2. THỬ NGHIỆM VÀ CHỨNG NGHIỆM 

      Không phải chỉ có giới trẻ mới muốn «cảm nghiệm» Thiên Chúa. Niềm khao khát mơ hồ này đă ăn sâu trong trái tim con người.

      Người ta phản bác rằng t́nh trạng ấy hẳn xảy ra vào thời thánh Âu-Tinh. Thời ấy ngài có thể viết: «Lạy Chúa, Chúa đă tạo dựng chúng con để hướng về Chúa, và tâm hồn chúng con khắc khoải măi cho đến khi được nghỉ an trong Chúa». Chứ hôm nay, thế giới tục hóa và chủ hướng của khoa học đă khai trừ Thiên Chúa, xem đấy như một giả thiết vô ích. Khoa học đă loại Thiên Chúa ra khỏi lănh vực kinh nghiệm có thể kiểm chứng (= thử nghiệm). Con người hiện đại cho rằng chỉ có những ǵ kiểm chứng được mới đúng là sự thật : “ chân lư nay là kiểm nghiệm” . Thiên Chúa nằm nơi nào tại các bài tính trong máy điện tử  của chúng ta ngày nay?

      Bằng những ḍng sau đây, Jean Mouroux mô tả rất rơ bầu khí của thời đại:

 « ... Vả lại, tâm thức hiện đại càng làm cho vấn đề này khẩn thiết hơn bao giờ hết. Thời nay là thời thử nghiệm ngự trị, v́ đó là thời đại của các cuộc kinh nghiệm. Con người biến đổi vũ trụ, nắm được sự sống trong tay, nghiền nát không thương tiếc chất “người” của ḿnh, sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật kỳ dị chưa từng có, truy t́m hứng cảm tâm linh theo đủ mọi hướng, bạo lực, hỗn loạn, đồi bại, tất cả những thứ ấy d́m chúng ta vào một đống chứng nghiệm tạp nham. Và khi con người hiện đại quay về với Kitô giáo chính là để hỏi tôn giáo này: “Mi có thể mang lại cho ta chứng nghiệm quí báu nào?”»

      Để trả lời câu hỏi này, không nên quên rằng chữ «kinh nghiệm» có thể áp dụng cho nhiều thực tế khác nhau. Các triết gia phân biệt chứng nghiệm (expérientiel) và thử nghiệm (expérimental).

      Thuật ngữ «chứng nghiệm» muốn nói đến một tri giác sống động, một nhận thức về cái cụ thể, không nên lẫn lộn từ này với thành ngữ “thử nghiệm” trong các pḥng thí nghiệm. Kinh nghiệm về Thiên Chúa thuộc trật tự chứng nghiệm, trật tự này không mâu thuan với trật tự thử nghiệm nhưng siêu vượt lên trên và nằm trên một b́nh diện khác.

      Cám dỗ căn đế của người theo chủ nghĩa duy khoa học là giản lược cái thật vào những ǵ nắm bắt được bằng phương pháp tiếp cận riêng và giới hạn của khoa học, và quên rằng một số thực tại vượt khỏi tầm của dao mổ và viễn vọng kính. Những nhà thông thái đích thực – thường rất khiêm tốn về mặt khoa học – đều biết rơ điều này.

      Nhiều người chứng thực rằng đức tin của họ được nâng đỡ nhờ một chứng nghiệm mà họ trải qua trong cuộc sống, và đức tin họ càng trưởng thành th́ Thiên Chúa càng hành động cách cụ thể và tích cực hơn trong sinh hoạt hàng ngày của họ.

      Chúng ta chẳng cần đưa ra đây nhiều thứ chứng từ làm ǵ, chỉ cần thấy được điểm đồng quy của những chứng từ đó. Đối với họ, cũng như đối với chúng ta, đức tin thường được sống, được lănh nhận rồi mới trở thành công thức. Và nhờ chứng nghiệm về Thiên Chúa, ta thật sự ư thức về đức tin, và đức tin từ từ bám rễ trong cuộc sống chúng ta.

      Muốn đi sâu vào các bí mật của thiên nhiên, cần có những dụng cụ tối hảo và chính xác. Cũng vậy, muốn đi sâu vào các bí mật về sự hiện diện ẩn kín của Thiên Chúa nơi chúng ta và trong lịch sử nhân loại, cần có một năng lực vượt trên sức lực riêng của chúng ta, một thứ ánh sáng xuyên thấu thế giới vô h́nh nhờ những tia sáng nhạy cảm hơn tia hồng ngoại của chúng ta. Quyền năng ấy, ánh sáng ấy chính là Thánh Thần, «Đấng duy nhất thăm ḍ được chiều sâu của Thiên Chúa». Sứ mạng của Thánh Thần không phải là tự mặc khải ḿnh mà là mặc khải Đức Giêsu, Con duy nhất của Thiên Chúa. Nơi mỗi Kitô hữu, Thánh Thần luôn trung thành với sứ mạng ấy của Ngài. Như một ánh sáng từ bên trong, Ngài từng bước đồng hành với chúng ta trong hành tŕnh đức tin. Nắm bắt được hành động của Thiên Chúa và gặp gỡ Ngài thường không chỉ là một chứng nghiệm đơn giản như bao chứng nghiệm khác. Đó là một chứng nghiệm cần được giải thích bằng đức tin. Một chứng nghiệm mà thiếu đức tin th́ không thể là một chứng nghiệm về Thiên Chúa. Nếu không có Thánh Thần, không ai nói được rằng «Đức Giêsu là Chúa» (1Cr 12,3).