Đọc tông thư "Về hi vọng ki-tô giáo"
của giáo chủ Biển-đức 16
Phạm Hồng-Lam
Năm trước, khi giới thiệu Thông điệp đầu tiên của ḿnh (Deus Caritas est - Thiên
Chúa là T́nh yêu), giáo chủ Biển-đức XVI đă mời độc giả bước lên con tàu không
gian, mà thi sĩ Dante (1265-1321) người Í đă mô tả trong tập trường thi Divina
Comedia của ông, để cùng làm một chuyến du hành vũ trụ. Đi măi, đi măi, xuyên
hết mọi hành tinh, cuối cùng con người sẽ gặp một “Nguồn Sáng bất tận, vô biên”.
Nguồn sáng đó, người Ai-cập xưa có lúc gọi là thần Mặt Trời, người Hi-lạp bảo là
Lửa. Mà dù với tên gọi nào đi nữa, th́ Nguồn Sáng đó là “nguyên lí nền tảng” làm
chuyển động và tạo nên sự sống cho vũ trụ. Và Dante gọi Nguồn Sáng đó là Thiên
Chúa. Hơn một ngàn năm trước đó, tác giả Tin Mừng Gio-an lại gọi đó là T́nh Yêu:
“Thiên Chúa là T́nh Yêu” (1 Yo 4, 16). Ki-tô hữu từ hai ngàn năm nay xác tín
rằng, T́nh yêu Thiên Chúa chính là khởi nguồn của vũ trụ và sự sống.
Hôm nay, để giới thiệu Tông thư thứ hai “Spe Salvi - Hi vọng ki-tô giáo” của
Giáo chủ, tôi cũng muốn mời độc giả làm một cuộc viễn hành khác, bằng chuyến xe
lửa kinh dị của nhà văn Friedrich Dürrenmatt. Dürrenmatt kể trong chuyện “Der
Tunnel - Đường hầm”: Đoàn tàu đi vào một đường hầm. Hành khách trên tàu cứ tưởng
đó cũng là một đường hầm như bao đường hầm khác. Có vào th́ có ra. Nhưng chuyến
vượt hầm cứ kéo dài măi. Tốc độ con tàu càng lúc càng tăng. Hành khách bắt đầu
đâm lo, rồi hoảng. Cuối cùng, một hành khách lấy được b́nh tĩnh, men lần tới
phía đầu pḥng lái. Pḥng lái trống không! Và qua màn kính, người đó thấy con
tàu cứ lao vun vút vào một vực thẳm tối đen, hun hút, kinh hoàng… Chuyện chấm
dứt. Dĩ nhiên, có thể hiểu Dürrenmatt muốn dùng câu chuyện để nói lên hoàn cảnh
“không người lái” của thế giới trong thời hiện đại, đặc biệt kể từ khi Friedrich
Nietzsche hân hoan loan báo đă giết Thiên Chúa.
Nhưng, ta hăy trở lại chuyện con tàu. Hoạt cảnh sau đây là của người viết bài
này. Khi hay biết cơ sự, trên tàu hoảng loạn, diễn ra cảnh thiên đàng lẫn địa
ngục. Có vài hành khách trai trẻ, đầu chít vội mảnh khăn xanh, quấn bom vào ḿnh
lao vào những nhóm hành khách khác, nổ tung. Họ cho rằng v́ tội lỗi của những
đám vô đạo kia nên mới ra cơ sự. Phải giết chúng để ḿnh được cứu rỗi. Ở những
toa khác, trong cơn nguy khốn chờ chết, người ta mỗi người rút vào một góc,
trong số đó có cả những tên cướp đă vứt đao, tịnh tâm mong kịp thời c̣n cởi bỏ
được mọi ham muốn phàm trần, để nhẹ gánh vào kiếp luân hồi. Chẳng mấy ai trong
họ tin có thể đạt tới vô thường, nhưng viễn ảnh vào một t́nh trạng bớt khổ hơn ở
kiếp khác cũng làm họ an tâm đôi chút trong giờ phút lâm tử. Trong khi đó, một
