghiêm trang thốt lên “Cô mộc ỷ hàn nham, tam đông vô noăn khí”(tạm dich là Cây khô trên núi tuyết ba năm không hơi ấm), không lẽ chẳng c̣n cách nào khác?
Chính v́ thế, thoại đề lại quay về khởi điểm.
Nếu cứ tiếp tục lập lại măi thoại đề này một cách trùng phúc theo ṿng xoay, th́ đây chính là “Công án thiền thoại” nổi tiếng trong Thiền môn (1), nếu quư vị tham khảo và có thể t́m ra đạo lư trong ấy, th́ đích thực quư vị đă tri nhận được Thiền.
“Như thế, thế th́ kết quả sẽ ra sao?...” – Đây là phương thức tư khảo cố định của thiền. Hăy dùng công án “Cô mộc hàn nham” (chúng ta thường gọi là “Lăo bà đốt am”) này để tham khảo! Muốn giải đáp quư vị cần phải hạ thủ công phu để lănh ngộ. Có người sẽ thắc mắc: “Nhưng hạ thủ công phu bằng cách nào?” và nếu không t́m ra đáp án chỉ c̣n có cách: “Thôi hăy t́m đến thiền đường, mời một vị thiền sư cao minh chỉ lối!” Mỗi khi có sự việc liên quan đến phương diện tu thiền, phần đông đều không thoát khỏi câu trả lời đại khái như thế.
Thiền theo ánh mắt Tâm Linh Vào Đời
Đứng trước những thiếu nữ đẹp, có nhiều phản ứng khác nhau:
1. Phản ứng đời thường
Khoái con mắt, âm thầm tưởng nhớ tâm hồn lâng lâng
Khoái con mắt, da diết tưởng nhớ, thậm chí phạm tôi điều răn thứ Sáu trong tư tưởng.
Khoái chí và t́m cách làm quen, thân thiện và t́m mọi cách chiếm đoạt cho riêng ḿnh – từ nhẹ nhàng lịch sự tới những mưu mô hiểm độc.
2. Phản ứng đạo đức
Thích lắm nhưng cố đè nén xuống bằng đủ mọi cách. Thày này ăn chay trường cho đói meo cả bụng, ngày xưa thầy kia đánh tội rướm máu đầy lưng, thậm chí có vị c̣n lăn cả vào bụi gai, đau quá… cho quên đi!!!
3. Phản ứng tâm linh
Khoái con mắt, thật t́nh khen thầm trong ḷng. Nhưng sau đó, quên béng đi..v́ anh ta đă nếm được hương vị ngọt của của niềm hạnh phúc đích thực, niềm vui này không ai có thể cướp đi được, không ǵ có thể thay thế được. Đó chính là những giây phút sống nên một với Chúa. Đây cũng là điều tâm đắc nhất, điều quan trọng nhất mà anh ta phải thực tập sống suốt cả cuộc đời ḿnh.
Anh ta nhớ rằng: sống trong thế gian ( thích con mắt đấy)..nhưng không lệ thuộc thế gian (không bị h́nh ảnh ấy quấy rối tâm trí) v́ tâm trí chỉ c̣n hướng về một điểm: Sống nên một hạnh phúc với Chúa. Chính điều này hóa giải, thay thế hay loại trừ ham mê sắc dục một cách rất ư là nhẹ nhàng và tự nhiên, chăng một chút gồng ḿnh gắng công chống trả cơn cám dỗ về thú vui nhục dục.
CHƯƠNG I
THIẾN LÀ TRÍ TUỆ CỦA
SINH HOẠT
ĐỪNG CHO RẰNG MỤC HẠ VÔ NHÂN LÀ “TINH THẦN TỰ TẠI”
Mặc dù đối với phương thức tu thiền, tôi đă không cho là như thế.
-- Miễn toạ Thiền --
Phương thức của tôi, thoạt nghe qua có lẽ có điều chi quái dị, nhưng tôi vẫn cứ thử đề xướng. Đối với những tục gia tu tập tại nhà như chúng ta, cứ nghĩ rằng ngày nào cũng phải đến thiền dường dường như là việc khó có thể được. Chẳng lẽ v́ thế mà ngồi nhà không thể tu thiền được sao?
