THÁNH THẦN,
HƠI THỞ SỐNG ĐỘNG CỦA GIÁO HỘI
 
Hồng Y  L.J. Suenens


Chương I

Một sứ điệp chỉ đáng tin khi có khả năng mở ra

cho chúng ta niềm hy vọng vào tương lai.

(tiếp theo)

3. GIÁO HỘI LẮNG NGHE THÁNH THẦN

Đón nhận đoàn sủng

Dù tận thâm sâu, hai chiều kích trên của Giáo Hội liên kết với nhau, nhưng phải thừa nhận rằng lịch sử đă từng chứng kiến những ngày tháng căng thẳng giữa hai chiều kích ấy. Sự căng thẳng này đôi khi phát sinh từ những đối kháng giữa hàng giáo phẩm với những Kitô hữu ngụy-đoàn-sủng .

Những hiện tượng siêu nhiên giả mạo xảy ra đầy dẫy – chẳng hạn như lối kết tạp tôn giáo kiểu chiêu hồn ở Ba-Tây và những nơi khác. Việc quần chúng ṭ ṃ ham thích những chuyện dị thường khiến ta phải luôn b́nh tĩnh. Trong bối cảnh như thế, việc vận dụng ơn suy xét rất tế nhị, nên hàng giáo phẩm rất dễ có khuynh hướng phải hành động theo cách chắc chắn nhất. Sự kiện nầy giải thích – nhưng không phải luôn luôn biện minh được - một số ngờ vực và lên án quá lạm mà lịch sử đă từng ghi nhận. Thật vậy, các phong trào tâm linh do các ḍng tu phát động, lúc khởi đầu, thường có sự căng thẳng giữa người sáng lập phong trào và hàng giáo phẩm, đó không phải là chuyện hiếm xảy ra. Lịch sử cho thấy việc băi miễn một số tu sĩ một phần là do những xung đột loại này. Nhiều vị sáng lập ḍng, nam có nữ có, lúc khởi đầu đă bị lầm tưởng là những nhà cuồng tưởng của thời đại, như trường hợp thánh Phan-xi-cô thành Assisi và I-nha-xi-ô thành Loyola.

Trong số những trường hợp như vậy phải kể đến đoạn đường gian khổ của thánh Grignon de Montfort. Vị này liên tiếp bị tước quyền trong tám giáo phận v́ các giáo quyền thời ấy đều có ít nhiều khuynh hướng Janséniste. Cũng có trường hợp cực ḱ bi đát như trường hợp của một vị nữ sáng lập ḍng nọ, vị này bị giáo quyền trục xuất khỏi nhà ḍng và chỉ được trở về lại nhà ḍng với nắm xương tàn sau khi qua đời nửa thế kỷ, lúc sắp được phong chân phước!

Chủ chăn và tín hữu đều được Thánh Thần tác động

C̣n một điểm tôi cho là quan trọng: đó là không nên đánh giá cái này cao hơn cái kia giữa các cặp song đối như «đoàn sủng – định chế»«tín hữu – chủ chăn». Đoàn sủng không là kho tàng riêng chỉ dành cho một giới tín hữu. Đàng khác, nếu người ta hiểu «định chế» theo một nghĩa rộng, bao gồm tất cả những ǵ cấu thành cơ sở hữu h́nh trong Giáo Hội và di sản của quá khứ kể từ thời Giáo Hội sơ khai, th́ sự hiện hữu của hàng giáo dân trong Giáo Hội cũng thuộc về «định chế» Giáo Hội không khác ǵ sự hiện hữu của hàng giáo phẩm.

Đoàn sủng không phải là của riêng hàng giáo dân hoặc hàng giáo phẩm. Trong số «các ngôn sứ» của thời đại, người ta có thể kể ra nhiều giáo dân. Vả lại danh từ «ngôn sứ» không phải là dễ sử dụng và đánh giá. Ngôn sứ không nhất thiết phải là những người được nói đến nhiều nhất. Mỗi tín hữu đều được mời gọi làm chứng cho đức tin của ḿnh ở bên ngoài và bên trong Giáo Hội, được mời gọi vận dụng những tiềm năng  đoàn sủng gắn liền với phép rửa tội của ḿnh.