số tay chuyên nghề trấn lột chạy đôn đáo hết toa này sang toa kia t́m khổ chủ để
xin lỗi và trả lại những ǵ đă bị cướp giựt, v́ biết rằng trước sau ǵ cũng phải
trả lẽ công lí trước toà án sau cùng. Một số hành khách mắt xanh mũi cao th́ lại
hốt hoảng chạy t́m giải thoát nơi các tín ngưỡng của các dân tộc sơ khai, v́ họ
đổ cho rằng, Thiên Chúa giáo với những giáo huấn về tội, thiên đàng, hoả ngục,
ngày phán xét… đă cướp mất cái hồn nhiên ban đầu của con người và khiến họ lo sợ
trước cái chết. Và họ cũng đă thấy trong một đôi toa người ta đang hoảng hốt cắt
cổ mổ bụng những thiếu niên nam nữ xinh đẹp nhất để làm tế vật xoa dịu cơn thịnh
nộ của thần chết. Và, đó đây trong một vài toa, vẳng lên trong không khí ngột
ngạt tiếng ca: “Dầu tôi đi qua thung lũng tối đầy hiểm nguy, tôi vẫn không sợ
ǵ, v́ có Chúa ở bên tôi… Cây trượng và cây gậy Chúa đỡ tôi, khiến tôi an ḷng…”
Người ta thấy những nhóm hành khách, không đông, quây quần bên nhau vui vẻ ca
hát và cầu chúc nhau ra đi b́nh an. Như chẳng có chuyện ǵ đang xẩy ra.
Chẳng nói, độc giả cũng thấy có hai h́nh ảnh trong hoạt cảnh trên nói lên ít
nhiều thái độ và hành động của ki-tô hữu. Thái độ b́nh thản ca hát, v́ tin tưởng
và hi vọng vào sự quan pḥng của Chúa. Thái độ hồi tâm quy chánh, v́ nghĩ tới
công lí và hồng ân của ngày phán xét. Tắt lại, v́ có Chúa, nên ki-tô hữu sống
“không vô vọng như những người khác.” V́ tin và hi vọng vào Chúa, nên ki-tô hữu
không hốt hoảng, trái lại b́nh tâm vui vẻ đón chờ cái chết. Họ biết, họ đă sống
một cuộc đời có í nghĩa, nên nắm chắc cuộc sống của họ sẽ không kết thúc trong
hư vô. Họ tin rằng, nếu thật t́nh sống theo lời Chúa, cuối cùng th́ họ cũng được
đưa vào Nguồn Sáng bất diệt trên kia, và được ở lại vĩnh viễn (sống đời đời)
trong T́nh Yêu sự sống đó.
Nếu chỉ muốn tóm tắt Tông thư của Giáo chủ, th́ chúng ta có thể kết thúc ở đây.
V́ tất cả chỉ có thế. Giáo chủ Biển-đức chỉ muốn nói lên điều này: Con người
sống giữa đời cần có hi vọng, từ những hi vọng cỏn con thường ngày đến những hi
vọng lớn hơn trong nghề nghiệp, t́nh yêu, gia đ́nh… Hi vọng là những chiếc
thuyền chở tôi băng qua đồi núi, thác ghềnh cuộc đời. Hay nói như giáo chủ
Biển-đức, hi vọng là cái “ẩn số không biết mà biết” đẩy ta đi tới. Mỗi hi vọng
đáp ứng một nhu cầu cá biệt. Nhưng có một hi vọng chung nhất, rốt ráo nhất, hầu
như ai cũng đặt ra cho ḿnh, khi đối diện với cuộc sinh tử: Làm sao để đời tôi
được viên măn hạnh phúc? Hay nói theo ngôn ngữ ki-tô giáo, làm sao tôi đạt được
“sự sống đời đời”, đạt tới “cứu độ”? Chỉ có Thiên Chúa, ḱ cùng ra, mới giúp tôi
đạt đến được hi vọng đó, chứ chẳng phải là khoa học, hay lí trí hay cái gọi là
“xă hội chủ nghĩa khoa học”, mà con người một thời tin theo và đă thất vọng.