“Không thể tại gia”, số người chủ trương như vậy không phải là ít, trước khi, Đạo Nguyên thiền sư là một trong số vị ấy. Tuy khi từ Trung Quốc trỏ về Nhựt Bổn, Ngài khẳng định là người tại gia có thể tu thiền, nhưng về sau Ngài lại chuyển sang chủ nghĩa xuất gia tuyệt đối. Từ diểm này đă biểu hiện tron vẹn tánh cách tuyệt đối không thỏa hiệp đối với sự việc chưa đủ viên măn của thiền sư
Măi đến nay, chủ trương “không thể tại gia” vẫn chiếm đa số. Chỉ một ít nhân sĩ thiền tôn cho rằng tu tại gia cũng không sao, nhưng những người chủ trương như thế đại khái rất ít. “Nói một cách lư tưởng, phương thức tu thiền chân chính đúng nhất là phải t́m đến đạo trường chuyên tu, thỉnh cầu thiền sư cao minh chỉ đường dẫn lối”, những người chủ trương “không thể tại gia” phát biểu như thế là muốn nêu rơ cái ư: nếu không dựa theo phương thức này, cứ ở nhà xem càn mấy quyển sách mở trí mà lại muốn hiểu rơ về thiền, trên căn bản, đó là việc không thể có được.
Có lẽ cá tánh tôi phóng khoáng, thích tiện nghi, nên cảm thấy muốn chống lại chủ thuyết này. Nếu cứ một mực câu nệ h́nh thức xuất gia hay tại gia, th́ đó không phải là xa ĺa tinh thần căn bản của thiền sao? Tôi cho rằng “Thiền” là một loại tinh thần rất tự do tự tại, khoáng đạt khai lăng và như thế mới đích thật là thiền.
Trước khi thảo luận về phương pháp thiền của tôi, xin có vài lời có thể không được vui thích mấy. Đôi khi, chúng ta phát giác những vị tu thiền có một số người đặc lập, độc hành. Bảo rằng họ bàng nhược vô nhân cũng được, quấy nhiễu người khác vô ư thức cũng vô hại, tóm lại là có một số người “ta làm, mặc ta tồn tại”. Đương nhiên, số này chỉ là thiểu số, và phần lớn vẫn là thiền sư có đạo phong tương đối viên măn.
Cho nên, nếu chúng ta ĺa tinh thần căn bản của thiền, th́ phải chăng đó là một hành động xô đẩy thiền hướng về một loại trí thức chuyên môn? Tuy ở đây, loại người phàm tục như chúng ta mà bàn về thiền, luận thuyết về đạo th́ không khỏi khiến người khác có cảm giác rằng chúng ta là kẻ múa ŕu qua mắt thợ, nhưng, nếu như chúng ta có thể nắm vững động mạch của Phật pháp th́ đối với sự giải thích có chỗ xê dịch cũng không thể tránh được. Điểm này tôi sẽ tường thuật thêm. Ở đây tạm thời gọi thiền là “Tinh thần của tự tại”! Kỳ thực thiền vốn chính là loại tinh thần này, nếu thờ ơ cái tinh thần thực chất mà chỉ nhấn mạnh cái h́nh thức bên ngoài, th́ cho dù ghi dấu thiền là “Tinh thần tự tại”, nhưng khác nào bảo nó chỉ là môn học được chuyên hoá. Đối với điểm này, chúng ta không thể không nghĩ đến một cách sâu thẳm hơn.
Lấy công án “Lăo bà đốt am” làm điển h́nh, trọng tâm có thể nói là nằm trong chữ “Thanh Tăng”. Khi chúng ta c̣n mang tư tưởng hạn hẹp cho rằng “Thanh tăng” phải thề này thế kia, th́ sẽ dính quàng rối rắm đến đời sống thường phàm biết bao! V́ thế, xuyên qua mẩu chuyện này, chúng ta có thể lănh ngộ đích xác thiền có thể mang lại một tư tưởng không gian càng tự do càng thên thang rộng lớn.
