THÁNH THẦN,
HƠI THỞ SỐNG ĐỘNG CỦA GIÁO HỘI
 
Hồng Y  L.J. Suenens


Chương I

Một sứ điệp chỉ đáng tin khi có khả năng mở ra

cho chúng ta niềm hy vọng vào tương lai.

                                                                                                                    W. Kasper

1. GIÁO HỘI NÀO?

Từ ngữ «Giáo Hội» bao gồm đủ thứ h́nh ảnh và kiểu mẫu. Người ta có thể định nghĩa Giáo Hội là một loại xă hội có phẩm trật, là nhiệm thể Đức Kitô, là dân Chúa, là cộng đoàn địa phương hay hoàn vũ, là cộng đoàn cánh chung, là bí tích của Đức Kitô, là tác năng phục vụ thế giới. Những căng thẳng hiện nay một phần phát sinh do việc một số người chủ trương ưu tiên một mẫu mực độc chuyên hoặc quá ưu thắng trong các kiểu mẫu ấy. Sự thật th́ phức tạp hơn nhiều: chính Giáo Hội là một mầu nhiệm tiếp nhận muôn vàn chiều kích phong phú khôn lường của Đức Kitô mà chúng ta phải đón nhận tất cả cùng một lượt.

Khi tôi c̣n trẻ, người ta tŕnh bày Giáo Hội như một xă hội có phẩm trật, hoàn hảo về mặt pháp lư, với đủ mọi quyền lực hàm ngụ nơi qui chế nầy. Kiểu mẫu này phản chiếu h́nh ảnh một Giáo Hội rập khuôn một xă hội dân sự, thậm chí quân sự, với một phẩm trật có trên có dưới, lấy sự đồng dạng làm lư tưởng, tuân theo một kỷ luật gắt gao đến tận chi tiết, điều hành cả giáo sĩ lẫn giáo dân, và áp đặt một loạt những g̣ bó quan liêu lên cả hàng giám mục. Danh sách những ǵ mà giám mục phải đệ tŕnh xin phép Rôma thật khó mà tin nổi, ngay cả việc xin cho phép một nữ tu sửa đổi bản di chúc hoặc cho phép một linh mục ốm đau được dâng thánh lễ tại pḥng riêng.

Công đồng Vatican II nhấn mạnh rằng Giáo Hội là Dân Chúa đang tiến bước, phục vụ cho nhân loại. Khi mô tả mầu nhiệm Giáo Hội, Hiến Chế Lumen Gentium trong chương đầu tiên đă đưa ra rất nhiều h́nh ảnh về Giáo Hội để chúng ta đừng đóng khung mầu nhiệm Giáo Hội trong những tấm vách quá chật hẹp của ḿnh. Sau đó, Hiến Chế định nghĩa Giáo Hội là Dân Chúa trong tính toàn thể của nó. Nghĩa là đưa lên hàng đầu giá trị ưu tiên của phép rửa, sự b́nh đẳng căn bản giữa hàng ngũ con cái Thiên Chúa, và nhờ vậy cải cách và vượt qua một quan điểm về Giáo Hội mà ngày nay gọi là lối nh́n «kim tự tháp», để rồi định vị thừa tác vụ (linh mục, giám mục) vào giữa ḷng toàn bộ Giáo Hội và để phục vụ toàn bộ Giáo Hội. Hướng nh́n nầy thấm nhuần sứ điệp Tin Mừng hơn là dựa vào uy thế pháp lư, mà lại không chối bỏ vai tṛ của hàng giáo phẩm.

Tôi tin rằng đă đến giờ người Công Giáo theo lễ nghi Rô-ma cần phải làm nổi bật vị thế và chức năng của Thánh Thần để làm quân b́nh hơn cái nh́n của chúng ta về Giáo Hội. Tôi gọi chúng ta là những người «theo lễ nghi Rô-ma» v́ những người theo lễ nghi Đông phương, dù là Công Giáo hay Chính thống, đều luôn luôn đồng ư trong việc nhấn mạnh lập trường ấy. Đức Phaolô VI đă nhắc lại sự cần thiết phải làm như thế: «Tiếp theo Kitô-học và đặc biệt là Giáo-Hội-học của Công Đồng, cần phải tiến hành một lối học hiểu và một lối thờ phượng mới về Chúa Thánh Thần, v́ đó là việc bổ sung thiết yếu cho Công Đồng »1.