Lược qua vài điểm nội dung Tông thư
Nhưng, như đầu bài gợi í, tôi muốn mời độc giả cùng đọc Thông thư, để cùng t́m
hiểu và nhắc nhở nhau về cái kho tàng nền tảng thứ hai (sau Deus caritas est)
cuả Ki-tô giáo, mà giáo chủ Biển-đức đă mở ra cho chúng ta trong dịp mùa vọng –
mùa của hi vọng – vừa qua.
Trong một buổi chuyện tṛ, một trí thức xă hội chủ nghĩa đă lớn tuổi hỏi tôi:
Thưa anh, Kinh Thánh Thiên Chúa giáo viết ǵ trong đó, anh có thể tóm tắt cho
tôi hiểu được không? Thật t́nh vị này muốn t́m hiểu đạo. Tôi lúc đó đă không
biết phải trả lời như thế nào, phải bắt đầu từ đâu với một cuốn sách cả ngàn
trang, bàn hết chuyện trên trời dưới đất, kéo dài cả nhiều ngàn năm. Làm sao có
thể tóm gọn được nội dung!
Nhưng sau khi đọc được Spe Salvi, tôi thấy câu trả lời chẳng c̣n khó khăn. Toàn
bộ Kinh Thánh, nói theo giáo chủ Biển-đức, được tóm lại trong chữ Tin. Tâm điểm
của vấn đề là Tin. Mà Tin, theo như Kinh Thánh hiểu và Giáo hội sơ khai minh
chứng, cũng đồng nghĩa với Hi vọng. “Tin là bản chất (nền tảng/ bảo chứng) của
điều ta hi vọng, là bằng chứng của những ǵ ta không trông thấy” (Rom 11,1).
Tiếng Đức có hai từ để dịch chữ la-tinh “Fides” (đức tin): Glauben (tin) và
Vertrauen (phó thác, cậy trông). Tin là Hi vọng. Đức tin mở ra cánh cửa Hi vọng.
Và Hi vọng dẫn ta tới hành động, làm đổi đời ta. “Để mở rộng kiến thức, cần khoa
học tự nhiên, nhưng để hành động, phải cần đức tin”, Max Planck (1858-1947) nhà
vật lí cha đẻ thuyết lượng tử (Quantentheorie) nổi tiếng của Đức đă khẳng định
như thế. Hi vọng mở ra một tương lai cho ta vươn tới. V́ thế, cuộc đời của người
theo Chúa có hậu, chứ không vô vọng “như những người khác v́ không có Chúa…” Nhờ
gặp Chúa, tin vào Chúa, mà ki-tô hữu có một cuộc sống khác, đời họ đổi khác.
Trải dài trong lịch sử ki-tô giáo có vô số bằng chứng nói lên điều đó. Không cứ
ǵ ở Rô-ma cổ, mà cả ở Kẻ Chợ, đâu đâu dân ngoại cũng trầm trồ ngỡ ngàng về
“những kẻ theo đạo yêu thương”. Đạo ǵ mà quả lạ, chưa gặp nhau mà họ đă yêu
nhau rồi! Nh́n vào những tấm gương mới hơn: một An-tịnh (Augustinus), một I-nhă
ở Loyola, một Phan-sinh ở Assisi, một Tê-rê-xa ở Calcutta… Trác táng hay khó
tính đến đâu đi nữa, sau khi gặp Chúa, đời họ chuyển hướng. Hay như tấm gương
thánh Bakhita, mà giáo chủ Gio-an Phao-lô mới đưa lên bàn thánh, và đă được giáo
chủ Biển-đức nêu danh trong Tông thư. Bakhita là một cô gái nô lệ ở Sudan, bị
người ta năm lần bảy lượt mang ra chợ trời bán và đánh đập tàn nhẫn (với tổng
cộng 144 vết thẹo trên ḿnh). Cuối cùng về làm nô lệ cho một công chức, và ông
này đă mang cô về Í để hầu hạ gia đ́nh ông. Ở đây, cô đă gặp được ông Chủ lí
tưởng của cô, đó là “Chủ” Giê-su, và từ đó đời cô biến đổi hoàn toàn. Thành một
nữ tu hết ḷng phục vụ cộng đoàn và không ngừng đi khắp đây đó để loan báo cho
mọi người hay về cuộc đổi đời và về ông Chủ mới của ḿnh.
