KINH VIÊN GIÁC
Chương Văn Thù
Nói Về Căn Bản Tu Chứng Viên Giác
Bồ Tát Văn Thù Hỏi
Chính Văn.-
Lúc ấy bồ tát Văn thù ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đem đỉnh đầu của ḿnh lạy ngang chân đức Thế tôn, theo chiều bên phải của ngài đi quanh ngài ba ṿng, rồi qú thẳng, chắp tay mà tác bạch: Thưa đức Thế tôn ḷng thương cao cả, con xin ngài v́ các vị đến dự pháp hội này mà nói về việc làm căn bản sơ khởi (9) của đức Thế tôn là thế nào? Lại nói về các vị bồ tát ở trong đại thừa phát tâm như thế nào mới trong suốt, tách rời bịnh hoạn (10) ? Và thời kỳ cuối cùng (11) , những người cầu pháp đại thừa phải như thế nào mới khỏi sa vào kiến thức sai lầm (12) ? Tác bạch rồi, bồ tát Văn thù gieo xuống sát đất tất cả năm bộ phận của thân thể mà kính lạy đức Thế tôn. Bồ tát thỉnh cầu như vậy đến ba lần, mỗi lần thỉnh cầu xong lại làm lại từ đầu.
Lược Giải.-
Lời hỏi của ngài Văn thù có 3 câu: câu một, việc làm căn bản sơ khởi của Phật là ǵ? câu hai, bồ tát phát tâm đại thừa như thế nào mới không bịnh hoạn? câu ba, chúng sinh mạt pháp cầu đại thừa phải như thế nào mới khỏi sa vào tà kiến?
Chấp Nhận Lời Thỉnh Cầu
Chính Văn.-
Bấy giờ đức Thế tôn dạy bồ tát Văn thù: Tốt lắm , thiện nam tử (13) , ông có thể v́ các vị bồ tát mà hỏi đến việc làm căn bản sơ khởi của Như lai, lại v́ những người cầu pháp đại thừa trong thời kỳ cuối cùng mà hỏi làm cách nào để được sự trú ở (14) chính xác, không sa vào kiến thức sai lầm. Ông hăy nghe kyլ Như lai sẽ nói cho. Bồ tát Văn thù vâng lời, hoan hỷ, cùng cả đại chúng yên lặng lắng nghe.
Đáp Câu Hỏi Một
Chính Văn.-
Đức Thế tôn dạy: Thiện nam tử, đức Pháp vương vô thượng có pháp đại tổng tŕ (15) danh hiệu là Viên giác, tuôn ra tất cả các pháp trong sáng là chân như (16) , bồ đề (17) , niết bàn (18) và ba la mật (19) , để dạy cho các vị bồ tát. Việc làm căn bản sơ khởi của chư vị Như lai là y theo viên giác - y theo tuệ giác trong suốt và chiếu soi trọn vẹn ấy mà diệt trừ vô minh một cách vĩnh viễn, mới thành đạt tuệ giác Phật đà (20) .
Lược Giải.-
Việc làm căn bản sơ khởi của Phật là y cứ viên giác mà diệt trừ vô minh. Đó là đáp câu hỏi một của ngài Văn thù: việc làm căn bản sơ khởi của Phật là ǵ.
Nói Thêm Về Vô Minh
Chính Văn.-
Thiện nam tử, vô minh là ǵ, là những sự thác loạn có từ vô thỉ đến giờ của các loại chúng sinh, những sự thác loạn tựa như một kẻ ngộ nhận th́ bốn phương hướng biến đổi vị trí (21) tất cả. Do đó mà ngộ nhận sự tổ hợp của bốn đại chủng làm tự thân, ngộ nhận sự nhận thức về sáu đối cảnh (22) làm tự tâm , khác nào mắt bịnh th́ thấy không gian có hoa đốm, hay thấy mặt trăng có mặt trăng thứ hai chồng lên. Nhưng không gian thật không có hoa đốm, hoa đốm chỉ do người bịnh ngộ nhận: v́ sự ngộ nhận này mà không những ngộ nhận sự thật của không gian, lại c̣n ngộ nhận cả xuất xứ chính xác của hoa đốm, và v́ như vậy mà có sự sinh tử luân hồi, có một cách không thật (23) , nên mệnh danh là vô minh.