Nhưng nói đi phải nói lại, hiện nay đă có người xe thái độ bàng nhược vô nhân như là một phong thái hào phóng lịch sự mà đặc dị độc hành và lại c̣n tự cho đó chính là “Thiền” th́ quả thật đă làm cho mọi người cảm thấy phân vân mơ hồ khó tả!!
CHƯƠNG II
HƯỚNG CAO TĂNG HỌC TẬP
THIỀN TÂM
ĐÓI TH̀ ĂN CƠM BUỒN NGỦ TH̀ NGỦ
ĐẠI CHU HUỆ HẢI
“Đói th́ ăn cơm, buồn ngủ
th́ ngủ” – đây chính là thiền, nếu thực hiện được điểm này, th́ đó gọi là hiểu
biết về thiền. Thời đại Cao Trung, tôi đă đọc một tác phẩm lớn của Linh Mộc Đại
Chuyết tiên sinh một câu như thế. Lúc ấy tôi cho rằng câu nói đó là của Linh Mộc
[Suzuki(?)] tiên sinh, nhưng sau này khi tiếp xúc với nền Phật học, tôi mới biết
là thiền ngữ này đă được trích từ “Đốn Ngộ Yếu môn” của Đại Chu Huệ Hải thiền sư
đời Đường. Dưới đây là nguyên văn:
Hữu Nguyên Luật sư đến hỏi:
“Ḥa thượng tu đạo, có dụng công không?” Thiền Sư Đại Chu Huệ Hải đáp: “Dụng
công” Hỏi: “Dụng công thế nào?” Thiền sư trả lời: “Đói th́ ăn cơm, buồn ngủ th́
ngủ” Hỏi: “Tất cả mọi người đều vậy, như thế th́ vấn đề dụng công có giống với
thiền sư hay không?” Thiền Sư trả lời” “Không giống” Hỏi: “Tại sao không giống?”
Đáp: “Khi họ ăn cơm, nhưng họ không chịu ăn cơm v́ bị trăm điều đ̣i hỏi; khi ngủ
th́ không chịu ngủ, v́ phải so sánh tính toán vạn sự”. Hữu Nguyên bí lối.
[Đốn ngô yếu môn]
Có người tên Nguyên Luật Sư
đến hỏi “Khi hoà thượng tu hành có cần dùng đến công phu?” Đại Chu thiền sư trả
lời: “Cần”. Hỏi: “Công phu ấy như thế nào?” Trả lời: “Đói th́ ăn cơm, buồn ngủ
là ngủ”. Hỏi: “Người thông thường đều như vậy cả, công phu của Hoà thượng chỉ có
thế sao?” Đáp: “Chẳng giống nhau”. Hỏi: “Có ǵ khác nhau?” Đáp: “Khi người khác
lúc đáng ăn cơm th́ không chịu ăn, lại phải đủ điều đ̣i hỏi; khi đáng ngủ th́
không yên tâm để ngủ, v́ c̣n ngàn việc đán đo. V́ thế ta với họ khác nhau”.
Nguyên Luật Sư lặng im v́ đă không c̣n lời nào để chất vấn.
Vừa thoạt nghe qua đă có
đồng cảm. Có lúc dù cho một chút ư ngủ cũng không, nhưng trong quan niệm th́ cứ
cảm thấy là không ngủ th́ không được nên tự cưỡng bức: Ḿnh phải ngủ. Th́ ra như
thế, một mặt trong năo ư nghĩ lung tung, một mặt v́ tiếng đống hồ tích tắc mà
cảm thấy tâm trí phiền năo nóng nảy, kết quả càng không cách nào ngủ được. Măi
đến tảng sáng 2, 3 giờ...cuối cùng chỉ thấy bi ai tuyệt vọng.
Ăn cơm cũng thế, khi phải
ăn cơm th́ ăn cơm, nhưng thông thường ngưuời ta cứ phải tống điều phối thức ăn
dinh dưỡng trước, sau đó mới chịu ăn, v́ thế mà bao tử đă bị khổ sở v́ đói.