Biến chuyển trong thời mới
Khi nh́n lại quá tŕnh lịch sử trong mấy trăm năm gần đây, ta thấy đức tin / hi
vọng ki-tô giáo bị ảnh hưởng nặng nề bởi Thời mới (từ thế kỉ 16 trở đi). Đấy là
thời mở màn Tiến bộ khoa học với hai hậu cảnh lớn là Lí trí và Tự do. Thời mới
đă ảnh hưởng lên Hi vọng ki-tô giáo trên hai mặt. Nó làm thay đổi mục tiêu của
Hi vọng, và đẩy Đức tin vào ṿng cá nhân.
- Thay đổi mục tiêu Hi vọng: Cho tới lúc này, con người đặt hết hi vọng vào
Thiên Chúa qua đức Ki-tô. Ngài sẽ “cứu độ” họ, bằng cách giúp họ lấy lại được
những ǵ đă mất khi bị đuổi khỏi vườn địa đàng. Ngài sẽ mở cánh cửa hạnh phúc
đời đời của “Vương quốc Thiên Chúa”, để con người bước vào. Cuộc sống viên măn
là đó. Hạnh phúc tràn đầy là đó. Ơn cứu độ là đó. Chính Chúa là kẻ sẽ trao cho
họ ch́a khoá hạnh phúc, cuộc sống đời đời.
Nhưng tiến bộ không ngừng gia tăng của khoa học đă làm choá mắt con người. Tiến
bộ khoa học dựa trên nền tảng khám phá ra các quy luật thiên nhiên. Và với những
khám phá đó, con người nghĩ rằng ḿnh đă lấy lại được địa vị bá chủ trên tạo vật
của ḿnh, cái địa vị uyên nguyên mà họ đă có khi c̣n trong địa đàng. Như vậy,
th́ tôi mới là chủ thật, chứ cần ǵ “cái giả thuyết Thiên Chúa” (Laplace) kia
nữa. Với sức người, sỏi đá cũng thành cơm mà. Như thế, th́ cần ǵ cái “Vương
quốc Thiên Chúa” xa xôi nào nữa. Hi vọng vào Chúa giờ đây chuyển sang hi vọng
vào Tiến bộ khoa học. Mà Tiến bộ khoa học cũng đồng nghĩa với khả năng bá chủ
của Lí trí. Và, tôn thờ Lí trí cũng có nghĩa là phải chống lại mọi trói buộc của
tôn giáo, đồng thời phải đ̣i cho con người được Tự do vô giới hạn. Con người giờ
đây là tối cao. Nó tự đặt ra chân lí cho nó. Nó tự tạo công lí cho nó. Nó sẽ tự
cứu độ nó, chẳng cần phải ai giúp. Và lịch sử kinh hoàng của thế kỉ 20 với hai
trận thế chiến, với các chủ nghĩa cộng sản và phát xít, độc tài cực đoan cho
thấy con tàu không người lái đă đưa nhân loại về đâu. V́ khi không c̣n Thiên
Chúa cầm lái nữa, th́ chỉ c̣n luật kẻ mạnh, mọi người có quyền tự do làm điều
ḿnh muốn. Hitler, Mussolini, Franco, Lenin, Stalin, Mao, Hồ, Polpot, cha con
Kim Nhật Thành, Adi Amin, Taylor … đă hành xử cái tự do chính đáng của họ.
- Cá nhân hoá đức tin : Đă có Vương quốc con người, không cần ǵ hi vọng cứu rỗi
nơi «Vương quốc Thiên Chúa » nữa. Thời mới và khoa học thật ra không (thể) triệt
tiêu Thiên Chúa. Nhưng trước sức ép vũ băo của chúng, Ki-tô giáo đành bảo nhau
mang Hi vọng rút vào sân sau cá nhân cố thủ. V́ vậy, càng ngày nó càng bị chỉ
trích mạnh mẽ. Người ta bảo rằng, Hi vọng ki-tô giáo là thứ thuần tuư cá nhân
chủ nghĩa, nó giúp con người chạy trốn khỏi thế giới đầy bất hạnh, để đi t́m cứu
rỗi cho riêng ḿnh. Karl Marx đă điểm được yếu huyệt này, nên đă cổ vũ một cuộc
cứu độ tập thể. Ngọn cờ tập thể này đă mê hoặc bao nhiêu thế hệ trong thế kỉ 20,
đặc biệt nơi giới gọi là trí thức. Nhưng cứu độ của ông không bằng phương tiện
T́nh yêu (như Ki-tô giáo chủ trương), mà bằng con đường chém giết, bằng những
cuộc cách mạng long trời lở đất. Nhân danh tập thể, ông coi con người cá nhân là
thứ rác rưởi, dùng làm nhiên liệu cho cỗ máy cách mạng. Và lịch sử đă cho thấy
chủ trương cứu rỗi tập thể và Vương quốc con người hoang tưởng do Marx và hậu
duệ của ông hô hào thiết lập đă đi về đâu.