Lược Giải.-
Vô minh là biết mà biết sai: biết tổ hợp tứ đại là tự thân, biết duyên ảnh lục trần là tự tâm. Biết như vậy là cũng như mắt bịnh thấy không gian có hoa đốm.
Trong kinh Lăng nghiêm thuật lại cái biết của ngài A nan như sau: ... Tự biết Tâm khắp mười phương.Thấy không gian mười phương chỉ như chiếc lá trong ḷng bàn tay. Vũ trụ vạn hữu đều là Tâm. Tâm bao hàm tất cả. Nh́n lại cái thân do cha mẹ sinh ra thấy chỉ như hạt bụi trong không gian. Thân ấy c̣n hay mất, chỉ như cái bọt nổi lên hay tan mất trong biển cả ... (Chính 19/119). Biết cái thân b́nh thường mà như vậy th́ không phải là cái biết của vô minh.
Nói Thêm Về Viên Giác
Chính Văn.-
Thiện nam tử, vô minh như vậy là không phải có thật, y như nhân vật trong mộng, mộng th́ thấy là có mà tỉnh th́ biết là không -- Không đây là như hoa đốm mất đi trong không gian, th́ không thể nói không gian có cái vị trí biến mất, v́ lẽ không gian vốn không có cái vị trí sinh ra. Trong sự không sinh không mất như vậy, các loại chúng sinh thấy lầm có sinh có mất, nên gọi là sinh tử luân hồi (24) ; c̣n việc làm căn bản sơ khởi của chư vị Như lai là tu theo viên giác: biết là hoa đốm th́ biết sinh tử luân hồi là không, thân tâm lănh chịu sự sinh tử luân hồi ấy cũng là không -- Không, không phải làm cho không đi mới không, mà là thực chất vốn không. Biết là hoa đốm, cái biết ấy cũng là không; cái biết cũng là không như vậy cũng chỉ là sắc thái hoa đốm; và như thế th́ cũng không thể nói rằng không biết ǵ cả: có và không đều loại bỏ th́ gọi là thích ứng với tuệ giác trong sáng. Tuệ giác trong sáng là v́ bản thể vốn như không gian, vĩnh viễn bất động, nghĩa là Như lai tạng (25) không có sự sinh ra và sự mất đi, không có cái thấy biết phản ảnh sự sinh ra và sự mất đi, mà là bản thể vũ trụ, vốn tuyệt đối, trọn vẹn và phổ biến.
Lược Giải.-
"Biết là hoa đốm th́ biết sinh tử là không", biết không gian vốn không có hoa đốm: biết viên giác vốn không phải vô minh, biết như vậy chính là viên giác.
Đáp Các Câu Hỏi Hai Và Ba
Chính Văn.-
Như thế đó là việc làm căn bản sơ khởi của Như lai. Bồ tát y theo căn bản ấy mà ở trong đại thừa phát tâm trong suốt. Và những người thời kỳ cuối cùng y cứ căn bản ấy mà tu hành th́ không sa vào kiến thức sai lầm.
Lược Giải.-
Bồ tát y theo viên giác (căn bản sơ khởi của Phật) mà phát tâm th́ tâm đó trong suốt, không bị bịnh hoạn. Đó là đáp câu hỏi hai của ngài Văn thù: bồ tát phát tâm đại thừa như thế nào mới không bịnh hoạn. Chúng sinh y theo viên giác mà cầu đại thừa th́ không bị tà kiến. Đó là đáp câu hỏi ba của ngài Văn thù: chúng sinh mạt pháp cầu đại thừa phải như thế nào mới khỏi sa vào tà kiến.