Hẳn nhiên, người ta có thể t́m thấy rất nhiều qui chiếu về Chúa Thánh Thần trong các tài liệu Công Đồng, và thường lại được đưa vào bản văn do yêu cầu nhấn mạnh của các nghị phụ Đông phương hoặc nhân cơ hội có cuộc tranh luận về các đoàn sủng. Nhưng chúng ta cần phải thâm nhập trọn vẹn chiều kích «Thánh Thần» của Giáo Hội, dưới khía cạnh hiệp thông trong Thánh Thần.

Chính việc cùng nhau chấp nhận Chúa Thánh Thần là thực tế sống động, là Đấng lập nên Giáo Hội, mới là yếu tố có thể giúp chúng ta t́m lại sự hiệp nhất, hiện đang gặp nguy cơ phân hóa, giữa các Kitô hữu trung thành với Giáo Hội định chế và các Kitô hữu muốn  tự do và thoát ly mọi liên hệ cụ thể linh hoạt với Giáo Hội. Hiện đang có một sự đối nghịch ngày càng gia tăng giữa đám đông Kitô hữu được gọi là «truyền thống» là những người vẫn tiếp tục t́m thấy nơi Giáo Hội những biểu hiện hữu h́nh: như phẩm trật, phụng vụ, thần học, giáo luật..., và một thiểu số Kitô hữu được gọi là «phản kháng», quan niệm Giáo Hội như là một đám đông Kitô hữu «đang trên đường t́m kiếm». Những người này muốn giải thích lại Tin Mừng cho thời đại hôm nay khởi từ chứng nghiệm sống và từ các biến cố, chứ không – hoặc hầu như không – dựa vào cách giải thích của Giáo Hội mà ta gọi là «được thiết lập».

Chúng ta sơ phác đường phân ranh như thế, may mà c̣n chưa cố định; nhưng hẳn đó là những ranh giới ngày càng rơ nét, đặc biệt qua sự kiện nhiều bạn trẻ không chấp nhận tự «đóng khung» trong cơ chế, và đáng tiếc là đă xa rời Giáo Hội hoặc t́m sự nương tựa nơi những nhóm tự phát để cùng nhau bày tỏ lư tưởng sống của ḿnh.

Càng ngày người ta càng đồng ư rằng việc khám phá lại mối liên hệ cần thiết giữa định chế và tự do là vấn đề trọng yếu mà Giáo Hội hiện nay phải giải quyết. Mối liên hệ này chẳng phải do chúng ta phát minh ra v́ nó không phải là một cái ǵ nhân tạo, cũng không phải là kết quả do thỏa thuận hay thương lượng mà có. Mối liên hệ ấy có một tên gọi riêng: đó chính là Thánh Thần. Tự bản chất, Ngài là «tác nhân hiệp thông». Chính Ngài làm cho toàn Giáo Hội sống động từ bên trong. Chính Ngài ban cho Giáo Hội những cơ quan và guồng máy hữu h́nh của tổ chức Giáo Hội.

Qua những trang sách này, chúng ta sẽ làm cho vấn đề sáng tỏ và rơ nét hơn. Trong chương này, chúng ta chỉ cần ghi nhận những tương quan sâu xa và phong phú giữa «định chế» và «đoàn sủng».

2. HAI CHIỀU KÍCH CỦA GIÁO HỘI

Nói chung, trong ngôn ngữ thông thường, nói tới Giáo Hội-định chế là người ta nhắm đến Giáo Hội hữu h́nh, với những nét phức tạp về mặt xă hội do quá khứ lịch sử và các nét cá biệt của mỗi dân tộc. Giới truyền thông có thói quen tŕnh bày cho công chúng một Giáo Hội “theo mô h́nh sẵn có» này với những h́nh ảnh khi lồi khi lơm; nhất là v́ ưa gây kích động nên dễ tạo ra ấn tượng méo mó. Đó là Giáo Hội dưới khía cạnh xă hội học, với những thực tế lịch sử muôn màu và bất chừng.

Nhưng đối với tín hữu, Giáo Hội là một thực thể thuộc một trật tự hoàn toàn khác. Giáo Hội thiết yếu là một mầu nhiệm hữu h́nh lẫn vô h́nh một cách bất khả phân ly, là trung gian giữa Đức Giêsu và chúng ta. Giáo Hội ấy có nhiệm vụ sống Tin Mừng và làm chứng Tin Mừng ấy cho từng thế hệ. Giáo Hội của Tin Mừng này bao gồm những con người, v́ thế phải chịu đủ thứ bấp bênh gây ra do sự yếu đuối của con người, nhưng dù sao vẫn được Thánh Thần điều động, ban quyền năng, và đảm bảo về sự trung tín.