Không một giới nào trong hai đối tượng này – hàng giáo phẩm hay hàng giáo dân – là tiêu biểu duy nhất cho định chế Giáo Hội. Di sản quá khứ của Giáo Hội, kể cả Tin Mừng, cả chứng tá đức tin từ những thời đầu tiên của Giáo Hội, đều hiện diện và sống động từ cả hai phía. Cả hai phía phải cùng nhau phát minh ra cách thể hiện ḷng trung tín với đức tin của ḿnh trong thời đại hôm nay. Cả hai phía phải cùng nhau đương đầu với những khó khăn để phát huy những sáng kiến mới trong đời sống Giáo Hội thích ứng với nội dung Tin Mừng. Ư tưởng «Dân Thiên Chúa» của Công Đồng Vatican II ở đây phải được đặt lên hàng đầu. Người ta thường quên rằng ở đây «Dân Thiên Chúa» không ám chỉ là phải đối nghịch với «việc cai trị» như trong thuật ngữ chính trị. Dân Thiên Chúa có nghĩa là những người được rửa tội, kể cả Giáo Hoàng và các Giám Mục.

Trong cuộc hành tŕnh của Dân Thiên Chúa, các vị chủ chăn có một phận vụ đặc biệt, một công việc phục vụ cá biệt mà họ phải thực hiện. Việc phục vụ này có quan hệ với sự hiệp nhất hữu h́nh của Giáo Hội. Các vị chủ chăn được tấn phong trước tiên không phải để chỉ huy mà để liên kết, để đảm bảo sự hiệp thông giữa các cá nhân và để duy tŕ sự liên tục trong thời gian và sự hài ḥa trong không gian. Mất đi khả năng tự điều chỉnh, Giáo Hội sẽ bị rơi vào cuồng tưởng và cá nhân chủ nghĩa.

Là bộ phận có chức năng quyết định trong Giáo Hội, các vị chủ chăn phải sống trong Thánh Thần, phải đặc biệt chú tâm tới toàn bộ các «dấu chỉ  thời đại» và tới các chứng từ mang tính ngôn sứ được biểu lộ từ nhiều phía. Những chứng từ ấy cần được lắng nghe, và v́ quyền năng tối thượng của Tin Mừng cần được tiếp nhận vào sinh hoạt toàn bộ của Giáo Hội, để Giáo Hội trở nên nhân chứng tốt hơn cho Nước Trời đang đến.

Trong Giáo Hội, luôn luôn có sự hiện diện ngôn sứ của Thánh Thần, có thể rơ rệt hoặc kín đáo. Có thể xảy ra trường hợp sau: một vị «ngôn sứ» nào đó muốn thức tỉnh lương tâm mọi người bằng cách công bố một sứ điệp đanh thép nhưng có phần nào phiến diện. Nhưng không phải v́ thấy phiến diện như thế mà các chủ chăn không nên lắng nghe: bổn phận chủ chăn là phải phân biệt để nhận ra điều ǵ tốt và đón nhận nó, đồng thời hướng dẫn nó ḥa nhập vào một lối nh́n rộng răi và có thể quân b́nh hơn.

Như vậy, Thánh Thần tác động trên các vị mục tử để những ǵ họ quyết định phù hợp với Tin Mừng, với đời sống Giáo Hội và sự quang lâm của Nước Chúa. Và Ngài cũng c̣n đ̣i buộc các mục tử phải đón nhận tất cả những cách thức biểu hiện của Ngài. Ngài luôn ngăn cản không để Giáo Hội tự coi ḿnh là cùng đích. Ngài ǵn giữ Giáo Hội để Giáo Hội luôn hướng về mục tiêu cuối cùng là Nước Trời đang đến và về Đức Giêsu Kitô, là Chúa Tể duy nhất của Giáo Hội.