Do vậy, “Đói là ăn, buồn
ngủ là ngủ, đó tức là thiền”. Lời nói đơn giản này, tuy trên mặt chữ rất dễ lư
giải, nhưng trên thực tế lại là việc mà những người phàm tục không thể làm được,
mặc dù câu nói này lúc nào cũng “Nao nao trong ḷng”, nhưng ban đêm vẫn không
ngủ được, khi đang ăn cơm th́ nghĩ bậy nghĩ bạ, nếu không th́ một mặt vừa xem
báo một vừa ăn cơm, hoặc một mặt vừa xem báo một mặt vừa ăn cơm, hoặc một mặt
đánh cờ một mặt ăn cơm, muốn ăn bữa cơm ngon lành đúng nghĩa dường như là việc
không phải dễ.
Nhất là đối với những ai
đang đi làm, đói th́ ăn, muốn ngủ th́ ngủ, điều đó chẳng khác nào như một mộng
tưởng xa xăm vói không bao giời tới. Ví như, lúc 2, 3 giờ chiêu đang cơn buồn
ngủ, nếu phải ngủ ngon trên chiếc bàn làm việc, th́ bảo đảm là không bao lâu sẽ
bị sa thải khỏi sở. Nghĩ đến thời đại cao trung, khi thầy đứng trên bục giảng
say sưa giảng đến nước mồm tung tóe c̣n ḿnh th́ ở dưới lén ăn thức ăn mang sẵn
theo, tâm trạng vừa có phần sợ hăi vừa có phần vui thú ấy, đối với một viên chức
cũng là một loại luận đàm xa xôi. Có thể nói: “Đói th́ ăn, buồn ngủ th́ ngủ”,
đại khái chỉ có những người xuất gia xa ĺa trần tục mới có thể làm được, đối
với chúng sanh thường t́nh như chúng ta, th́ đó là vấn đề “có thể gặp mà không
thể cầu”.
Nhưng, kỳ khôi nhất là tại
sao sau 2, 3 giờ chiều chúng ta lại buồn ngủ? Phải ngủ bao nhiêu tiếng đồng hồ
mới đủ? điều này đương nhiên tuỳ theo mỗi người mà có sự sai biệt. Trong truyền
thuyết, Nă Phá Luân vị anh hùng của nước Pháp, mỗi ngày, chỉ ngủ 3 tiếng đồng
hồ, v́ thế ông thường hay ngủ gật, thậm chí có một chuyện khôi hài đó là v́ ngủ
gật mà ông đă bị rơi từ trên lưng ngựa xuống đất. Đời nay, chúng ta thường thấy
trên công xa đầy khác, nhiều người tay nắm cái móc, và cứ như thế mà đứng ngủ
ngon lành. Nghe bảo trước đây trong quân đội đă có người vừa hành quân vừa ngủ
gật. Khi thời gian ngủ bị thiếu thốn nhiều, đương nhiên rất dễ ngủ gật. Nói theo
thường thức, b́nh quân mỗi người mỗi ngày ngủ khoảng 6 đến 7 tiếng đồng hồ, v́
thế ban đêm nếu ngủ đầy đủ, th́ ban ngày sẽ không bị t́nh trạng ngủ gà ngủ gật.
Sau cùng, chúng ta cần kết luận là: Sinh hoạt cần phải có những quy luật rơ
ràng.
Cái gọi là quy luật sinh
hoạt, đó là 3 bữa ăn nên định lượng, và phải ngủ nghê đầy đủ, như thế th́ khi đi
làm, sẽ không bị ngủ gật và đói bụng, và ban đêm cũng tự nhiên v́ không buồn ngủ
mà mất ngủ.
Nếu có thể làm được quy
luật sinh hoạt như thế -- Đói ăn cơm, buồn ngủ th́ ngủ th́ đó tức là thiền. Đó
là sự thể ngộ gần đây nhất của tôi. Có lẽ là v́ liên quan đến tuổi cao! Khi con
người đến tuổi trung niên, th́ không thích sự vật mới mẻ khác lạ. Đối với tuổi
trẻ, có lẽ cho rằng thiền như thế hơi bị g̣ bó, hơi “tượng gỗ” (không linh
hoạt), và v́ muốn truy cầu cảnh giới thiền mà đă có rất nhiều thay đổi không
chừng.