Cấu trúc Giáo Hội theo quan điểm thần học và theo quan điểm xă hội học không giống nhau. Đối với người tín hữu, sự sắp xếp về mặt cơ chế trong cộng đồng Giáo Hội là do Đức Giêsu mong muốn và phác họa, nó măi măi gắn liền với sức sống và sự tăng trưởng của một Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. H́nh ảnh Giáo Hội xuất hiện một cách tinh lọc trong Kinh Thánh. Người ta thấy h́nh ảnh ấy nơi những Kitô hữu đầu tiên chăm chú nghe giáo huấn của các Tông Đồ, tụ họp nhau để cầu nguyện và cử hành Thánh Thể, tuy khác biệt nhau về tác vụ nhưng hiệp nhất với nhau trong một cộng đoàn huynh đệ. Họ được dẫn dắt bởi những vị có trách nhiệm tổ chức trật tự nội bộ và liên lạc với những cộng đoàn Kitô hữu khác. Những vị hữu tránh nầy luôn lo lắng trung thành với kho tàng được lănh nhận và chuyển giao từ các nhân chứng có thẩm quyền, có tư cách, được ủy nhiệm, liên tục tiếp nối những chứng nhân đầu tiên làm chứng về sự Phục Sinh của Thầy Chí Thánh.

Đó là những đường nét sơ phác về Giáo Hội định chế; chúng vốn thuộc về yếu tính của Giáo Hội ấy.

Nhưng hơn thế nữa, lịch sử Giáo Hội lúc khai sinh từng bước cho thấy trong Giáo Hội không có sự tách biệt giữa «tổ chức Giáo Hội» và «Chúa Thánh Thần», v́ Thánh Thần là linh hồn và là sự sống của Giáo Hội.

Các Tông Đồ đă lănh nhận từ Thầy Chí Thánh mệnh lệnh tối hậu là không được tự biên tự diễn trong việc thi hành sứ mệnh Ngài giao phó, mà phải chờ Đấng sẽ dùng quyền năng phủ lên họ và dần dần mặc khải cho họ tiếp cận viên măn chân lư mà họ vừa thoáng thấy. Giáo Hội «có cơ cấu» trước tiên không phải là một thực tại pháp lư mà là một thực tại bí tích. Thánh Thần ngự xuống trên những kẻ được Thầy Chí Thánh ủy nhiệm. «Các con hăy nhận lấy Thánh Thần» là lời khởi màn nói với bất cứ ai lên đường hành động nhân danh Giáo Hội. Ngay cả hiện nay, không ǵ mạnh mẽ bằng những câu nói dùng trong nghi thức tấn phong giám mục … «Lạy Chúa xin giúp cho vị này thi hành sứ vụ ḥa giải bằng lời nói và hành động, với quyền năng các dấu chỉ và phép lạ». Những lời này không phải là văn chương bóng bảy mà là một h́nh thức biểu lộ đức tin.

Như thế, Giáo Hội của Tin Mừng ấy vừa hữu h́nh vừa vô h́nh. Không bao giờ được nói có hai Giáo Hội: một Giáo Hội cơ chế hữu h́nh, và một Giáo Hội đoàn sủng vô h́nh. Sự kết hợp hai chiều kích nầy thiết yếu xây dựng nên  ư niệm về Giáo Hội.

Theo đức tin, người ta không thể quan niệm một «Giáo Hội thiêng liêng» riêng để trung thành với Tin Mừng và Thánh Thần, đối lập với một «Giáo Hội định chế» được đồng hoá một cách nào đó với một thứ áo măo bên ngoài.

Đức Phaolô VI tuyên bố: «Thánh Thần, Đấng ban phát các đoàn sủng và đồng thời làm linh hoạt Giáo Hội, đă làm cho việc linh ứng đoàn sủng và cơ cấu pháp lư của Giáo Hội đồng quy một cách tuyệt vời»2.