Mở ḷng đón nhận sự phê phán của Tin Mừng

V́ phải ḥa nhập vào bối cảnh lịch sử của mỗi thời đại, nên Giáo Hội cần thường xuyên tự phê và tự xét để luôn trung thành với sứ mạng của ḿnh. Tự bản chất, Giáo Hội hoàn toàn liên kết với Lời Chúa, và sự tùng phục theo bản chất này buộc Giáo Hội phải đều đặn trở về nguồn. Thánh Thần không ngừng giúp Giáo Hội tránh xa những quan niệm chật hẹp, những thỏa hiệp và cả tội lỗi nữa, v́ Giáo Hội vẫn luôn luôn bao gồm những con người thiếu sót, bất trung với cái lư tưởng mà họ được mời gọi phụng sự.

Việc phê phán giúp Giáo Hội trở nên tốt hơn có thể đến từ bên trong lẫn bên ngoài. Đôi khi từ những đối thủ của Giáo Hội. Ngạn ngữ «Fas est ab hoste doceri» có nghĩa là: kẻ khôn ngoan biết học khôn từ chính kẻ thù ḿnh, ngạn ngữ này cũng đúng cho cả Giáo Hội.

Giáo quyền phải biết lắng nghe, phải dám kịp thời nhận lănh trách nhiệm trước những đ̣i hỏi cần thiết phải xét lại, để tránh cho ḿnh bị dồn vào thế cùng khi mọi sự đă quá trễ tràng. Thật đáng buồn khi thấy «con cái sự sáng» chậm trễ hơn «con cái thế gian» trong việc biết tự phê b́nh, tự lượng định một cách vô tư và nghiêm túc về phương pháp và kết quả sinh hoạt của ḿnh. Chúng ta thấy các chủ xí nghiệp biết mời những nhà chuyên môn đến nghiên cứu từ bên trong tất cả các bộ phận thuộc tổ chức của họ, để phát hiện ra những điểm yếu về kỹ thuật hay tâm lư, hầu chấn chỉnh lại tất cả những ǵ đang kềm hăm và cản trở khiến xí nghiệp không vận hành tốt đẹp được. Tôi biết rằng Giáo Hội không phải là một loại xă hội có thể đồng hoá với những xí nghiệp. Tuy vậy vẫn có những quy luật có giá trị cho bất kỳ cơ chế nào, bất kỳ nơi nào cần người ta cộng tác với nhau để thực hiện một mục tiêu đă định. Chấp nhận hay cỗ vũ sự phê phán là một phần quy luật trong cuộc sống của con người mà ta không thể bỏ qua được.

Giáo Hội c̣n có một lư do thường xuyên buộc phải đặt tự kiểm thảo trên b́nh diện tương quan phục vụ con người. Giáo Hội không phải là một xă hội như bất cứ xă hội nào khác. Sứ điệp Giáo Hội cưu mang và là lẽ sống cho chính ḿnh đ̣i buộc Giáo Hội nhất thiết phải thực thi đối với chính Giáo Hội cũng như đối với những người được Giáo Hội ngỏ lời.

Một trong những đặc trưng của Giáo Hội chính là: Giáo Hội trước tiên thể hiện nơi ḿnh như một «định chế-sứ điệp».

Là «định chế-sứ điệp» nên Giáo Hội là một xă hội thuộc loại đặc biệt. Sứ điệp th́ không hề thay đổi, nhưng định chế luôn phải phục vụ sứ điệp đó th́ cần phải chấp nhận những đổi thay cần thiết, do đó Giáo Hội như phải chuyển ḿnh. Cũng như  Con Người, Giáo Hội không có nơi tựa đầu: sự thao thức hướng về ngày cánh chung đ̣i Giáo Hội luôn kiên tŕ và canh tân cuộc lữ hành của ḿnh, nhưng không v́ vậy mà đặt vấn đề về những cấu trúc nền tảng, dứt khoát và h́nh thành nên ḿnh. Những cấu trúc này luôn tồn tại và hướng dẫn  cuộc hành tŕnh của Giáo Hội.

Một khi xác định được nền đất vững chắc dưới chân ḿnh rồi, Giáo Hội cởi mở đón nhận mọi phê phán xây dựng nhằm làm cho Giáo Hội ngày càng trung thành hơn với chính ḿnh, nghĩa là trung thành với Đức Giêsu.