Tôi đă từng nói, phương
thức thực tiễn của thiền không phải chỉ có một loại. Có loại thiền thích hợp vời
người tuổi trẻ, có loại thiền thích hợp cho người trung niên, và cũng có loại
thiền thích hợp với bậc lăo niên. Tóm lại,
thiền không rơi vào bất cứ cái ổ cố
định nào.
CHƯƠNG II
HƯỚNG CAO TĂNG HỌC TẬP
THIỀN TÂM
ĐỐI VỚI VẬT XẢ BỎ MÀ CẢM THẤY
TIẾC NUỐI
TH̀ CHÍNH NÓ LÀ MỘT
LOẠI PHIỀN NĂO
BÀNG CƯ SĨ
Quyển sách “Chánh Pháp Nhăn
Tạng Tuỳ Văn Kư” này, là ngũ lục của Đạo Nguyên thiền sư – Khai sơn tổ sư của
Tào Động Tôn Nhật Bổn. Người soạn là cao túc (học tṛ) của Ngài là Hoài Trang
thiền sư. Tôi muốn đem nội dung của quyển sách này để giới thiệu tỉ mỉ đến quư
vị, nhưng, v́ trang giấy có hạn nên chỉ có thể dẫn dụng những phần có liên quan
đến nội dung thảo luận trong sách, và dưới đây là trích đoạn dịch văn đă tiết
lục:
Một hôm, có một vị tăng đến
hỏi tâm yếu của tâm hành. Tôi bảo với ông thế này: “Người học đạo có thể cần
phải “Nghèo” trước, v́ tiền bạc nhiều th́ dễ mua sắm đắm đuối vào vật chất mà
nản chí tinh thần, người tu hành tại gia thường lo lắng tiền tài, lưu luyến chỗ
ở, và giao dịch qua lại với bao nhiêu thân hữu, do vậy dù mà có chí tu hành,
cũng bị cản trở rất nhiều trong phần nhân duyên chứng đạo. Cho nên xưa nay dù
người tham gia tu học đông đảo, nhưng số người ưu tú vẫn không bằng người xuất
gia. Người xuất gia ngoại trừ ba y một bát tất cả đều không có tiền tài, không
truy cầu chổ ở yên ổn, không tham áo gấm khăn ngọc, một ḷng chuyên chú đạo
nghiệp, cho nên việc tu hành phần nhiều đều đạt kết quả. Đó là duyên do của “An
bần chi sở dĩ lạc đạo”.
Bàng Cư Sĩ tuy là tục nhân
tại gia, nhưng tu hành không thua ǵ người xuất gia, và ông đă chiếm được một vị
trí quan trọng trong Thiền Lâm. Bàng Cư Sĩ khi mới tham thiền, liền đă gom góp
toàn bộ sở hữu tài vật trong nhà để chuẩn bị bỏ vào biển cả. Người đi đường thấy
thế khuyên lơn là nên mang tài vật đó là dùng vào việc cứu nhân tế thế hoặc tạo
tháp lập chùa th́ tốt hơn. Cư Sĩ bảo rằng: “Vật này v́ có hại đối với tôi nên
tôi mới mang nó vứt bỏ, làm ǵ có cái đạo lư lấy cái vật hại ḿnh đem tặng người
khác!” Nói xong, không chút luyến tiếc ông đă đổ hết tiền tài xuống biển. Cư Sĩ
tuy người tại gia, nhưng sự không tham luyến tài sản thế gian, thật đáng được
gọi là một xuất gia hành giả”.
Khi tôi đang cai thuốc lá
đă từng mang một máy quẹt đắt tiền tặng cho người khác. Lúc ấy cơn nghiện thuốc
của tôi rất lớn, mỗi ngày phải hút độ khoảng 50 chục điếu thuốc. V́ nghĩ đến sức
khoẻ nên mới nhất quyết cai thuốc, đó là chuyện dĩ văng 20 năm trước. Khi đó tuy
quyết ḷng cai thuốc, nhưng tự biết ḿnh không phải là người ư chí kiên định,
nên đối với kỷ luật bản thân tôi đă không đủ tự tin để dứt khoát quyết tâm cai
thuốc do thế mới nhất định tặng cái quẹt máy cho người khác.