Từ ngữ «charisme» (đoàn sủng) đă đi vào ngôn ngữ thế tục. Theo ư nghĩa nới rộng nầy, đoàn sủng ám chỉ một thứ tài năng ngoại hạng, một thứ từ lực cá nhân. Theo ư nghĩa tôn giáo và thánh kinh là ư nghĩa duy nhất mà chúng ta quan tâm ở đây, đoàn sủng là một ân huệ đặc biệt, một biểu hiện thấy được và ban nhưng không của Thánh Thần, một ân sủng đặc biệt Thiên Chúa, nhằm xây dựng toàn nhiệm thể Giáo Hội. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này sau.

Chúng ta thấy cách dùng từ ngữ ấy trong xă hội hiện nay cũng không luôn luôn trùng hợp với lối nói của thánh Phaolô. Chẳng hạn một số tín hữu đă coi «đoàn sủng» là cái ǵ đối nghịch với «tác vụ» (tiếng Đức: Amt; tiếng Pháp: ministère). Họ hiểu một cách giản lược «tác vụ» là một phận vụ được thi hành đều đặn trong cộng đoàn và cho cộng đoàn bởi một số người được chính thức ủy nhiệm. Quan niệm như thế là đi ngược lại tư tưởng thánh Phaolô. Theo Ngài, từ ngữ «đoàn sủng» chẳng những có nghĩa là các ơn huệ thiêng liêng thần bí nhất hoặc có tính cách tôn giáo nhất, mà c̣n có nghĩa là những phận vụ rất hữu h́nh trong Giáo Hội, như làm tông đồ, giảng dạy, điều hành. Đàng khác, thánh Phaolô cũng nhấn mạnh rằng phải xem tất cả các đoàn sủng – chứ không chỉ các phận vụ chính thức – là những tác vụ được trao ban, trước hết là để phục vụ cộng đoàn.

Theo tôi, những ghi nhận ấy có thể giúp ta tránh được những t́nh thế tiến thoái lưỡng nan và những vấn đề nêu lên một cách giả tạo. Chúng giúp ta tránh được việc phân rẽ «những ǵ mà Thiên Chúa đă kết hiệp» (Mt 19,6). Đừng bao giờ quên rằng Giáo Hội không thể hiện hữu nếu thiếu chiều kích đoàn sủng. Phủ nhận chiều kích này không phải chỉ làm nghèo Giáo Hội mà c̣n phủ nhận luôn cả sự hiện hữu của Giáo Hội. Không có chiều kích này, Giáo Hội không phải chỉ bị mất một bộ phận nào đó của ḿnh, giống như một người bị mất bàn tay, nhưng sẽ không c̣n là Giáo Hội nữa, v́ chính yếu tính của Giáo Hội sẽ bị tiêu hủy.

Người phương Tây chúng ta thích dùng những từ ngữ Kitô học để mô tả Giáo Hội, xem Giáo Hội như hoàn toàn được Đức Kitô thiết lập nơi các cơ cấu, và Thánh Thần xem ra chỉ xuất hiện khi các cơ cấu Giáo Hội đă được thiết lập xong, nhằm thúc đẩy và làm cho các cơ cấu này sống động. Quan niệm như thế khiến người ta tưởng rằng Thánh Thần thuộc về giai đoạn hai trong việc thiết lập Giáo Hội. Đâu phải thế! Thánh Thần, cũng như Đức Kitô, đă lập nên Giáo Hội. Gán cho Thánh Thần vị thế tiếp nối như Đấng làm sinh động và kết hợp Giáo Hội th́ chưa đủ. Sự hiện diện trong hai chức năng này của Ngài không hề đưa đến chủ nghĩa nhị nguyên trong ḷng Giáo Hội v́ Thánh Thần tấn phong Giáo Hội cũng chính là Thánh Thần của Đức Kitô, Đấng đă nhận lănh quyền thông ban Thánh Thần ấy cho các Tông Đồ như giá khổ nạn chuộc tội của Ngài.

Sự kết hợp này đem lại rất nhiều kết quả cho đời sống thiêng liêng, tu đức, phụng vụ, thờ phượng và tông đồ của Giáo Hội. Giáo Hội là kết quả sứ mệnh của Hai Ngôi Vị Thiên Chúa: sứ mệnh của Ngôi Con nhập thể và sứ mệnh của Ngôi Thánh Thần được gởi đến cho Ngôi Con để cộng đồng nhân loại của các tín hữu trở nên thân thể Đức Kitô và nên bí tích phổ quát của ơn cứu độ.

Như vậy, chúng ta không được xem phẩm trật với đoàn sủng, cũng như công việc của Chúa Con với công việc của Thánh Thần đối kháng nhau.  (C̣n tiếp..)