Giáo Hội phải luôn luôn tự nh́n lại lịch sử của ḿnh và tự nh́n ngắm ḿnh trong tấm gương nguyên thủy để t́m lại «khuôn mặt từ thuở chào đời» của ḿnh để khỏi quên đi khuôn mặt ấy như lời khuyên của Thánh Giacôbê (Gc 1,23). Lịch sử Giáo Hội là trường dạy đức khiêm nhường cho tất cả chúng ta.

Nhưng lịch sử Giáo Hội cũng là trường dạy hy vọng. Nó dạy cho ta biết rằng những thời kỳ đảo điên nhất thường chuẩn bị cho những chặng đường bất ngờ.

Đón nhận tự do của Thánh Thần

Giáo Hội của Đức Kitô phải vâng phục chỉ một và cũng một Thánh Thần ấy trong mọi chiều kích. Là một xă hội hữu h́nh và tại thế, Giáo Hội hiển nhiên phải có luật lệ và có guồng máy. Giáo Hội không thể coi thường luật lệ, nhưng cũng phải cẩn thận để tránh rơi vào t́nh trạng câu nệ pháp lư hay vị lề luật. Bộ giáo luật luôn luôn cần được tham chiếu với Thánh Thần và được Thánh Thần cảm hứng. Hiển nhiên, Tin Mừng phải là luật tối thượng. Lời Chúa và Thánh Thần Đức Giêsu là nguyên lư tối cao hướng dẫn Giáo Hội, và mọi phẩm trật đều phải phục tùng Lời Chúa và Thánh Thần.

Sự nguy hiểm của t́nh trạng câu nệ pháp lư gia tăng mỗi lần quyền bính trung ương ở  tầm vóc thế giới lại đưa ra những luật lệ quá tỉ mỉ và cứng ngắc, có nguy cơ không phù hợp khi đem áp dụng vào những hoàn cảnh cụ thể hết sức khác biệt nhau. Giáo Hội bị cám dỗ rất mạnh là cứ muốn thống nhất Giáo Hội bằng những sắc lệnh hay luật lệ, và như thế là lẫn lộn giữa sự hiệp nhất và sự đồng dạng.

Đức Thượng Phụ Athénagoras mới đây đă cảnh báo Giáo Hội Chính Thống để tránh t́nh trạng câu nệ pháp lư:

«Chúng ta đă biến Giáo Hội thành một tổ chức như những tổ chức khác. Trước đây tất cả nỗ lực của chúng ta là thành lập nó, và nay th́ làm cho nó vận hành. Và nó tiến bước được một cách nào đó, có lẽ không hay cho lắm nhưng nó đang tiến bước. Tuy vậy nó bước đi như một bộ máy, chứ không phải như một cuộc sống.”

      Để kết luận chương này, tôi mời các bạn suy niệm một bản văn có nguồn gốc Chính thống giáo của Giáo Chủ Ignatios de Lattaquie, đă được đọc trong hội nghị đại kết các Giáo Hội tổ chức tại Upsal. Giáo Chủ Ignatios mời gọi chúng ta nh́n nhận quyền ưu thắng của Thánh Thần như là nguyên lư sống động của Giáo Hội:

     Không Thánh Thần, Thiên Chúa quả thực xa xôi.

     Đức Kitô ch́m quên trong quá khứ,

     Tin Mừng chỉ là văn tự chết khô.

     Giáo Hội có ǵ khác hơn tổ chức trần thế

     Quyền bính chỉ để cai trị .

     Truyền giáo là tuyên truyền.

     Phụng tự có khác chi đồng bóng,

     Và cuộc sống Kitô hữu èo ọt trong luân lư chủ-nô.

     Nhưng trong Thánh Thần :

     Vũ trụ vươn cao, rên siết v́ Nước Trời sinh hạ.

     Đức Kitô phục sinh cư ngự cơi người ta.

     Tin Mừng đổ tràn sức sống

     Giáo Hội thể hiện mối thông hiệp của Ba Ngôi

     Giáo quyền là phục vụ giải phóng

     Truyền giáo là một lễ Hiện Xuống

     Phụng vụ sống lại quá khứ và mở cửa tương lai

     Sinh hoạt của con người trở nên thần thiêng cao cả.