Tóm lại, để giải quyết cái khủng hoảng không người lái hiện tại của thế giới,
theo giáo chủ Biển-đức, một đàng Thời mới phải tự kiểm điểm, bằng qua đối thoại
với Ki-tô giáo và bằng cách t́m hiểu khái niệm Hi vọng của nó; đàng khác Ki-tô
giáo cũng phải tự xét lại ḿnh. Ki-tô giáo phải tự hỏi, đâu là nội dung Hi vọng
thực sự của ḿnh, và Hi vọng đó có thể và không có thể mang lại ơn ích ǵ cho
thế giới? C̣n Thời mới sẽ phải tự hỏi, đâu là thực chất của Tiến bộ, nó hứa hẹn
ǵ và không hứa hẹn ǵ? Bởi v́, nếu Tiến bộ kĩ thuật không đi đôi với sự tăng
trưởng đạo đức, th́ nó sẽ chẳng phải là tiến bộ, mà là mối đe doạ cho nhân loại
và thế giới, như ta đă và đang thấy. Thời mới cũng phải hỏi, đâu là biên giới
của Lí trí và Tự do:
« Phải chăng thứ lí trí giúp mở rộng khả năng thể chất của ta và giúp ta hành
động đă là toàn bộ lí trí? Nếu tiến bộ đ̣i hỏi sự gia tăng đạo đức của nhân
loại, th́ loại tiến bộ về khả năng và hành động cũng nhất thiết phải được bổ
túc, bằng cách nó phải mở ra cho lực cứu độ của đức tin và cho sự phân biệt tốt
xấu. Chỉ có như thế, nó mới là lí trí con người đích thực. Để được gọi là lí trí
con người, lí trí đó phải có khả năng hướng đạo cho í muốn; và để làm được điều
này, lí trí đó dứt khoát phải vượt lên trên chính nó. Nếu không, th́ với t́nh
trạng mất thăng bằng giữa một bên là khả năng thể chất và bên kia là thiếu phán
đoán của con tim, con người sẽ trở thành mối đe doạ cho chính ḿnh và cho tạo
vật. Về “tự do” cũng vậy. Ta phải nhớ rằng, tự do con người luôn đ̣i hỏi một sự
song hành của nhiều tự do. [Tự do cũng có nghĩa là tự do làm điều xấu] Nhưng,
không thể có được sự song hành này, nếu như các tự do đó không được chỉ đạo bằng
một khuôn thước nội tâm chung, và khuôn thước này là nền tảng và là mục tiêu tự
do của chúng ta. » (23)
Môi trường học hỏi và đào luyện Hi vọng.
Tông thư gồm 50 đoạn, nội dung tương đối ngắn (bản dịch Việt ngữ có thể lấy
xuống từ www.liendoi.net), nhưng trọng lượng khá nặng, v́ sự súc tích và chiều
sâu kiến thức của nó. 31 đoạn đầu bàn về lí thuyết, mà chúng ta đă lược qua một
vài điểm trọng yếu trên đây. Đoạn 32 tới 48 tŕnh bày phần thực hành Hi vọng.
Hai đoạn cuối là một bài ca tuyệt đẹp về Mẹ Maria như là mẫu gương Hi vọng.
Về môi trường học tập và thực hành Hi vọng, Giáo chủ kể ra ba : Cầu nguyện, Hành
động và khổ đau, Cuộc phán xét.