Khi đọc giáo thị của Đạo
Nguyên thiền sư, tôi đă không khỏi nghĩ đến dĩ văng. V́ sức khoẻ mà mang vật
không dùng tặng lại bạn bè, đây có phải là một việc làm thiều đạo đức? Đúng ra
phải quăng bỏ nó đi mới phải...
Đa phần con người thường sa
vào lề lối suy tư mê man như thế.
Hiển nhiên, cái quẹt máy sở
dĩ có hại là v́ dùng nó để đốt thuốc. Nếu không nhận thức được điểm này th́ đối
với suy tư trên mặt tiền tài lại càng không thể phân tích xác đáng. Tiền tài đối
với kẻ tu hành Phật đạo có lúc đích thị là một chướng ngại, nhưng, cũng không
thể phủ nhận sự hữu ích của nó. Ví như chúng ta có thể dùng nó để cứu tế kẻ
nghèo khó, hoặc sử dụng nó để kiến tạo chùa chiền, chấn chỉnh đạo tràng v.v...Có
khi cũng có thể dùng để quyên giúp cho các hội Bảo Trợ Nhi Đồng Quốc Tế ở Liên
Hiệp Quốc v.v...chẳng hạn. Nếu đứng trên khía cạnh này đề suy gẫm, th́ mang bạc
tiền liệng vào ḷng biển là một sự việc đáng tiếc.
Nhưng, cái t́nh cảm “Bỏ đi
thất tiếc” này đă không là cái khổ năo chướng ngại của việc tu hành ư? V́ thế,
nếu c̣n luyến tiếc khi mang tài vật vứt bỏ th́ không thể hoàn toàn chấm dứt khổ
năo. Bàng Cư Sĩ sở dĩ đáng kính, ,v́ ông không do dự tí nào khi đoạn tuyệt tài
vật. Thế mới mong kiên tŕ ôm cái chủ nghĩa “xuất thế trên hết” (tức là “chủ
trương không xuất gia th́ không thể hiểu rơ thiền” của Đạo Nguyên thiền sư),
đồng thời cũng rất đáng tôn sùng công phu “năng xả” của Bàng Cư Sĩ v́ ông can
cường hơn cả những người xuất gia.
Ở chương thứ 19 “Tân Ước
Thánh Kinh, Phúc Âm theo thánh Matthêu ” ghi lại một mẫu chuyện thế này:
Bấy giờ có một người đến
thưa Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, tôi phải làm điều ǵ tốt để được hưởng sự
sống đời đời ?”
Đức Giê-su đáp : “Sao anh hỏi tôi về điều tốt ? Chỉ có một Đấng
tốt lành mà thôi. Nếu anh muốn vào cơi sống, th́ hăy giữ các điều răn.”
Người ấy hỏi : “Điều răn nào ?” Đức Giê-su đáp : “Ngươi không được giết
người. Ngươi không được ngoại t́nh. Ngươi không được trộm cắp. Ngươi không được
làm chứng gian.
Ngươi phải thờ cha kính mẹ”, và “Ngươi phải yêu đồng loại như
yêu chính ḿnh.”
Người thanh niên ấy nói : “Tất cả những điều đó, tôi đă tuân
giữ, tôi c̣n thiếu điều ǵ nữa không ?”
Đức Giê-su đáp : “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, th́ hăy đi
bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh
sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hăy đến theo tôi.”
Nghe lời đó, người thanh niên buồn rầu bỏ đi, v́
anh ta có nhiều của cải.
Bấy giờ Đức Giê-su nói với các môn đệ của Người : “Thầy bảo thật
anh em, người giàu có khó vào Nước Trời.
Thầy c̣n nói cho anh em biết : con lạc đà chui qua lỗ kim c̣n dễ
hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.” (Mt 19: 16-24)
Lời nói của Gia Tô trọng
điểm là không phải mang tiền tài thí xá cho người nghèo mà
nhấn mạnh đến sự vướng mắc tiền tài
chính là sự chướng ngại cho con đường thông đến thiên quốc, điểm này mà chủ
trương của Đạo Nguyên thiền sư giống nhau.