Trùng Tuyên Bằng Chỉnh Cú
Chính Văn.-
Đức Thế tôn muốn lặp lại ư nghĩa đă nói nên nói những lời chỉnh cú (26) sau đây.
Văn thù nên biết,
tất cả Như lai
căn bản sơ khởi
vận dụng tuệ giác:
biết rằng vô minh
chỉ như hoa đốm
nên hết luân hồi,
khác nào cảnh mộng
mộng mị thấy có
thức tỉnh toàn không.
Cái biết trên đây
vốn cũng là không
b́nh đẳng, bất động (27) ,
phổ biến mười phương:
ấy là thành đạt
tuệ giác Phật đà.
Huyễn ảo biến mất
th́ không vị trí,
tuệ giác thành đạt
cũng vốn là không,
v́ lẽ bản thể
vốn là tṛn đầy.
Y cứ vào đây
các vị bồ tát
có thể phát ra
tâm đại bồ đề;
những người sau này
theo đây mà tu
th́ khỏi sa vào
kiến thức sai lầm.
LỜI BÀN CỦA TÂM LINH VÀO ĐỜI
Trong Tin Mừng Gioan, đoạn 9: 39-41 cũng rất khó hiểu:
39
Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính
là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù
!”
40 Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức
Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng : “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao ?”
41
Đức Giê-su bảo họ : “Nếu các ông đui mù, th́ các
ông đă chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : ‘Chúng tôi thấy’, nên tội
các ông vẫn c̣n !”
Ai là kẻ xem thấy lại nên đui mù?
Tôi học hết lớp thần học này, tới lớp Thánh Kinh kia nhưng chỉ học để tăng thêm kiến thức, Kể cả những khi hễ mở miệng nói ra là trích dẫn hiến chế này, tông huấn kia, nhưng những điều tôi nói chỉ thuần túy lư thuyết. Chính tôi cũng chưa thực hành trong cuộc sống, chính tôi cũng chưa thực sự cảm nghiệm. Thế mà oái oăm thay, tôi vẫn có cảm tưởng ḿnh nắm trong tay chân lư. Tại hại hơn nữa, tôi sẵn sàng nhân danh Chúa, nhân danh sự ổn định cộng đ̣an để loại trừ những ai không cùng quan niệm với tôi.
Trước đây tôi lao đầu vào những việc đạo đức, loan báo tin mừng và tôi cảm thấy rất an tâm v́ tôi đang phục vụ cho công tŕnh của Chúa. Tôi nghĩ rằng tôi đang thực hiện ư Chúa.
Nhưng hóa ra không phải vậy. Tôi chỉ chọn công tŕnh của Ngài, c̣n Ngài th́ tôi lại chẳng quan tâm. Bằng chứng là: cả một ngày cộng lại, tôi chỉ thực sự sống với Chúa may lắm mới chừng vài phút. C̣n cả hàng ngàn phút c̣n lại tôi chỉ thấy CÁI THẰNG TÔI tất bật bỏ cửa bỏ nhà dấn thân tới những nơi xa xôi loan báo những ǵ người ta viết sẵn cho tôi. tôi loan báo như một máy cassette vô hồn.
Tôi chính là kẻ xem thấy lại nên đui mù
Thế th́: Người không xem thấy được thấy. Tại sao kỳ vậy?
Chỉ khi nào tôi dừng lại, kiểm lại ṭan bộ cuộc sống của ḿnh tương quan với Chúa ra sao.
Th́ ra tôi như người không xem thấy - MÙ TỊT - NGỦ MÊ - V́ thế, tôi cảm thấy phải quyết tâm lên đường t́m chân lư. Tôi liên tục gơ cửa, kiếm t́m..Cuối cùng, cánh cửa tự động mở ra - Tôi sáng mắt - tôi thấy - tôi biết.
Tôi thấy thế nào
Xin thưa:
Tôi sẽ nên giống như Người,
v́ Người thế nào,tôi sẽ thấy Người như vậy. (1Ga 3:2)