Cầu nguyện là môi trường căn bản đầu tiên để luyện tập và thực hành đức tin. Đó
là nhựa sống từ ḷng đất thân cây hút vào để nuôi sống ḿnh. Trong mục này, Giáo
chủ nhắc tới gương cầu nguyện của cố hồng i Nguyễn Văn Thuận. Trải qua 13 năm
tù, trong đó 9 năm biệt giam, cầu nguyện đă trở thành nguồn Hi vọng sống sót của
ngài, mà ngài đă gọi đó là « Đường Hi Vọng ». Trong cầu nguyện, ta không c̣n cô
đơn. Nỗi cô đơn của ta (Solatio), đă có một kẻ khác cùng hiện diện trong đó và
được chia sẻ (Cum / Con): Con-solatio. Con đường hi vọng đó giúp tôi vươn tới,
vượt lên trên cả những o ép và đày đoạ của quyền lực chính trị. Nó giúp tôi chấp
nhận và vượt thắng khổ đau, v́ tôi hiểu rằng đau khổ đó làm cho đời tôi có í
nghĩa. Về điểm này, Giáo chủ lại nhắc tới gương một người Việt khác, đó là thánh
tử đạo Lê Bảo Tịnh (+1857). Trong lao tù, giữa cô đơn, đày đoạ, cực h́nh, và
hàng ngày phải chứng kiến bao cảnh phạm thượng, nhờ sức mạnh hi vọng từ đức tin,
thánh nhân đă chuyển hoá đau khổ thành ra những bài ca hi vọng bất tận: Lượng từ
bi Chúa tồn tại tới muôn đời! «Giữa cơn phong ba băo táp, tôi thả neo lên tận
ngai Chúa; chính Ngài là niềm hi vọng sống măi trong ḷng tôi », thánh Tịnh đă
kết thúc chứng từ của ḿnh với niềm tác tín đó.
Trong kho tàng Hi vọng của Giáo hội, thiếu ǵ và có biết bao tấm gương c̣n lớn
hơn. Nhưng giáo chủ Biển-đức đă đưa ra những tấm gương từ hai miền đất thế giới
hiện đang phải trải qua hoàn cảnh nghiệt ngă. Sudan, từ nhiều năm nay, là vùng
đất của bạo lực và máu, của những tiếng gào thất thanh của hàng triệu người dân
tị nạn vô tội. Hồ sơ Nguyễn Văn Lư và con đường thánh giá của cố hồng i Thuận
cũng như của Giáo hội Việt-nam cũng chẳng xa lạ ǵ đối với giáo chủ Biển-đức. Ở
đây, tôi không có í « chính trị hoá » lá thư mục vụ của ngài. Nhưng việc ngài
nêu tên hai địa danh đó lúc này không phải là không có nghĩa. Ngài muốn chia sẻ
khổ đau đặc biệt với hai dân tộc qua lời nguyện hi vọng, và hơn thế, đó cũng là
lời động viên gởi đến đồng đạo của ngài. Tôi nghĩ, các cộng đoàn, tổ chức công
giáo người Việt nên viết cho ngài đôi lời cám ơn về niềm ưu ái đó. Đấy là hành
động biết ơn cụ thể. Đừng để lá thư tâm huyết hữu ích của ngài ch́m đi như không
có ǵ cả. Hồng i Karl Lehmann, chủ tịch Hội đồng giám mục Đức, hôm họp báo giới
thiệu Tông thư, đă thay mặt Giáo hội Đức cám ơn giáo chủ Biển-đức đă cho họ một
bài văn hay, một tài liệu bổ ích cho việc sống mùa Vọng.
Trở lại với Hi vọng và đau khổ. Cầu nguyện và Hi vọng là sự cọ xát tẩy sạch con
người tôi, để tôi có thể mở ḷng ra cho Chúa và tha nhân. Hi vọng chở tôi băng
qua mọi thác ghềng cuộc đời, v́ tôi biết rằng đàng kia có người đang yêu tôi,
đang sẵn sàng đồng hành với tôi trên con đường lữ thứ và đang đón chờ tôi nơi
điểm hẹn. Và như thế, Hi vọng đẩy tôi dấn thân hành động, góp phần đổi mới thế
giới, góp tay vào việc làm giảm bớt khổ đau cho thế giới, nhất là cho những
người vô tội.