So với phú ông truy cầu con
đường đi đến thiên quốc th́ quyết tâm của Bàng Cư Sĩ đáng tôn kính hơn. Ông v́
cầu đạo mà mang hết tài sản trút bỏ xuống biển, đích thật cần có quyết tâm và
dũng khí. Không luận là Phật giáo hay Cơ Đốc giáo, đều cần những người có quyết
tâm và dũng khí lớn như vậy để thực tu.
Bàng Cư Sĩ(? – 808) là một
trong số ít người với thân phận tại gia mà lưu danh trong thiền sử. Càng đáng đề
cập hơn, Bàng Cư Sĩ cả nhà gồm có bốn người đều xứng đáng gọi là “Gia tộc của
thiền”, bởi v́ cái chết của họ tương đối khác thường, có thể nói đó là lối chết
của thiền giả chính tông.
Những thiền gia tu hành cao
thâm, phần đông đều có thể biết trước ngày chết của ḿnh. Sự việc này thường
thấy trong “Cao Tăng truyện”. Thậm chí không những biết trước ngày giờ ra đi mà
nhiều thiền giả c̣n có thể tuỳ theo ư chí của ḿnh mà quyết định công việc tử
sanh. Bàng Cư Sĩ là một trong số những vị ấy. Giai thoại dưới đây được ghi trong
lời tựa của “Bàng Cư Sĩ ngữ lục”:
Một hôm, Bàng Cư Sĩ quyết
định văng sanh (đương nhiên khác với tự tử, tuy chúng ta không rơ nguyên nhân
trong ấy).
Bàng Cư Sĩ đem ư định của
ông nói với cô con gái là Linh Chiếu và dặn ḍ:
“Thế gian hư ảo không thật.
con ra ngoài cửa giúp ta để canh cao độ của mặt trời, đến khi đúng ngọ th́ hăy
thông tri cho ta một tiếng”
Bàng Cư Sĩ dự tính vừa đúng
chánh ngọ th́ sẽ văng sanh.
Đến chánh ngọ, cô con gái
vào nhà báo:
“Phụ thân đại nhân, đă
chánh ngọ rồi, nhưng hôm nay là ngày nhật thực, không tin cha hăy ra xem!”
“Thật có việc như thế
sao!”
Thừa lúc Bàng Cư Sĩ bước ra
ngoài nhà, Linh Chiếu cô nương đă toạ văng sanh.
“Động tác con nhỏ này thật
lanh lợi”
Bàng Cư Sĩ vừa mắng yêu vừa
nhặt củi khô lo việc thiện hậu cho người con gái.
Bảy hôm sau, thái thú sở
tại đến phúng điếu. Vị thái thú này b́nh thời đă dành rất nhiều sự kính ngưỡng
đối với Bàng Cư Sĩ. Bàng Cư Sĩ gặp thái thú liền bảo:
“Phàm các hiện tượng đang
hiện hữu điều là không tướng, nếu chấp không mà có th́ không thể được. V́
thế...” Lúc ấy trong nhà tràn đầy mùi thơm lạ và, Bàng Cư Sĩ đă văng sanh.
Thế là thái thú phải long
trọng cử hành tang lễ cho cư sĩ, và thông báo tin này cho Bàng phu nhân. Nghe
tin, Bàng phu nhân bảo rằng:
“Thật là đáng ghét, không
thông tri cho tôi một tiếng mà đi trước, làm sao chịu nổi!”
Bàng phu nhân lập tức
truyền tin này cho người con trai đang làm ruộng hay.
“Ba con và Linh Chiếu đều
đă chết rồi!” Bàng phu nhân vừa nói dứt lời, th́ người con đang cầm cuốc đă
buông lỏng và tằng hắng một tiếng rồi đứng đó văng sanh.
Bàng phu nhân một mặt lo
hậu sự cho con một mặt mắng yêu: “Thằng con thật bất hiếu!” sau đó đến từng nhà
cáo biệt những người lân cận và từ đó không biết bà đă đi đâu.