Cuối cùng, toà phán xét cũng là cơ hội để ta Hi vọng. Thiên Chúa không chỉ là
T́nh yêu, mà Ngài c̣n là Công lí. Và toà phán xét là nơi công lí của Ngài sẽ thể
hiện. V́ rằng, nếu chỉ là T́nh yêu hay Hồng ân mà thôi, th́ tôi lo ǵ với điều
đánh cuộc của Pascal , và như thế Chúa sẽ mắc ta món nợ công lí. Tôi cứ mặc sức
ăn chơi, tự do làm điều xấu, v́ cuối cùng rồi th́ lượng hồng ân bao la của Chúa
cũng sẽ thứ tha, xoá sạch tội của tôi. Nhưng Thiên Chúa không chỉ là Hồng ân. Và
hồng ân của Ngài không biến sự ác thành công lí. Kẻ bất lương không thể cuối
cùng ngồi chung bàn tiệc với nạn nhân của nó. Nhưng nơi toà án của Chúa có cả
hồng ân lẫn công lí, và hồng ân đó luôn đủ lớn để ta bất cứ giờ phút lịch sử nào
của đời ḿnh cũng có thể trở về cậy trông và hi vọng vào nó.
Tôi không có kết luận cho bài này, v́ không đủ khả năng để nhận định hay phê
b́nh. Mà chỉ muốn mở ra đôi điều về cuộc hành tŕnh tư tưởng của giáo chủ
Biển-đức XVI. Chúng ta đang ở trong một thời đại khủng hoảng Hi vọng (Đức tin).
Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ Thời mới ở Âu châu, với sự Tiến bộ của khoa
học và với việc đề cao tuyệt đối Lí trí. Và khủng hoảng ki-tô giáo cũng là khủng
hoảng của văn hoá văn minh âu châu. Mục tiêu của giáo chủ Biển-đức là làm sao để
thế giới thoát ra cơn khủng hoảng này. Ngài đưa ra hai phương thuốc :
Thời mới phải đặt lại vấn đề niềm tin mù quáng vào Tiến bộ khoa học và vào Lí
trí của ḿnh. Lịch sử thế giới, được xây trên niềm tin đó, hơn một trăm năm qua
với bao kinh hoàng và vực thẳm đă đủ để Thời mới phải đặt lại vấn đề. Nếu cứ
tiếp tục chấp nhận t́nh trạng không người lái, chắc chắn con tàu sẽ đưa nhân
loại vào những kinh hoàng vô lường khác. Đây là một đ̣i hỏi sống chết của
Biển-đức; một mặt trận mà ngài đă mở ra từ ngày c̣n là một giáo sư đại học.
Phía Ki-tô giáo cũng phải xét lại ḿnh. Xét ḿnh để t́m lại đâu là bản chất đích
thực của ḿnh. Đâu là lí do làm cạn kiệt sức sống và hiệu năng vốn có của ḿnh,
khiến ḿnh phải rút lui vào thế thủ. Trong quá tŕnh hai ngàn năm, Ki-tô giáo đă
v́ hoàn cảnh hoặc v́ ḷng người chất chứa lên con tàu khí cầu của ḿnh qúa nhiều
thứ, khiến nó nặng nề không bay bổng lên được. Phải xem lại hành lí, lọc lựa ra
cái ǵ là bản chất để làm hành trang lên đường. Hăy « Verwesentlichung » (bản
chất hoá, t́m cái cốt tuỷ, một từ mà nhà thần học Ratzinger tâm đắc) Giáo hội.
Với nhận thức này, với « Spe Salvi » về ḷng Cậy tiếp theo « Deus caritas est »
về ḷng Mến, giáo chủ Biển-đức đă đưa ra cho chúng ta hai nét bản sắc tuyệt đẹp
của Ki-tô giáo, những thứ mà, nếu xét cho ḱ cùng, không một tôn giáo nào khác
có thể cung ứng cho ta được.
Nắm được sợi chỉ đỏ trên, ta sẽ hiểu rơ hơn về hành tŕnh tư tưởng đă, đang và
sẽ tới của Giáo chủ.
Augsburg, ngày 10.01.2008